Cỡ đạn: 7.5 x 54 mm
Trọng lượng: 3.7 kg (không có gắp đạn)
Chiều dài: 1020 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853.6 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 270 m – 450 m
Băng đạn: 5 viên đạn
Súng tiểu liên Thompson, M1928, Mỹ chế tạo
--
Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 4.9 kg (kiểu M128A1), 4.8 kg (kiểu M1A1)
Chiều dài: 850 mm (kiểu M128A1), 810 mm (kiểu M1A1)
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 285 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 50 m.
Tốc độ bắn: 500 – 1500 phát/phút (tùy theo kiểu)
Băng đạn:
Băng đạn 20 viên
Băng đạn 30 viên
Băng đạn tròn 50 viên
Băng đạo tròn 100 viên
Đạn của súng Thompson
Súng tiểu liên Thompson được sáng chế bởi viên tướng Mỹ John T.
Thompson. Trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, quân Anh, Pháp và quân Đức gìm
nhau tại chiến lũy Magino. Hai bên đào công sự dài hàng chục cây số để
phòng thủ cho phần đất của mình. Thỉnh thoảng một bên xung phong qua
phía bên kia bắn vào quân sĩ địch đang núp dưới hầm. Ông Thompson nảy ra
ý kiến là nên có khẩu súng bắn liên thanh, vãi đạn ra thật nhiều để
quét vào binh sĩ địch đang núp thành hàng dài dưới hầm thì sẽ giết được
nhiều quân địch hơn là dùng súng bắn phát một. Vì thế ông nghĩ ra khẩu
tiểu liên này. Nhưng khẩu súng này chưa làm xong thì Thế Chiến 1 đã chấm
dứt. Sau đó, súng này vẫn được phát triển thêm và được sử dụng trong
Thế Chiến thứ 2 và những năm sau Thế Chiến thứ 2.
John Thompson, cha đẻ của tiểu liên Thompson, hình chụp năm 1921
Khẩu tiểu liên Thompson cũng được dân anh chị băng đảng tội phạm
Mafia ở Mỹ ưa chuộng vì sự lợi hại bắn được nhiều đạn. Một băng đạn súng
Thompson có thể chứa đến 30 viên nếu là băng thẳng, nếu dùng hộp tròn
thì có thể chứa đến 100 viên. Dùng súng này tưới đạn vào địch thủ đang
ngồi trong xe hơi hay đang ngồi trong nhà thì khả năng giết kẻ địch rất
là cao. Dân giang hồ Mỹ gọi đây là khẩu Tomy Gun, Tomy là chữ gọi chệch
ra từ chữ Thompson.
Trong chiến tranh chống Pháp, cả hai bên Pháp và Việt đều có sử dụng
súng này. Pháp được Mỹ viện trợ cho súng này còn Việt Minh thì tịch thu
được của Pháp để dùng. Sau này, khi Pháp rút đi thì các súng Thompson
được để lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam.
Súng Thompson có lợi điểm là mang nhiều đạn và ít bị kẹt đạn. Khuyết
điểm của súng là vì đạn 12 mm nên sức giật rất mạnh. Người bắn bị giật
mạnh nên khó nhắm chính xác. Một nhược điểm nữa là đầu đạn tròn và tầm
bắn không xa. Nếu bắn từ xa thì không xuyên thủng được mũ sắt hoặc xe
cộ. Một số tay anh chị Mỹ thấy khẩu Thompson chưa đủ mạnh nên sử dụng
súng trung liên Browning M1918 vì đạn súng này có sức xuyên phá mạnh, có
thể xuyên thủng xe hơi từ xa.
Súng lục Ru lô (rouleau) .38, Mỹ chế tạo
Cỡ đạn: .38 Special, 9.6 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 250 m/s – 300 m/s
Súng gồm sáu viên đạn đựng trong ổ đạn quay tròn. Ổ đạn này tiếng
Pháp gọi là rouleau, đọc là ru lô, nên thường được gọi là súng ru lô. Vì
cỡ đạn là .38 caliber nên cũng thường được gọi là súng lục 38. Vì súng
có sáu viên đạn nên loại súng ngắn này được gọi là súng lục (lục là sáu,
tiếng Hán Việt).
Khi muốn nạp đạn thì đẩy chốt bên trái, ổ đạn tròn có sáu lỗ tròn sẽ
bật sang bên trái . Sáu viên đạn được nạp vào sáu lỗ. Sau khi đã nạp đạn
thì đẩy ổ đạn vào bên trong súng. Khi bắn thì bật cò phía sau lên rồi
bóp cò. Đầu cò sẽ mổ vào viên đạn nằm ngay trước nòng súng. Sau khi viên
đạn bắn đi thì ổ đạn tròn sẽ quay qua một nấc để viên đạn kế tiếp vào
nằm ngay trước nòng súng. Người bắn tiếp tục bóp cò để bắn viên đạn kế
tiếp. Cứ thế cho đến khi ổ đạn quay hết một vòng thì súng bắn hết sáu
viên đạn.
Súng lục Colt 45, M1911, Mỹ chế tạo
Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 1.1 kg (không có đạn)
Chiều dài: 21 cm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 251 m/s
Băng đạn: gồm 7 viên đạn, được gắn vào súng phía dưới tay cầm
Súng này thường được gọi là Colt 45 vì dùng cỡ đạn calibre .45. Vào
thời Pháp, súng này cũng được gọi là Colt Đui . Đui là đọc từ tiếng Pháp
douze tức là 12. Người Pháp gọi theo cỡ đạn bằng mm vì đạn calibre .45
có đường kính gần 12 mm. Đây là loại súng được sử dụng rộng rãi tại
nhiều nước từ thời Thế Chiến 1 qua Thế Chiến 2 và đến tận thập niên
1980. Ngày nay vẫn còn được sử dụng nhiều. Súng này sử dụng đạn cùng cỡ
với khẩu tiểu liên Thompson.
Súng Colt 45 được quân đội Mỹ sử dụng từ năm 1911. Vì súng ru lô sức
công phá yếu nên quân đội Mỹ thấy cần có loại súng lục mạnh hơn. Súng
Colt 45 đã bắn thi với một khẩu súng khác và được quân đội Mỹ chọn sau
khi đã qua nhiều cuộc thi. Một trong những thử thách đó là bắn
6000 viên đạn liên tục trong hai ngày, hai đêm. Súng được bắn liên tục
khi nòng súng nóng đỏ lên thì nhúng vào nước cho nguội lại rồi bắn tiếp.
Trong cuộc thử thách này súng Colt đã không bị lỗi nào trong khi khẩu
súng kia có 37 lỗi.
Súng Colt 45 trông có hình vuông vì nòng súng được che phủ bằng một
miếng thép có cạnh vuông . Miếng thép này có thể trượt được. Khi muốn
lên cò súng thì người bắn cầm miếng sắt này kéo về phía sau rồi buông
tay ra . Súng Colt 45 dùng sức giật của viên đạn để lên cò súng . Nhưng
không dùng nguyên tắc trích khí như các súng đời sau. Khi viên đạn nổ,
sức nổ đẩy đầu đạn đi đồng thời tạo ra một lực đẩyvề phía sau. Lực này
đẩy nòng súng và miếng sắt trượt ra phía sau. Ở giai đoạn này, nòng súng
và miếng sắt trượt khóa vào nhau nên trượt ra phía sau cùng một lúc.
Đến nửa đường, nòng súng hạ thấp xuống và không còn khóa vào miếng sắt
trượt nữa. Miếng sắt trượt tiếp tục trượt ra sau, dùng sức đẩy của đạn
để móc vỏ đạn ném ra ngoài . Khi lò xo kéo miếng sắt trượt ra phía trước
thì nó sẽ đẩy một viên đạn mới từ gắp đạn lên rồi khóa vào nòng súng,
đi cùng với nòng súng ra phía trước.
Súng Colt 45 có sức công phá rất mạnh vì bắn đạn đường kính 12 mm. Vì
đạn lớn nên sức giật của súng rất mạnh. Có người nói súng này có thể
bắn chết voi.
Colt 1911 .45 Shooting
Súng trường Garand M1
Cỡ đạn: .30-06 (7.62×63 mm)
Băng đạn: 8 viên đạn
Chiều dài: 1103 mm
Trọng lượng: 4.32 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 400 m
Súng Garand được trang bị cho quân đội Mỹ trước Đệ Nhị Thế Chiến và được
quân đội Mỹ sử dụng nhiều trong Đệ Nhị Thế Chiến và chiến tranh tại Đại
Hàn. Súng Garand là súng bắn phát một được xếp vào loại semi-automatic,
bán tự động, vì súng dùng nguyên tắc trích khí của viên đạn nổ ra để
đẩy cò súng về phía sau và lên đạn. Sở dĩ gọi là bán tự động là vì các
thế hệ súng trước đó không dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng nên
mỗi lần bắn xong, xạ thủ phải lên cò súng rồi mới bắn tiếp. Còn với súng
Garand, sau khi bắn một phát, thì súng tự động lên cò súng, xạ thủ chỉ
cần bóp cò để tiếp tục bắn. Chỉ gọi là bán tự động vì súng chưa phải là
hoàn toàn tự động, fully automatic, như các thế hệ súng về sau. Các súng
tiểu liên về sau cũng dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng, nhưng để
cho cò súng tự động mổ vào viên đạn để bắn luôn. Xạ thủ chỉ cần tiếp tục
giữ ngón tay bóp cò thì súng sẽ tự động bắn hết cả băng đạn.
Súng trường Garand được được sử dụng nhiều trong quân đội Việt Nam
Cộng Hòa cùng với súng trường Carbine. Súng Garand bắn xa và chính xác.
