Showing posts with label Quân Đội. Show all posts
Showing posts with label Quân Đội. Show all posts

Thursday, January 5, 2023

Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa [VNCH]




Thủy Quân Lục Chiến VNCH

Huy Hiệu Thủy Quân Lục Chiến

Huy Hiệu Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến


-

00

0


1


Nón 3 cạnh





00


0 1


02


03


04


05

 

 photo maxresdefault 1_zpsqdeha7br.jpg

 

 


 

 

 photo maxresdefault 1_zpsqdeha7br.jpg

 



06


07


08



09
 photo scans611_zps7qu6l894.jpg

 

Thủy Quân Lục Chiến hành khúc



Thủy Quân Lục Chiến VNCH



 photo T242_nh_sdtqch_hk_732x1000_zpsntwkbvnv.png


 

Thủy Quân Lục Chiến Hành Khúc
https://youtu.be/sh7FQ3moIaw

 

 

Thủy Quân Lục Chiến

 



Thủy Quân Lục Chiến VNCH



 photo BQuacircn.jpg




Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến

Sau Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến là một lực lượng kỳ cựu của quân đội VNCH, xuất thân từ các Đại Đội Commandos, Đại Đội Yễm Trợ Giang Đoàn của hai quân chủng Hải Quân và Lục Quân (Quân chủng là những lực lượng lớn mà trong đó có thành phần là những lực lượng nhỏ, binh chủng hay sư đoàn). Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được chính thức thành lập từ Sắc Lệnh ngày 15.10.1954 do Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ký ban hành. Hai điều khoản 1 và 3 của Sắc Lệnh quy định rõ nhiệm vụ của Thủy Quân Lục Chiến như sau:

Điều khoản 1: Hiệu lực kể từ ngày 1.10.1954, nay thành lập trong tổ chức Hải Quân Việt Nam một binh chủng bộ binh đặc trách kiểm soát các thủy trình và thực hiện những cuộc hành quân thủy bộ dọc theo bờ biển Nam Hải và trong sông ngòi, mang tên “Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến” hay “Bộ Binh Hải Quân”.

Điều khoản 3: Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến sẽ gồm nhiều đơn vị khác nhau tùy theo nhiệm vụ, đã có sẵn trong quân chủng Hải Quân và Lục Quân, hay sẽ được thành lập tùy theo kế hoạch phát triễn của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 1.1.1955, các Đại Đội Commandos (cũng thuộc quyền điều động của Pháp và vào Nam sau ngày 20.7.1954) cùng các Đại Đội Yễm Trợ Giang Đoàn được kết hợp nâng lên thành Tiểu Đoàn 1 TQLC. Sau đó là việc hình thành Tiểu Đoàn 2 TQLC. Quân số tăng trưởng đến cấp liên tiểu đoàn, nên có đề nghị từ cấp chỉ huy TQLC cho nâng binh chủng lên ngang tầm với Nhảy Dù, trở thành một binh chủng biệt lập với Hải Quân và được làm lực lượng Tổng Trừ Bị cho Bộ Tổng Tham Mưu. Kế hoạch này mãi đến năm 1965 mới được chấp thuận, Bộ Tư Lệnh TQLC được thành lập để chỉ huy hai Chiến Đoàn TQLC với:

- 5 tiểu đoàn TQLC và
- 1 tiểu đoàn Pháo Binh.

Tách ra khỏi Hải Quân và chính thức mang danh xưng dầy kiêu hãnh: Tổng Trừ Bị của QLVNCH.

Sau Tết Mậu Thân 1968, với thành tích chiến thắng ở hai mặt trận lớn là Sài Gòn và Huế của Thủy Quân Lục Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu thấy đã đến lúc cho thành lập Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Đến năm 1970 thì Sư Đoàn có ba Lữ Đoàn với chín tiểu đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh và các tiểu đoàn yễm trợ tiếp vận. Tình hình chiến trường sau năm 1968 đã trở nên nặng độ, một Sư Đoàn Dù không đủ cáng đáng được nhiều mặt trận lớn cùng một lúc, Sư Đoàn TQLC nhận vinh dự làm lực lượng Tổng Trừ Bị QLVNCH, hãnh diện sánh vai và chia sẻ gánh nặng chiến trường với Sư Đoàn Nhảy Dù, nhưng vẫn giữ nhiệm vụ khởi đầu từ năm 1954 là hành quân thủy bộ, kiểm soát vùng biển và sông ngòi Miền Nam.


3


4


5




Cấp bậc trong SĐTQLC-QLVNCH Sĩ Quan --Hạ sĩ quan

1





2


Cấp bậc trong SĐTQLC-QLVNCH Sĩ Quan
3



4


-----------------
5



6



2


Mạnh Như Sóng Thần


Trâu Ðiên (Crazy Buffalo), danh hiệu được Bộ Tư Lệnh TQLC chấp thuận cho mang, biểu tượng cho sự Cảm Tử, Hy Sinh và Dũng Mãnh. Trâu Ðiên chỉ biết húc tới, hăng và dũng mãnh.

 

#395F60

3

Mạnh Như Sóng Thần

Danh xưng Trâu Ðiên được Bộ Tư Lệnh TQLC chấp thuận, biểu tượng cho sự Cảm Tử, Hy Sinh và Dũng Mãnh. Trâu Ðiên chỉ biết húc tới hăng và xung phong đánh Cộng.





Mạnh Như Sóng Thần


Trâu Ðiên (Crazy Buffalo), danh hiệu được Bộ Tư Lệnh TQLC chấp thuận cho mang, biểu tượng cho sự Cảm Tử, Hy Sinh và Dũng Mãnh. Trâu Ðiên chỉ biết húc tới, hăng và dũng mãnh.

 


2


Mạnh Như Sóng Thần


Trâu Ðiên (Crazy Buffalo), danh hiệu được Bộ Tư Lệnh TQLC chấp thuận cho mang, biểu tượng cho sự Cảm Tử, Hy Sinh và Dũng Mãnh. Trâu Ðiên chỉ biết húc tới, hăng và dũng mãnh.

 

#395F60



Mạnh Như Sóng Thần

Danh xưng Trâu Ðiên được Bộ Tư Lệnh TQLC chấp thuận, biểu tượng cho sự Cảm Tử, Hy Sinh và Dũng Mãnh. Trâu Ðiên chỉ biết húc tới hăng và xung phong đánh Cộng.



 

#395F60 #304F50

 



box-