Tuy nhiên súng khá dài và nặng. Đạn được nạp vào súng bằng một gắp đạn gồm tám viên đạn. Sau khi bắn hết
đạn, thì gắp đạn tự động rơi ra ngoài, xạ thủ sẽ nạp gắp đạn khác.
Gắp đạn của súng Garand M1
Súng trường Carbine M1, M2, M3, M4, Mỹ chế tạo
Cỡ đạn: .30 Carbine (7.62×33mm)
Băng đạn: 15 hoặc 30 viên đạn
Trọng lượng: 2.4 kg (không có băng đạn)
Chiều dài: 900 mm
Tốc độ bắn:
M1 bắn từng phát một
M2, M3 từng phát một hoặc ba phát liên tiếp với tốc độ 850 – 900 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 607 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 180 m
Vì súng trường Garand dài và nặng, nên Bộ Quốc Phòng Mỹ yêu cầu một
khẩu súng nhẹ hơn. Gọi là súng Carbine mà không phải là Rifles vì chữ
Carbine phát xuất từ chữ Carabine của Pháp. Vào thời súng trường mới
xuất hiện, súng trường, tiếng pháp là Fusil, tiếng Anh là Rifle, rất dài
và do bộ binh mang. Còn kỵ binh mang súng trường thì quá dài, vướng
víu. Vì thế loại Carabine được chế tạo để cho kỵ binh dùng. Loại súng
này ngắn hơn để kỵ binh có thể đeo bên mình ngựa mà không chạm đất và để
kỵ binh có thể ngồi trên mình ngựa mà sử dụng. Súng Carbine nhẹ, ngắn,
cũng dùng đạn 7.62 mm nhưng viên đạn ngắn hơn nên tầm bắn không xa bằng
Garand. Tuy nhẹ nhưng Carbine có sức công phá yếu hơn súng Garand. Có
nhiều trường hợp không xuyên thủng được áo giáp địch và phải bắn nhiều
phát mới hạ được địch thủ. Súng Garand và Carbine là hai loại súng chính
của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cho đến cuối thập niên 1960 thì bắt đầu
được trang bị súng M-16.
Súng tiểu liên M16
Cỡ đạn: 5.56 x 45 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 948 m/s
Tốc độ bắn:
12 – 15 phát/phút, bắn chậm
45 – 60 phát/phút, bắn ba phát một
700 – 950 phát/phút, bắn liên thanh
Tầm bắn hiệu quả:
550 m, ngắm chính xác
800 m, bắn vào một vùng rộng
Trọng lượng: 3.26 kg
Chiều dài: 1000 mm
Chiều dài nòng súng: 508 mm
Băng đạn:
20 viên, thời chiến tranh tại Việt Nam
30 viên, dùng trong khối NATO hiện nay
Súng M-16 xuất hiện tại miền Nam vào giữa và cuối thập niên 1960. Đó
là một khẩu súng có hình dáng kỳ lạ. Súng thẳng như một cây gậy và đen
chùi chũi. Báng súng không cong xuống mà chạy thẳng và làm bằng nhựa chứ
không làm bằng gỗ. Trên thân súng lại có quai xách.
Súng M-16 được thiết kế sau khi có các nghiên cứu cho thấy là phần
lớn các sát thương do súng tiểu liên xảy ra ở khoảng cách trung bình 300
m chứ không phải ở khoảng cách xa. Các súng tiểu liên trước đây vì sức
giật mạnh nên khi bắn sức giật làm nòng súng hất lên cao và đạn tỏa ra
nên không chính xác, ít trúng mục tiêu.
Súng M-16 được làm thẳng để lực giật đi thẳng vào vai người bắn. Các
khẩu tiểu liên trước đây có báng súng cong xuống để khi người bắn tì
báng súng vào vai thì thân súng cao ngang tầm mắt để người bắn ghé mắt
vào mà nhắm. Với báng súng làm thấp xuống như vậy thì trục của nòng súng
chạy cao hơn điểm báng tì vào vai. Vì thế lực giật của súng tạo ra một
momen quay theo chiều làm nâng nòng súng lên. Nòng súng sẽ bị ngóc lên
khi bắn liên thanh nên chỉ có vài viên đạn đầu là bắn gần mục tiêu còn
các viên đạn sau thì bị tỏa đi mất.
Với súng M-16, trục của nòng súng đi thẳng đúng vào điểm báng súng
tựa vào vai nên khi bắn liên thanh, khuynh hướng nòng súng bị ngóc lên
giảm đi rất nhiều. Vì làm báng súng thẳng nên khi tì báng súng vào vai
thì thân súng nằm khá thấp so với tầm mắt người bắn. Vì thế đầu ruồi và
điểm ngắm sau của súng phải nâng cao lên. Điểm ngắm phía sau được nâng
cao lên và làm thành quai xách súng.
Cũng để làm giảm thiểu việc nòng súng bị hất lên vì sức giật, súng M-16 sử dụng cỡ đạn nhỏ hơn để đạt được các ưu điểm sau:
Vì đạn nhỏ sức giật yếu hơn, khiến cho súng ít bị hất lên cao và vẫn tập trung vào mục tiêu.
Ngoài ra, đạn nhỏ và sức giật nhẹ nên lò xo đẩy thanh nạp đạn có thể
đẩy nhanh hơn nên tốc độ bắn liên thanh rất cao. Nhờ thế có thể bắn cho
nhiều viên đạn cùng thoát ra khỏi nòng cùng một lúc có thể đến đúng mục
tiên trước khi nòng súng bị hất lên vì sức giật.
Theo báo cáo của nghiên cứu về đầu đạn nhỏ thì một đầu đạn 5,56 mm
được bắn đi với vận tốc nhanh 900 m/giây có sức công phá ngang với đầu
đạn cỡ 7,62 mm được bắn đi với tốc độ chậm hơn 700 m/giây.
Ở tầm xa trên 500 m thì đầu đạn nhỏ bị sức gió thổi tạt đi nhiều hơn
là đầu đạn lớn. Nhưng cũng ở tầm trên 500 m thì đầu đạn lớn sẽ rơi xuống
nhanh hơn đầu đạn nhỏ vì nặng hơn nghĩa là kém chính xác hơn đầu đạn
nhỏ.
Một lợi điểm khác của đầu đạn nhỏ là vì đạn nhẹ hơn nên một người
lính sử dụng súng với đầu đạn 5,56 mm có thể mang số lượng đạn gấp đôi
số lượng đạn với đầu đạn 7,62 mm.
Việc chọn đầu đạn nhỏ có ưu và khuyết điểm của nó. Người thiết kế
súng M-16 chọn đầu đạn nhỏ để lấy ưu điểm có khả năng sát thương cao
trong tầm bắn 300 mét là tầm sát thương xảy ra phần lớn trên chiến
trường.
Do lợi điểm của đầu đạn nhỏ nên ngày nay, nhiều nước chế tạo súng
tiểu liên đã chọn cỡ đạn nhỏ tương đương với cỡ đạn của súng M-16.
Khi súng M-16 được đem sử dụng tại Việt Nam lần đầu tiên, súng hay bị
kẹt đạn. Lý do là vì hãng Colt đã đổi loại thuốc đạn mà không dùng loại
thuốc đạn của người thiết kế. Loại thuốc đạn mới này đóng cặn trong
nòng súng làm cho kẹt đạn. Lại thêm cách cấu tạo của súng M-16 đòi hỏi
phải giữ cho súng luôn luôn sạch sẽ, nếu bị đất cát lọt vào trong súng
sẽ làm súng bị kẹt đạn. Điều này ít xảy ra với súng AK-47. Lý do súng
AK-47 ít bị kẹt đạn là vì AK-47 trích khí khi đạn nổ để đẩy một piston
thật mạnh. Tuy bị đất cát lọt vào lòng súng nhưng nhờ sức đẩy mạnh của
piston nên súng vẫn hoạt động được. Súng M-16 không dùng piston này mà
chỉ trích khí từ đạn nổ để đẩy một thanh lên đạn nằm thẳng hàng với nòng
súng. Người thiết kế súng M-16 tránh không dùng piston để đẩy mạnh bộ
máy cò vì một piston nặng khi đẩy ra phía sau khi dừng lại sẽ tạo ra một
lực giật thật mạnh. Vì piston nằm bên trên trục nòng súng nên lực này
tạo ra một momen làm nòng súng bị hất lên. Khi piston bị đẩy ra phía
trước rồi dừng lại cũng sẽ tạo ra lực giật mạnh về phía trước. Lực này
tạo ra một momen kéo nòng súng chúi xuống. Piston nằm phía trên nòng
súng, nghĩa là lệch trục với nòng súng mà giật tới giật lui liên tục
trong khi bắn liên thanh thì sẽ làm cho nòng súng bị rung liên tục, súng
sẽ bắn kém chính xác. Người thiết kế súng M-16 đặt sự chính xác của
súng làm ưu tiên cao nhất nên loại bỏ những nguyên nhân có thể làm cho
nòng súng bị rung trong khi bắn.
Vào thời đó những người sử dụng súng M-16 nhận thấy khi bắn trúng
địch thủ thì viên đạn xoáy trong cơ thể người bị trúng đạn phá ra một
vùng rất lớn làm cho vết thương trầm trọng hơn. Lúc đầu có người nghĩ có
lẽ vì đạn súng M-16 xoáy rất mạnh nên khi chui vào cơ thể nó tiếp tục
xoáy gây ra vết thương vỡ toác thật lớn. Thật ra, đạn phá ra lớn là do
sức xoáy của viên đạn yếu. Khi viên đạn có tốc độ xoáy cao thì viên đạn
sẽ luôn luôn đi thẳng, đầu đạn nhọn sẽ đi trước và viên đạn sẽ chui vào
cơ thể rồi đi ra ngoài. Vì tốc độ xoáy của đạn M-16 yếu nên khi chạm vào
da thịt người, viên đạn sẽ lộn vòng, không còn đi thẳng như trước nên
phá ra một vùng rất lớn trong cơ thể. Cũng vì sức xoáy yếu nên đầu đạn
khó đi thẳng, do đó sức xuyên phá yếu. Các thế hệ súng M-16 sau này đã
cải tiến để làm gia tăng sức xuyên phá bằng cách tăng tốc độ xoáy của
viên đạn và làm cho trọng lượng viên đạn nặng thêm một chút.
Trọng lượng của súng M-16 cũng được giảm bớt đi đáng kể so với các
đời súng trước vì các nghiên cứu cho thấy rằng, phần lớn các cuộc chạm
súng xảy ra trên chiến trường đều xảy ra bất ngờ. Trong phần lớn trường
hợp, có đến hai phần ba người lính bị giết vì trở tay không kịp. Vì thế
trọng lượng súng được làm nhẹ đi để người sử dụng có thể dùng súng một
cách linh hoạt hơn. Để giảm trọng lượng của súng, nhiều bộ phận kim loại
được làm bằng nhôm, là loại kim loại nhẹ hơn thép, và thân súng làm
bằng nhựa tổng hợp, nhẹ hơn làm bằng gỗ.
Binh sĩ Biệt Động Quân trang bị súng M-16 trong trận Tổng Công Kích, Tết Mậu Thân 1968
Súng tiểu liên Colt Commando, X177E2
Chiều dài: 826 mm
Trọng lượng: 2.43 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 838 m/s
Băng đạn: 20 viên hay 30 viên
Chiều dài nòng súng: 292 mm
Súng Colt Commando X177E2 được ra đời khi binh sĩ Mỹ than phiền là
khẩu súng M-16 quá dài nên khó xoay trở trong rừng rậm. Hãng Colt sửa
đổi khẩu súng M-16 bằng cách làm nòng ngắn đi, gắn báng súng có thể thụt
vào và kéo dài ra. Có 520 khẩu súng này được đưa vào miền Nam năm 1967
để tranh bị cho lực lượng đặc biệt MACV-SOG (Military Assistance
Command, Vietnam – Studies and Observations Group) chuyên thi hành các
công tác trinh sát, bắt cóc, phá hoại thường phải hoạt động trong rừng
núi, di chuyển bằng phi cơ, tàu thuyền nên cần vũ khí có hỏa lực mạnh và
gọn nhẹ. Sau khi quân đội Mỹ rút đi vào năm 1971 thì các khẩu súng này
để lại cho lực lượng biệt kích của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Hãng
Colt chấm dứt sản xuất loại súng này vào năm 1970 vì thấy súng có một
số khuyết điểm cần phải nghiên cứu tốn kém để cải thiện nhưng không được
sự tài trợ của chính phủ để làm công việc nghiên cứu.
Cỡ đạn: .30-6 Springfield
Băng đạn: 20 viên
Trọng lượng: 8.8 kg
Chiều dài: 1,110 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tốc độ bắn: 500-650 phát/phút
Chiều dài nòng súng: 611 mm
Tầm bắn hiệu quả: 1300 m
Tầm bắn tối đa: 4500 m
Súng trung liên M1918A2 được chế tạo từ năm 1918 để trang bị cho quân
đội Mỹ trong Thế Chiến Thứ Nhất . Khẩu súng này lúc đầu được thiết kế
để người lính cầm ngang hông mà bắn trong khi xung phong. Nhưng trong
thực tế phần lớn trường hợp thì sử dụng súng để trên mặt đất với hai
chân chống phía trước.
Súng trung liên Browning Automatic Rifle, gọi tắt là BAR, có tầm bắn
xa, có sức công phá và sức xuyên thủng thép mạnh. Súng này được quân đội
nhiều nước sử dụng trong cả hai trận Thế Chiến. Loại súng này được
trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào thời kỳ đầu của cuộc chiến,
nghĩa là cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960.
Một người lính Thủy Quân Lục Chiến sử dụng súng trung liên
Súng đại liên 30, M1919
Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm NATO
Chiều dài: 964 mm
Trọng lượng: 14 kg
Tốc độ bắn: 400 – 600 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 850 m/s
Băng đạn: 250 viên
Tầm bắn hiệu quả: 1400 m
Đây là loại súng đại liên nhẹ, vì cỡ đạn là .30 caliber nên được gọi
là đại liên 30. Đại liên này được sử dụng bởi ba người khi đi hành
quân: một người mang súng, một người mang chân và người thứ ba mang đạn.
Súng này có thể được nhận ra dễ dàng với nòng súng có những lỗ. Đó là
lớp vỏ che ngoài nòng súng vì khi bắn được một lúc, nòng súng sẽ nóng
lên, đụng vào bỏng tay nên cần một lớp vỏ che. Lớp vỏ này có đục lỗ để
hơi nóng thoát ra ngoài.
Ngoài việc trang bị cho bộ binh, súng đại liên 30 cũng được gắn trên
xe bọc thép, tàu đi tuần trên sông. Súng đại liên 30 là đại liên được
quân đội Việt Nam Cộng Hòa sử dụng nhiều cho đến đầu thập niên 1960. Sau
đó, khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa được trang bị bằng loại đại liên mới
M-60 thì đại liên 30 cũng vẫn được tiếp tục sử dụng.
Súng đại liên 50, M2HB
Cỡ đạn: .50 BMG (Browning Machine Gun) (12.7 mm x 99 mm)
Băng đạn: nạp đạn bằng dây đạn đựng trong hộp đạn gắn bên cạnh súng
Vận tốc đạn khi ra khỏi nòng: 890 m/giây
Vận tốc bắn: 450 – 630 phát/phút
Tầm bắn hiệu quả: 1800 m
Tầm bắn tối đa: 2000 m
Trọng lượng: 38 kg
Trọng lượng với chân đứng: 58 kg
Chiều dài: 1656 mm
Chiều dài nòng súng: 1143 mm
Đại liên 50 được gọi tên theo cỡ đạn caliber .50. Đây là loại súng
máy hạng nặng được gắn trên xe thiếp giáp, trên tàu, phi cơ. Súng đại
liên 50 có thể dùng để chống bộ binh, có khả năng xuyên thủng xe cộ,
thuyền không bọc thép hay xuyên thủng xe bọc thép hạng nhẹ. Súng đại
liên 50 cũng có thể dùng bắn phi cơ bay ở cao độ thấp.
Đại liên 50 được gắn trên xe tăng
Súng đại liên M60
Chiều dài: 1105 mm
Chiều dài của nòng: 560 mm
Trọng lượng: 10,5 kg
Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm
Tốc độ bắn: 500 – 650 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 1100 m
Súng đại liên M-60 tương đối mới so với các loại súng máy khác như
đại liên 30, đại liên 50 hay trung liên Browning M1918A2 . Các súng máy
kia được thiết kế từ thời Đệ Nhất Thế Chiến trong khi súng M-60 được
nghiên cứu để chế tạo sau Đệ Nhị Thế Chiến và được đưa vào sử dụng trong
quân đội Mỹ vào năm 1957.
Vì thiết kế thân súng theo đường thẳng nên một phần của bộ máy cò
được đưa ra phía sau nằm một phần trong báng súng nên thu ngắn được
chiều dài của súng. Súng đại liên M-60 được thiết kế nhẹ hơn các loại
súng máy trước đây, mặc dù cũng vẫn bắn cùng cỡ đạn nên có thể bắn với
tư thế tựa trên vai, ôm bắn ngang hông. Súng cũng có thể được gắn hai
chân phía trước hoặc đặt trên giá có ba chân.
Đạn được nạp qua một dây đạn dài, nên có khi xạ thủ quấn dây đạn
quanh người khi di chuyển. Đại liên M-60 thay thế cho các loại đại liên
trước đó khi được gắn vào xe thiếp giáp, tàu thuyền, máy bay trực thăng.
Đại liên M-60 hiện nay được sử dụng rộng rãi tại hơn ba mươi quốc gia trên thế giới.
Súng phóng lựu M79
Chiều dài: 731 mm
Chiều dài nòng súng: 375 mm
Trọng lượng: 2.39 kg (khi có nạp đạn)
Cỡ đạn: 40 x 46 mm đầu đạn có mang chất nổ
Bắn phát một. Tốc độ vừa bắn vừa nạp đạn: 6 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 76 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 350 m
Tầm bắn tối đa: 400 m
Súng M-79 được gọi là súng phóng lựu vì mỗi viên đạn súng phóng ra
thật sự là một quả lựu đạn. Đầu đạn của M-79 tròn to đường kính 40 mm,
bên trong có chứa chất nổ và 300 mảnh kim loại nhỏ. Khi đầu đạn nổ sẽ
bắn ra các mảnh kim loại, gây sát thương trong vòng tròn đường kính 5 mét.
Súng M-79 được đưa vào sử dụng năm 1961 và chiến trường được sử dụng đầu tiên là tại Việt Nam.
Cách sử dụng súng M-79 khá giản dị. Để nạp đạn, súng được bẻ gập ra
phía trước và nạp đạn vào trong nòng súng. Sau đó, xạ thủ gấp súng lại,
gài chốt khóa và bóp cò bắn. Súng có thể bắn thẳng hoặc bắn vòng cầu.
Trên thân súng phía sau có bộ phận ngắm làm theo dạng nấc thang, có
nhiều nấc. Người bắn chỉnh thanh ngắm vào các nấc, tùy theo bắn xa gần.
Có thể bắn xa từ 75 mét đến 375 mét. Cứ mỗi nấc khoảng cách tăng lên 25
mét.
Súng M-79 gấp xuống
Bộ phận ngắm có thể chỉnh cao thấp tùy theo tầm bắn
Súng bắn vòng cầu, nòng súng chĩa cao hơn khi muốn bắn xa
Để tránh cho viên đạn nổ quá gần, gây thương tích cho người bắn và
đồng đội, viên đạn súng M-79 có khóa an toàn, khi viên đạn bay xa khoảng
30 mét thì khóa an toàn mới được mở ra. Khóa an toàn là loại xoay vòng
xoắn, khi khóa xoay đủ số vòng thì khóa an toàn mới được mở ra. Như vậy,
lúc bắn đi nếu viên đạn chạm phải bức tường hay cành cây mà rơi xuống
gần người bắn thì viên đạn vẫn không nổ vì khóa an toàn chưa xoay đủ
vòng của nó.
Súng M-79 cung cấp hỏa lực cho bộ binh ở vào tầm giữa súng cối 60 ly
và lựu đạn ném tay. Súng cối 60 ly bắn xa từ vài trăm mét đến 3
kilometre. Lựu đạn ném tay thì chỉ ném xa được vài chục mét. Súng M-79
bắn vào khoảng giữa từ 75 mét đến 400 mét.
Súng M-79 với đầu đạn nổ làm bắn ra hàng trăm mảnh nhỏ hiển nhiên là
loại vũ khí chống chiến thuật biển người. Có lẽ Mỹ nhận thấy trong chiến
tranh Triều Tiên, quân đội Mỹ đã nhiều lần phải rút lui vì Trung Quốc
dùng chiến thuật biển người. Vào thời đó, phần lớn binh sĩ Mỹ chỉ trang
bị súng bắn phát một và trong nhiều trường hợp hỏa lực không đủ mạnh để
ngăn chặn làn sóng người xông lên.
Một nhược điểm của súng M-79 là do trọng lượng của súng và đạn khá
nặng nên một người lính khi mang súng M-79 thì không còn sức để mang
súng tiểu liên nữa. Mà súng M-79 chỉ hoạt động ở tầm xa trên 70 mét. Ở
khoảng cách gần, người mang súng M-79 không có gì để tự vệ ngoài khẩu
súng lục vì súng M-79 nạp đạn khá chậm. Vì thế người sử dụng súng M-79
phải đi chung với đồng đội để được bảo vệ.
Để khắc phục khuyết điểm trên, vào đầu thập niên 1970, Mỹ đã nghĩ ra
loại súng phóng lựu gắn dưới nòng súng tiểu liên. Súng phóng lựu cá nhân
gắn dưới nòng súng tiểu liên đã gia tăng hỏa lực cho bộ binh một cách
đáng kể vì người xử dụng súng phóng lựu cũng có thể sử dụng cả tiểu
liên. Nhưng súng phóng lựu gắn dưới nòng súng này chỉ bắn xa được 100
mét trong khi súng M-79 có thể bắn xa đến 300 mét. Vì thế loại súng
M-79 vẫn được tiếp tục sử dụng cho các trường hợp cần đến.
Bên trong một viên đạn M-79
Súng chống tăng Bazooka M1
Chiều dài: 1370 mm
Trọng lượng: 5.8 kg
Đường kính hỏa tiễn: 60 mm
Súng Bazooka là tên để gọi chung tất cả các loại súng không giật để
chống xe tăng. Nguồn gốc của tên này là vào thập niên 1930 người Mỹ thấy
loại súng này có hình dáng giống như một nhạc cụ tên là Bazooka nên gọi
đùa súng này là Bazooka. Về sau Bazooka trở thành tên gọi không chính
thức của loại vũ khí phóng đầu đạn mang chất nổ có định hướng dùng để
chống xe tăng.
Nguyên tắc của súng Bazooka khác với các loại súng khác ở hai điểm:
1. Đó là súng không giật . Viên đạn được đặt trong nòng súng để hở ở
phía sau nên khi bắn đi, sức nổ của đạn sẽ thoát ra ngoài bằng phía sau,
nhờ vậy súng không bị giật . Các loại súng khác, khi viên đạn nổ thì
phía sau bịt kín, đầu đạn chỉ có một hướng duy nhất là đi ra khỏi nòng
súng bằng phía trước . Sức nổ đẩy viên đạn đi đồng thời tạo ra một phản
lực đẩy về phía sau làm cho súng bị giật . Viên đạn chống xe tăng tuy
tạo ra luồng khí phụt ra phía sau nhưng không phải là hỏa tiễn vì đạn
chỉ nổ một lần trong nòng súng . Sức nổ đẩy hơi nóng ra phía sau đồng
thời tạo ra một phản lực đẩy viên đạn đi ra phía trước, giống như động
cơ phản lực đẩy hơi nóng ra phía sau, và phản lực sinh ra khi phụt hơi
sẽ đẩy phi cơ về phía trước . Sở dĩ chọn cách để cho đạn nổ trong ống
phóng mà không biến viên đạn thành hỏa tiễn để phóng đi là vì nếu dùng
hỏa tiễn thì khi hỏa tiễn bay ra khỏi nòng nó vẫn tiếp tục phun hơi nóng
ra phía sau và hơi nóng này sẽ đốt cháy mặt người bắn.
2. Đầu đạn để chống xe tăng là loại đầu đạn với khối chất nổ mà mặt
đối diện với xe tăng được ngăn bằng một hình nón bằng kim loại. Hình nón
này được đặt với chóp nón quay về phía sau còn phần mở của nón hướng về
phía xe tăng. Khi chất nổ nổ, thay vì sức nổ tỏa ra khắp nơi xung quanh
thì sức nổ được hình nón làm hướng vào một điểm duy nhất ở phía trước.
Khi toàn bộ sức nổ được hướng vào một điểm duy nhất thì sẽ sinh ra một
tia plasma nóng đến hàng ngàn độ làm chảy cả thép. Cho đến ngày nay, các
đầu đạn chống xe tăng cũng vẫn dùng nguyên tắc này. Vì thế chúng ta
thấy các đầu đạn chống xe tăng thường có hình thoi, giống như hai cái
phễu úp vào nhau. Phần cái phễu gắn vào đuôi đạn thì mang chất nổ và nón
kim loại để tụ sức nóng. Còn phần hình phễu phía trước thì chỉ có tác
dụng làm cho viên đạn có đầu nhọn, ít bị cản không khí khi bay.
Cấu tạo của một đầu đạn chống xe tăng:
1. Vỏ bọc phía trước để làm cho đầu đạn nhọn, ít bị cản không khí khi bay (xanh da trời)
2. Khoảng trống . Khi đạn nổ thì sức nóng sẽ dồn vào khoảng trống này.
3. Hình nón bằng đồng để tạo cho khối chất nổ có hình nón (cam).
4. Ngòi nổ (đỏ)
5. Chất nổ
Loại Bazooka dùng tại Việt Nam là loại M1 của quân đội Mỹ và chỉ được
dùng vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Vì quân đội Cộng
Sản lúc đó chưa sử dụng xe tăng nên súng Bazooka rất ít được sử dụng.
Ngoại trừ những trường hợp dùng để phá công sự. Súng cần phải hai người mới sử dụng được. Một người vác súng, một người nạp đạn vào ống từ phía sau. Vì đầu đạn hình thoi cũng được đút vào nòng
súng nên nòng súng phải làm lớn trở nên nặng nề. Các súng chống xe tăng
sau này cũng áp dụng nguyên tắc của súng Bazooka nhưng khi nạp đạn chỉ
đút phần thuốc đạn phía sau còn đầu đạn hình thoi để phía ngoài nên có
thể làm đầu đạn lớn hơn, có sức công phá mạnh hơn, mà ống phóng không
phải làm lớn quá.
Đoạn video dưới đây chiếu về khẩu súng Bazooka:
Các loại súng DKZ (Đại Bác Không Zật) cũng dùng nguyên tắc để sức nổ
thoát ra phía sau để súng không giật giống như nguyên tắc của súng
Bazooka.
Súng DKZ
Súng DKZ, nạp đạn từ phía sau. Khi bắn, hơi phụt ra phía sau
Súng chống tăng M72
Chiều dài: dưới 1000 mm
Trọng lượng: 2.5 kg
Đường kính hỏa tiễn: 66 mm
Tầm bắn hiệu quả: 200 m
Súng M-72 là súng chống tăng loại nhẹ được chế tạo gọn nhẹ để bộ binh
mang theo cùng với súng cá nhân và đạn dược. Súng M-72 chỉ bắn một lần
rồi bỏ đi. Súng gồm một hỏa tiễn chống tăng đựng bên trong ống bằng nhôm
bịt kín không để cho nước vào. Ống băng nhôm gồm hai ống lồng vào nhau .
Ống bên ngoài có gắn cò súng nhưng không có tay cầm. Ống bên trong chứa
kim hỏa để khai hỏa hỏa tiễn. Khi bắn, xạ thủ sẽ kéo ống bên trong ra
phía sau, dở nắp đậy phía trước lên. Nắp đậy phía trước bây giờ biến
thành bộ phận ngắm. Khi xạ thủ bấm nút nằm ở trên ống để bắn, hỏa tiễn
nằm trong ống khai hỏa, đốt cháy toàn bộ thuốc súng bên trong với nhiệt
độ lên đến 760 độ C rồi thoát ra khỏi ống phóng. Trên đường bay, sáu
cánh bằng kim loại nhỏ sẽ bật ra để giữ cho hỏa tiền luôn luôn bay
thẳng. Sau khi bắn thì ống kim loại không còn dùng nữa, xạ thủ sẽ vứt
ống đi.
Súng chỉ bắn một phát rồi vứt đi xem ra là một sự hoang phí. Nếu so với súng B-40, chỉ có một khẩu súng mà dùng mãi, bắn hết viên đạn này đến viên đạn kia thì quả là tiết kiệm được nhiều hơn. Nhưng súng M-72 cũng có cái lợi điểm của nó. Nhờ nhẹ nên mỗi người lính, ngoài khẩu súng cá nhân của mình, đều có thể đeo thêm một khẩu M-72. Một tiểu đội 12 người thì có thể có đến 12 khẩu súng chống tăng. Khi lâm trận, mỗi người sẽ tản mát, núp một nơi, người nào thấy cơ hội thuận tiện thì bắn xe tăng địch. Như thế sẽ gây khó khăn cho địch hơn.
Hỏa tiễn của súng M-72 có khả năng xuyên thủng thép dày 20 cm, hay bê tông dày 60 cm, hay tường đất dày 1.8 m.
Hỏa tiễn của súng M-72
Bắn hỏa tiễn bằng cách bóp vào bộ phận khai hỏa nằm bên trên ống phóng
Nhân Dân Tự Vệ VNCH - Nghĩa Quân -
Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn
Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Hành Khúc
Nhạc: Cục chính huấn
Vì đất nước ta quên mình,
Vì nhân dân ta hy sinh,
Cùng nhau tay nắm tay lên đường.
Mau quay về nông lâm,
Vui ra đi trong niềm tin mới,
Xây quê hương dù bằng xương máu,
Quyết chiến đấu!
Bao mến yêu non sông kiêu hùng,
Ta chống quân xâm lăng hồn quật cường,
Cùng tài trai bốn phương.
Cùng về đây, hãy quên mình,
Nào cùng đi, anh em ơi!
Cùng đi ta phá tan đau buồn...
Nông dân đang mong chờ tay ta,
Đem sức trai bảo vệ sông núi,
Cho nhân dân tràn niềm vui sống,
Non nước tin yêu.
Non nước ta mai đây hòa bình,
Dân nước ta mai đây yên bình,
Đưa Việt Nam vinh quang.
Những người chiến sĩ áo đen trong trận đánh An Lộc - Mùa Hè Đỏ Lửa 1972
Video clip of Republic of Vietnam People's Self Defense Force female personnel receiving firearms training, August 10, 1968, Associated Press.
Nữ Nhân Dân Tự Vệ VNCH trong buổi huấn luyện
Khóa Huấn Luyện Điều Chỉnh Tác Xạ của Nhân Dân Tự Vệ Tây Ninh ngày 12/1/1974
Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn họp mặt, Vũng Tàu 1969
Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn
Từ Quốc Sách Ấp Chiến Lược đến Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn
Khi thành lập công cụ xâm lược mang tên Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTGPMN) vào tháng 12 năm 1960. Cộng Sản Hà Nội quyết tâm thực hiện giai đoạn khởi đầu trong sách lược thôn tính miền Nam qua mặt trận du kích chiến, trọng tâm của mặt trận này là “lấy nông thôn bao vây thành thị” nói cách khác là chúng muốn kiểm soát địa bàn nông thôn, tranh thủ nhân tâm người dân nông thôn để lợi dụng lòng yêu nước của họ ngõ hầu buộc họ phải cộng tác, nuôi dưỡng, che chở cho du kích quân cộng sản. Kế tiếp là chúng sẽ dùng nông thôn làm bàn đạp để tấn công, tiến chiếm các thành phố để cướp chính quyền. Thoạt tiên kế hoạch xâm lược miền Nam của cộng sản Hà Nội là như vậy, chúng mong muốn thôn tính miền Nam chỉ cần sử dụng mặt trận du kích chiến mà thôi, không cần sử dụng đến các mặt trận khác như 'trận địa chiến' hay 'vận động chiến' v. v...
Nắm vững được sách lược của địch. Mùa Xuân năm 1962, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược, đây quả là một đối sách đúng đắn và vô cùng lợi hại của chính quyền lúc bấy giờ, việc thi hành đối sách này đã làm cho từ bọn đầu sỏ chóp bu ở Hà Nội đến bọn công cụ tay sai MTGP ở miền Nam phải điêu đứng, hoang mang. Bởi vì mục tiêu căn bản của Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt.
Tất cả các Ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố bao quanh, các cổng chính ra vào được canh gác đúng mức tùy theo địa thế, mỗi Ấp đều có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, ban ngày người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ mặt muốn vào Ấp phải qua thủ tục kiểm soát chặt chẽ, ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại, tuy nhiên các trường hợp cấp thiết của dân chúng vẫn được giải quyết. Ngoài ra, các Ấp Chiến Lược đều có thiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp vào Ấp. Việc điều hành Ấp do một Ban Trị Sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng Vệ Dân Sự phối hợp với các đơn vị Thanh Niên, Thanh Nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách. Ấp Chiến Lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển.
Quốc Sách Ấp Chiến Lược thực hiện rất hiệu quả công việc tát nước để bắt cá, mặt trận du kích chiến của cộng sản bị ngưng trệ, du kích quân và hạ tầng cơ sở của chúng gần như không chốn dung thân, chủ trương bám dựa vào người dân bị bẻ gãy từ trứng nước. Tóm lại, Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà thăng tiến và tỏ ra hữu hiệu thì bất ngờ bị hủy bỏ bởi chính những người có quyền cao chức trọng trong chính thể VNCH. Thật đáng tiếc vô cùng!
Đầu năm 1965, nhận thấy sai lầm tai hại của quyết định hủy bỏ Quốc Sách Ấp Chiến Lược, trước hiện trạng nông thôn hoàn toàn bị bỏ ngõ, tạo điều kiện thuận lợi cho du kích quân cộng sản hoạt động và phát triển cơ sở hạ tầng. Chính phủ Phan Huy Quát đã thành lập chương trình Ấp Tân Sinh đồng thời tạo một đội ngũ Cán Bộ để thực thi chương trình này. Tiếc thay lúc này tình hình an ninh tại các Ấp đã trở nên tồi tệ, việc phối trí Cán Bộ Ấp Tân Sinh đến các Ấp đã gặp khó khăn, trở ngại đủ điều. Anh chị em phải hoạt động trong điều kiện không được bảo đảm an ninh, thiếu sự hợp tác cần thiết của chính quyền địa phương cũng như các đơn vị cơ quan bạn. Rất nhiều Ấp chỉ có một Cán Bộ lẻ loi trước một khối công việc nặng nề, không kham nổi. Tóm lại với tình trạng vừa nêu trên, chương trình Ấp Tân Sinh không hiệu quả cũng là điều dễ hiểu.
Trước tình hình khẩn trương của đất nước nói chung và của nông thôn miền Nam Việt Nam nói riêng. Mùa Xuân năm 1966, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Nội Các Chiến Tranh quyết định thiết lập Chương Trình XÂY DỰNG NÔNG THÔN, người trực tiếp phụ trách thực hiện Chương Trình này tại trung ương là Thiếu Tướng Nguyễn Đức Thắng, Tổng Ủy Viên Xây Dựng kiêm Tổng Thư ký Hội Đồng Xây Dựng Nông Thôn Trung Ương.
Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn có nội dung gồm: bốn Tư Tưởng Chỉ Đạo, năm Kỷ Thuật Phát Triển, 11 Mục Tiêu và 98 Công Tác (năm 1968 rút gọn còn 36 Công Tác), được thực hiện qua 12 giai đoạn, còn gọi là 12 bước Công tác. Trọng tâm của Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn là xây dựng thành công các ẤP ĐỜI MỚI để biến Đời Cũ Tối Tâm thành Đời Mới Sáng Sủa cho nông thôn trong tinh thần tự túc, tự cường và tự vệ, thời gian cần thiết để xây dựng trở thành một ẤP ĐỜI MỚI là sáu tháng. Thời điểm bây giờ trên toàn lãnh thổ VNCH có trên 12 ngàn Ấp và được phân loại thành năm hạng từ A đến E, trên toàn quốc có khoảng 700 Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn 59 người. Do đó, công việc phối trí các Đoàn 59 CB/XDNT được thực hiện như sau:
*Ưu tiên 1: các Ấp loại E, D
*Ưu tiên 2: các Ấp loại C, B
*Ưu tiên 3: các Ấp loại A.
Trong 11 mục tiêu xây dựng ẤP ĐỜI MỚI thì Mục tiệu 1: Tận diệt cộng sản nằm vùng và Mục tiêu 4: Đoàn ngũ hóa nhân dân, mà then chốt là thành lập Ấp Đội Dân Quân Tự Vệ, được xem là hai mục tiêu quan trọng hàng đầu. Từ sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã áp dụng Mục Tiêu 4 này làm căn bản cho chương trình Nhân Dân Tự Vệ.
Bên cạnh các Hội Đồng XDNT Tỉnh, Quận mà các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng làm Chủ Tịch là các Tỉnh Đoàn, Liên Đoàn CB/XDNT (từ 1971 đổi thành Quận Đoàn). Là thành phần nồng cốt để thực hiện Chương Trình XDNT nên người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn được huấn luyện và đào tạo tương đối tốt để có khả năng hoàn thành nhiệm vụ... Ngoại trừ số Cán Bộ cải tuyển từ các ngành mà môi trường hoạt động là địa bàn nông thôn, tất cả Cán Bộ tân tuyển điều phải trải qua bốn tuần thử thách tại một trong số những Đoàn Cán Bộ thuộc Tỉnh, sau đó đến Vũng Tàu để thụ huấn khóa sơ cấp tại Trung Tâm Huấn Luyện CB/XDNT Trung Ương trong ba tháng, trong đó sáu tuần đầu được huấn luyện về căn bản quân sự, sáu tuần cuối được học tập về chính trị, trong 12 tuần thụ huấn này là những bài học về chuyên môn.
Sau khi tốt nghiệp và trở về đơn vị Tỉnh, các tân Cán Bộ phải dự một tuần huấn luyện bổ túc, thường được tổ chức tại trung tâm tu nghiệp công chức Tỉnh, do đại diện các Ty, Sở, Phòng có liên quan đến Chương Trình XDNT hướng dẫn trước khi được điều động đến công tác tại các Đoàn CB/XDNT trong Tỉnh.
Chương Trình XDNT là một đối sách lợi hại đã làm cho bọn đầu sỏ cộng sản ở Hà Nội và bọn tay sai của chúng ở miền Nam (MTGPMN) phải rúng động và căm hận tột cùng. Đầu năm 1967, Trung ương cục miền Nam (Cục R) đã ra một nghị quyết trong đó chỉ thị các đội võ trang công tác chính trị (du kích quân), các đơn vị cơ động Tỉnh và các đơn vị chủ lực Miền hãy tập trung nổ lực Tìm Diệt các “Đoàn Bình Định ác ôn” đồng thời chúng đề ra khẩu hiệu: “Diệt một tên Bình Định ác ôn bằng tiêu diệt ba tên giặc Mỹ xâm lược”.
Mặc dù tồn tại một số hạn chế và thiếu sót không tránh được. Tuy nhiên nhìn tổng thể từ nhiều góc cạnh, điển hình nhất là bộ mặt nông thôn VNCH vào đầu năm 1975 so sánh với đầu năm 1966 đã hoàn toàn thay đổi, trong đó sự thay đổi rõ nét nhất là về lãnh vực an ninh và lãnh vực phát triển. Do đó, có thể kết luận Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn tương đối thành công, đồng thời người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn cũng cảm thấy hãnh diện vì đã đóng góp công lao cùng xương máu cho sự nghiệp thiêng liêng của toàn dân, toàn quân ta là chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ miền Nam thân yêu trong nhiều năm dài miệt mài, gian lao nhưng đầy nghĩa khí.
Trần An Phương Nam
Gia Đình CB/XDNT Bắc Cali
Nông Thôn Quật Khởi
Đã bao năm nông thôn ta đau khổ vô cùng,
Đã bao năm mang trên vai hai kẻ thù chung.
Bọn cường hào ác bá,
Nó dùng bạo quyền áp bức,
Làm người dân lầm than sống trong âm thầm.
Bọn cộng sản nằm vùng,
Nó khủng bố người dân lành,
Làm thôn làng kinh hoàng,
dân làng đời sống gian nan.
Quyết không dung quân gian tham quân giặc vô thần!
Quyết nung sôi trong tim gan uất hận thù chung!
Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Ta quyết tâm xây dựng nông thôn.
Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Dân với anh cán bộ lên đường.
Cùng tận diệt lũ giặc hại dân,
Cùng rào làng xây ấp dựng thôn,
Cùng tạo lập nên đời sống mới vẻ vang.
Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Ta quyết tâm xây dựng nông thôn.
Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Ta bước trên tiến bộ huy hoàng.
Ruộng đồng vàng cho gạo đầy sân,
Trường học làng vui đám trẻ con,
Ngày hòa bình tin rằng sẽ hết lầm than.
Cán bộ với dân tuy hai là một,
Cán bộ với dân trong một thành hai.
Dân tin yêu mến thương cán bộ,
Vui bên nhau góp phần tranh đấu,
Cùng đắp xây Việt Nam.
*
Ban Chính Huấn
Nhân Dân Tự Vệ Hành Khúc
Từng khu phố đứng lên!
Từng thôn ấp vùng lên!
Canh gác đêm ngày,
Đừng cho phiến cộng về đây.
Từ cháu nhỏ còn xanh màu mắt,
Đến mẹ quê mái tóc bạc phơ,
Góp công hăng say giữ yên quê nhà,
Từ những nàng mùa xuân vừa chớm,
Đến cậu trai nhựa sống trào dâng,
Quyết tâm người người chống lũ xâm lăng!
Nhân Dân Tự Vệ vang lên lời thề:
- Không để quân thù tàn phá quê nhà ta...
Nhân Dân Tự Vệ với kiểu nón Django
Nhân Dân Tự Vệ tại Mỹ Tho năm 1968
||| Người Lính Không Số Quân
Tiếng điện thoại reo lúc 10 giờ tối. Tôi đang lim dim, chợt bừng tỉnh ngồi dậy bắt điện thoại:
— A-lô, xin lỗi ai đầu dây?
Tiếng người bên kia đầu dây:
— Dạ, em đây! Anh còn nhớ em không?
Tôi ngập ngừng vì chưa nhận ra người gọi:
— Em là ai mà gọi anh giờ này?
Tiếng cười lanh lãnh bên kia đầu dây:
— Dạ, em là Bình đây, Bình “Nhân Dân Tự Vệ” ở ấp Phú Cường đó. Anh nhớ chưa?
Tôi ồ lên một tiếng vì hình ảnh cậu “Nhân Dân Tự Vệ” tên Bình ngày xưa hiện rõ mồn một trước mặt. Không giấu vẻ ngạc nhiên, tôi hỏi:
— Ủa Bình! Em đang ở đâu mà sao biết số điện thoại anh?
Trong câu chuyện trao đổi với Bình, cậu NDTV gợi lại trong tôi bao kỷ niệm u hoài ray rức mà cho đến bây giờ, sau bao thăng trầm vẫn còn dằn vặt.
Lúc ấy, cậu bé Bình mới độ tuổi 15 nhưng có vóc dáng to cao như một chàng thanh niên cường tráng. Tình hình chiến sự leo thang, cấp độ phòng thủ an ninh xã ấp rất là nghiêm ngặt. Bọn du kích Việt cộng đột nhập về thôn xóm thường xuyên. Cậu bé Bình đã thân lên tận Quận xin được vào gặp tôi. Lý do là cậu ta xin tình nguyện nhận khẩu Trung Liên BAR, vũ khí liên thanh cả trung Đội NDTV chỉ có một khẩu. Tôi ngập ngừng suy nghĩ vì Bình chưa đủ tuổi để được cấp phát loại vũ khí này. Với vai trò Chỉ Huy Trưởng NDTV, tôi giải thích với Bình loại vũ khí này có tầm sát hại nhanh, tôi ngại là em xử dụng không cẩn trọng có thể đưa đến cái chết cho rất nhiều dân thường.
Đêm nào có Việt cộng về ấp, nơi nào có tiếng súng nổ, là Bình có mặt
Bình vừa khóc vừa kể lể về cái chết bi thương của cha cậu là một Xã Trưởng bị Việt cộng sát hại. Tiếng khóc của Bình khiến tôi não lòng xao xuyến, bồi hồi nhớ lại một kỷ niệm đau lòng mà trong đó tôi là người có dự phần trách nhiệm.
Ông Xã Trưởng Hòa cha của Bình là một cán bộ xã ấp ưu tú, có thành tích xuất sắc ngăn chận du kích Việt đột nhập vào đốt phá sập trụ sở xã ấp. Tình hình an ninh ở xã của ông đặt trong tình trạng báo động đỏ. Trước ông, đã có hai ông xã trưởng và một ấp trưởng bị Việt cộng sát hại thế nên ngoài ông ra không có cán bộ nào dám nhận lãnh vai trò xã trưởng. Là một xã trưởng có tinh thần chống Cộng cao độ, ông Hòa có sáng kiến “Dĩ độc trị độc”. Cứ đêm đến, ông cho tập trung những thân nhân của bọn Việt cộng thoát ly vào ngủ trong trụ sở xã ấp rồi rào lại bên ngoài. Kể từ đó, bọn du kích Việt cộng không dám mò về đặt chất nổ giựt sập trụ sở xã ấp nữa. Những lần “mũi công tác Việt cộng cơ sở” mò về xóm đều bị toán NDTV do ông chỉ huy chặn đánh phải rút lui bỏ lại vài ba xác chết. Chịu nhiều thiệt hại và không hoạt động được, Việt cộng đã rãi truyền đơn lên “Án Tử Hình” ông xã trưởng Hòa.
Lúc này, nhận chức hành xử quyền chỉ huy tôi phải tự mình quyết định mà không có vị thầy bên cạnh để tham vấn khi gặp khó khăn. Lúc bấy giờ tôi mới thấy thực tế trường đời có những điều khó khăn phức tạp mà mái trường Hành Chánh không cung cấp đủ hành trang để tôi có thể ứng phó với thực tế.
Trước đe dọa cho an nguy bản thân, ông Xã Hòa đã lên Quận gặp tôi xin phép được cho nghĩ việc. Là một cấp chỉ huy, tôi bị đặt trong tình thế khó xử. Làm thế nào có thể lấy một quyết định đúng giữa một bên là trách nhiệm giữ gìn an ninh xã ấp một bên là sự an nguy của một cấp thừa hành mà tôi rất trân trọng kính mến? Tôi phân vân không biết lấy quyết định nào. kiểm điểm lại những năm tháng học ở nhà trường, không có môn học nào dạy tôi phải lấy một quyết định khó khăn đến thế. Lúc này, nhận chức hành xử quyền chỉ huy tôi phải tự mình quyết định mà không có vị thầy bên cạnh để tham vấn khi gặp khó khăn. Lúc bấy giờ tôi mới thấy thực tế trường đời có những điều khó khăn phức tạp mà mái trường Hành Chánh không cung cấp đủ hành trang để tôi có thể ứng phó với thực tế.
Thấy tôi suy tư do dự, ông Xã Trưởng Hòa tiếp một đòn tâm lý:
— “Ông P. thương giùm hoàn cảnh của tôi với chín đứa con nhỏ. Nhỡ tôi có bề gì thì tội nghiệp cho bầy con nhỏ dại...”
Vốn là người giàu tình cảm dễ cảm xúc, tôi lại càng nao núng. Cuối cùng tôi kỳ hẹn với ông ta là trong vòng ba ngày, tôi sẽ cho ông biết quyết định sau khi tôi tham khảo với ông Trung Tá Quận Trưởng. Hiện thời tôi yêu cầu ông ráng nhận trách nhiệm thêm ba ngày nữa.
Ông Xã Hòa bắt tay tôi cám ơn và quay lưng bước ra khỏi văn phòng Quận. Nhìn từ phía sau lưng, dáng đi của Ông Xã Hòa, tôi chợt bị ám ảnh của khoa Tướng Mệnh Học mà từ nhỏ đã được đọc trong tủ sách của ông chú. Ông Xã Hòa vóc người mập mạp chắc nịch rắn rõi nhưng nếu nhìn từ phía sau lưng ta có cảm tưởng cái đầu ông gắn lên giữa đôi vai mà không có cổ. Đây là điểm kỵ khắc tướng trong Khoa Tướng Mệnh có thể đưa đến cái chết bất đắc kỳ tử. Ý nghĩ này khiến tôi đâm ra lo ngại cho sự an nguy của ông ta.
Hai ngày sau, tin ông Xã Hòa tử nạn trong đêm Việt cộng tấn công vào xã sau khi đã dũng cảm chỉ huy anh em NDTV chống cự. Ông đã bị một quả mìn Claymore Việt cộng gài nổ ngay cổng trụ sở với cái chết không toàn thây. Tôi và ông Quận Trưởng hôm sau đến tận nhà đang khâm liệm viếng tang. Vừa bước vào với một nhà khăn tang trắng, tiếng khóc của vợ con ông Xã Hòa não nề, lòng tôi như chết lặng. Tay run run đặt lên quyển Thánh Kinh trước quan tài người quá cố, nước mắt tôi tuôn rơi không thể nói được một lời nào phân ưu với gia đình. Oan nghiệt thay! Quyết định của tôi đã đưa tới cái chết đau thương không những của một chiến hữu đáng kính mà còn gây đau khổ cho cả một gia đình với bầy con chín đứa nheo nhóc! Tôi tự trách mình đã làm một quyết định sai lầm đưa đến cái chết oan nghiệt của một người cộng sự mà tôi mến thương nhất. Nỗi niềm ân hận này cứ dày vò dằn vặt đeo đuổi theo tôi cho mãi cho tới tận bây giờ...
Nghĩ tới đây, tôi mới hiểu lý do mà Bình, với tuổi đời 15 đã tự nguyện xin nhận lãnh khẩu Trung Liên BAR. Tôi đồng ý sau khi cậu ta nài nĩ nhưng lại đâm lo. Cha cậu đã hy sinh vì chính nghĩa giữ gìn an nguy làng xóm. Bây giờ giao súng liên thanh nhỡ cậu ta có mệnh hệ nào thì sao?
Nghĩ tới đây, tôi mới hiểu lý do mà Bình, với tuổi đời 15 đã tự nguyện xin nhận lãnh khẩu Trung Liên BAR. Tôi đồng ý sau khi cậu ta nài nĩ nhưng lại đâm lo. Cha cậu đã hy sinh vì chính nghĩa giữ gìn an nguy làng xóm. Bây giờ giao súng liên thanh nhỡ cậu ta có mệnh hệ nào thì sao? Tôi lại phải chọn một quyết định khó khăn nữa trong vai trò chỉ huy và không biết chắc rằng quyết định lần này đúng hay sai. Với khẩu trung liên BAR trong tay, đêm nào có Việt cộng về ấp, nơi nào có tiếng súng nổ, là Bình có mặt, xông xáo bắn rát khiến bọn chúng phải rút lui để lại một hai xác chết. Với thành tích của Bình, tôi và ông Quận xuống tận nơi gắn huy chương cho cậu NDTV dũng cảm gan dạ.
Với thành tích “diệt Cộng” vang dội, cậu NDTV 15 tuổi phải gánh những năm tháng lao tù cải tạo, chịu đựng những gian khổ đời tù kéo dài nhiều năm cũng như các sĩ quan chỉ huy chúng tôi. Dù được phân phối ở khác đội trong nhà tù nhưng Bình luôn tìm dịp ghé qua chào tôi. Có lúc tôi bị cơn sốt rét hoành hành, trông tiều tụy xanh xao, Bình đã đến ôm tôi vỗ nhẹ vai, ghé tai nói nhỏ khích lệ:
— “Ông P. ráng cố gắng lên... mình không sao đâu.”
Bị giam giữ trên vùng mật khu âm u chướng khí, hằng ngày phải chứng kiến rất nhiều anh em bạn tù lần lượt ngã gục vì sốt rét cấp tính. Tôi bệnh ngất ngư chỉ nằm thoi thóp vì không thuốc men chữa trị. Lúc bấy giờ, Việt cộng đã tiến chiếm thủ đô Sài Gòn nên chúng tôi được lệnh di chuyển xuống đồng bằng. Chúng ra lệnh cho nhiều anh em bệnh nhân đang nằm la liệt là tất cả mọi người phải tự đứng lên dời trại, không đi nỗi cũng phải ráng đi. Ai không đi được sẽ bị bỏ lại nơi rừng thẳm làm mồi cho thú dữ.
Trong lúc mọi người sửa soạn hành trang khăn gói lên đường, cậu NDTV Bình lại đến ghé tai tôi nói nhỏ:
— Ông P. ráng đứng lên cố gắng đi, em sẽ dìu ông xuống núi.
Tôi thều thào nói với Bình:
— Anh chắc không đi nỗi đâu em. Thôi, em cứ đi theo mọi người đi, đừng bận tâm đến anh.
— "Không không", Bình nói, "Dù thế nào em cũng phải dìu ông đi."
Thế là Bình xốc tôi đứng dậy, một vai mang ba lô một tay choàng qua vai dìu tôi từng bước. Đường núi đá gập ghềnh gai nhọn, hai chúng tôi không theo kịp đoàn người phía trước, có lúc tưởng như lạc giữa rừng già. Trời nắng chát, áo Bình ướt đẫm mồ hôi nhưng tội nghiệp Bình mệt thở dốc mà vẫn cố dìu tôi khập khễnh nặng nhọc xuống núi, miệng khuyến khích:
— “Ông P. ráng lên!”
Cuối cùng hai chúng tôi ra khỏi đường núi xuống đồng bằng mới biết là đoàn người đã đến hạ trại từ lâu. Lần này, nhờ có Bình mà tôi thoát chết không bị bỏ lại giữa rừng già...
Cú điện thoại đột ngột của Bình đưa tôi về quá khứ cách đây gần bốn mươi năm. Tôi nhớ lại như in khuôn mặt của cha con ông Xã Trưởng Hòa đã để lại trong tôi dấu ấn không quên. Tôi đã mang món nợ xương máu với gia đình, vợ con ông Xã Trưởng vì quyết định của mình. Đúng hay sai tôi chưa biết nhưng dù sao tôi đã có can dự vào cái chết thê thảm của “một cán bộ dũng cảm trung kiên hào hùng với chính nghĩa Quốc Gia”. Nỗi ám ảnh về cái chết của ông luôn trở về dằn vặt đeo đuổi theo tôi bao năm tháng khó quên!
Riêng với Bình, người em NDTV. Tôi đã nợ em nhiều lắm. Lực lượng NDTV không được hưởng bỗng lộc gì của chính thể Cộng Hòa, không số quân, không cấp số. Chỉ với tấm lòng “BẢO QUỐC AN DÂN”, em và lực lượng NDTV đã chiến đấu đơn độc để bảo vệ sự bình yên cho thôn xóm. Phải gọi lực lượng NDTV như em là “người chiến sĩ không có số quân.”
Một cán bộ dũng cảm trung kiên hào hùng với chính nghĩa Quốc Gia
Để rửa mối thù Việt cộng giết cha mà em đã dũng cảm chiến đấu, nơi nào có tiếng súng nổ là em ôm súng Trung Liên BAR lao vào trận chiến. Em đã lập được chiến công. Em không được sự tưởng thưởng nào của chính phủ Cộng Hòa ngoài tấm huy chương và 5,000 đồng bạc mà tôi và ông Quận Trưởng đã móc tiền túi tưởng thưởng cho em.
Lúc tàn cuộc chiến, em lại gánh món “NỢ TÙ” thời hạn ngang với hàng sĩ quan cấp Đại Úy. Lúc vinh thì em không được hưởng cấp bực bỗng lộc gì của chính quyền nhưng khi hoạn nạn sa cơ thì em lại trải qua những đày đọa trả thù đắng cay của kiếp tù như bao chiến sĩ khác. Em đã tận lòng trung dũng với nước non và là thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Cuối cùng rồi trời không phụ người. Theo lời em kể lại, em được ra khỏi tù sau sáu năm bị trù dập trong trại cải tạo. Thời hạn sáu năm tù của em là cấp bậc để em được đi theo diện H.O. và đã định cư ở một tiểu bang miền Nam. Em đã có vợ và hai con đều đang học trung học. Bình và vợ đều có công ăn việc làm ổn định.
Tôi rất mừng khi được biết em đã thoát khỏi sự trả thù và tìm được cuộc sống bình yên ở xứ người.
Bình em, người chiến sĩ Nhân Dân Tự Vệ!
Anh không thể nào trả được "món nợ ân tình" của em và "món nợ xương máu" đối với gia đình em. Nhưng anh luôn ghi khắc tấm lòng thủy chung với đất nước mà ba em và em đã đóng góp và đã chịu hy sinh. Anh cầu chúc cho Bình—người chiến sĩ NDTV không số quân--và gia đình em luôn được cuộc sống an lành./.
Ngư Sĩ
http://www.vnch.ca/nguoilinhkhongsoquan.htm
Tháng 4/ 2016
Nhân Dân Tự Vệ cùng cảnh sát Dã Chiến tại Vũng Tàu 1968
Chiến-Sĩ Áo-Đen
Thân tặng Áo-Đen Cán-Bộ & Đơn vị yểm trợ Đoàn CB/XDNT.
Hương Quế
28 năm trời qua, các vị tiền bối khai sinh ra ngành Cán bộ XDNT, đã bỏ rơi những đứa con, mà ngày xưa quí vị ấy từng cho là “con yêu tổ quốc”, họ không hưởng bổng lộc chỉ tượng trưng bằng thù lao nhỏ nhoi. Họ không được trang bị đầy đủ phương tiện để bảo vệ bản thân, họ phải dùng tài khôn khéo để tự vệ, lấy máu để viết nên trang sử đầy vẽ vang cho VNCH, những chứng tích đó người chiến sĩ Áo-đen chưa bao giờ nhận được sự bù đắp tương xứng! Mặc dù họ không dự phần vào việc bỏ rơi đất nước, họ vẫn chấp nhận ở lại và gánh chịu chung số phận tù đày như mọi người từ 5 năm trở lên. Cái số của họ dường như đã được định sẵn, họ ra đi theo chương trình nhân đạo (H.O.) cũng quá muộn màng và nơi đất tạm dung này, chưa bao giờ được nghe nhắc đến tên người Cán Bộ XDNT.
Thế mà vẫn có những tâm hồn người chiến sĩ Áo-đen, khắc khoải thâu đêm với giấc ngủ chập chờn, mà tâm tư vẫn đầy ấp kỷ niệm cũ đang bừng trổi dậy, gợi nhớ từng luống cải, vườn rau, nhớ từng khốm tre bụi chuối, nơi miền thơn dã có ánh trăng lơ lửng trên nền trời xanh yên lành mà nơi đó họ đã một thời “làm con làm cháu xóm làng”.
Cải tuyển từ các ngành, sát nhập vào Cán Bộ XDNT, họ cho đó là ước nguyện của mình, là yếu tố cần thiết để cho họ vốn sinh ra và lớn lên nơi đồng hương, cỏ nội và cũng là một cơ hội để gần gủi với làng quê có nắng ấm chan hòa. Cũng từ đó, họ được thụ huấn bổ túc trong một khuôn khổ, mẫu mực, kỷ cương từ chính trị, quân sự đến y tế, xã hội, tâm lý chiến nơi Trung Tâm Huấn Luyện Chí Linh, Lam Sơn, Hồng Lĩnh để trở thành một Cán Bộ nồng cốt, tung về địa phương thực hiện một Ấp Đời Mới thí điểm, căn bản dựa trên đường lối chủ trương của chính thể VNCH với mô hình xây dựng 11 mục tiêu, 98 công tác, bốn Tư Tưởng chỉ đạo: Cải tổ hành chánh xã ấp, Thực Thi dân chủ pháp trị, Canh Tân đời sống nông thôn...
Với hành trang mà Huấn Trường đã ủy thác, trách nhiệm quá to lớn hơn tuổi đời của họ lúc bấy giờ. Họ chập chửng bước đi từng bước một trong 98 công tác mà bên tai họ vẫn còn văng vẳng lời thuyết trình của huấn luyện viên đặc trách Khối Chính Trị của Trung Tâm Huấn Luyện với đề tài “Chính sách của VNCH qua các chương trình xây dựng Xã Ấp”. Thật là hùng hồn, thật là đầm ấm như hòa nhịp vào bước chân họ, trãi dài trên khắp đường mòn thôn xóm.
Trọng trách của người Cán Bộ XDNT là làm thế nào để xây dựng một Ấp Đời Mới trong vùng xơi đậu, tạo cho lòng dân hướng về chính nghĩa Quốc Gia và tin tưởng vào đường lối chủ trương của Chính Thể VNCH, nhầm tiêu diệt kế hoạch “lấn đất giành dân” của cộng sản.
Một đề tài ngắn ngủi nhưng mà hàng loạt kế hoạch được đặt ra: nghiên cứu, dân vận, chiêu hồi, xây dựng đồn thể, bảo tồn văn hóa...
Nơi vùng xôi đậu, ban ngày Đoàn Cán Bộ XDNT đi điều nghiên, kiểm tra dân số, phân loại quần chúng, tiếp nhận chiêu hồi đều có quân đội yểm trợ, ban đêm quân đội rút về nơi đồn trú, có hệ thống phòng thủ, để lại Đồn Cán Bộ XDNT với vũ khí thô sơ, chỗ ngủ là chuồng trâu bò, tòn ten mấy chiếc võng, lấy thân trâu bò và mấy thùng cỏ làm bia đỡ đạn, đêm về nằm nghe tiếng trâu bò nhơi cỏ, tiếng vo ve của đàn muỗi mà “thấy đời mang cả ý thơ”, bất cứ tiếng động nhỏ nào cũng được mọi người đề cao cảnh giác. Có những đêm tối trời, mở con mắt thật to, quan sát tứ phía, mà vẫn bị đặt mìn, loại mìn định hướng, tiếng nổ xé tan màn đêm cô tịch, làm tan nát cỏi lòng, nhưng người Cán Bộ XDNT vẫn chấp nhận hy sinh tuổi trẻ đời mình cho Tổ Quốc Việt Nam muôn đời lụa là gấm vóc.
Người chiến sĩ Áo-đen chỉ biết phó mặc vào số mạng, họ khôn khéo hòa mình với dân, làm cho dân thương mến, nên đề phòng trước được mọi việc nguy hiểm có thể xảy ra để tự cứu mạng mình.
Họ thực hiện những gì đã được học hỏi nơi Huấn Trường, đoàn Cán Bộ XDNT đã đem đến cho người dân nông thôn một đời sống ấm no thực sự:
Tiếng cười rộn rã trên Ấp Đời Mới, ngôi trường làng ê a tiếng hát trẻ thơ, trạm xá có người phát thuốc, con đường đất dẫn đến ngôi đình, chùa cao ráo, thuận tiện cho bà con chiêm bái vào những ngày lễ hội...
Mồ hôi và sương gió đã muối trắng vai áo người chiến sĩ Áo-đen âm thần nơi thôn xóm, họ xây dựng nông thôn bằng bầu nhiệt huyết đã khắc ghi qua lời tuyên thệ sau ngày mãn khóa, trong những giờ suy tư bên đồng đội hàng đêm nơi Vũ Đình Trường, những giây phút thiêng liêng ấy đã in hằn trong tiềm thức mọi người dù sông có cạn, núi có mòn, người chiến sĩ Áo-đen vẫn giữ mãi trong lòng những lời thề sắc son đó.
Ngày 30 tháng tư năm 1975, đất nước đi vào ngã rẽ, một lần nữa cảnh sống lầm than, cơ cực lại bao trùm lên Ấp Đời Mới năm xưa, người dân nông thôn vô tội, bị kềm kẹp, hà khắc, lại còn bị bắt bớ giam cầm bởi cộng sản khát máu. Người chiến sĩ Áo-đen cũng cùng chung số phận, họ bị bắt giết hoặc bắt đi “tù cải tạo” trong các trại tập trung và còn bị gán cho cái tội là “Bình Định Ác Ôn”.
Từ đó, bóng dáng những chiếc Áo-đen mờ dần trong thôn ấp, nhưng lòng người dân vẫn còn hồi vọng nhớ mong:
Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn:
“Đến dân Mừng - Đi dân Nhớ - Ở dân Thương”.
Hôm nay tưng bừng giữa mùa Đại Hội, rực lên màu cờ vàng khắp nơi trên đất Mỹ, cũng là ngày ghi nhớ lần đầu tiên Ủy Ban Tổ Chức Đại Hội Toàn Quân vừa nhận lại đứa con yêu mà mình quên lãng đã 28 năm qua, đó là Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn.
Hương Quế
Gia đình CB/XDNT Bắc Cali
Sau khi Dương Văn Minh lật đổ và giết anh em TT Ngô Đình Diệm xong, phản tướng Dương Văn Minh cho ra lệnh hủy bỏ chính sách Ấp Chiến Lược, Khu Dân Sinh ở Miền Nam! Việt cộng sau đó đã lợi dụng tình thế chính quyền bỏ ngõ, xâm nhập và trà trộn, đặt cài tình báo, đặc công, nằm vùng trong mọi ngành, mọi nơi, mọi cơ sở vào Miền Nam như chốn không người!
Một số cán bộ VC/vixi/Việt cộng nằm vùng sau đó đã tuồn vào các chùa Phật giáo và lập tức họ trở thành đại đức, thượng tọa; chức sắc rất cao... mở màn cho những xáo trộn, biến loạn từ Biến Động Miền Trung, Phật Giáo Xuống Đường, đến thảm sát Tết Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, và cuối cùng Mất Nước tháng 4 năm 1975!
Những Chiến Sĩ Bị Lãng Quên
.........................................................................
Tôi thương anh lính Nghĩa Quân,
Ngày đêm diệt giặt giúp dân xóm làng,
Cuộc sống vất vả nghèo nàn,
Nhưng anh vui vẻ giữ làng, quê hương.
Tôi thương anh lính Địa Phương,
Bình định lãnh thổ phố phường an khang,
Thân anh cũng lắm gian nan,
Quyết tâm diệt cộng dã man đê hèn.
Tôi thương Chiến Sĩ Áo Đen,
Xây dựng thôn ấp thân quen dân làng,
Mặc dầu không được võ trang,
Nhưng bọn Việt cộng nể nang anh nhiều.
Chiến sĩ thầm lặng mến yêu,
Các anh không được kể nhiều công lao.
Ít được sách vở hô hào,
Nhưng dân quí mến đâu nào có quên.
Muôn đời đất nước nhớ tên,
Các anh đáng được ghi lên bảng vàng.
Khi nào đất nước bình an,
Ta về thăm lại xóm làng năm xưa.
Chiến hữu Nguyễn Minh Châu
Xin ghi ơn các chiến sĩ Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, CBXDNT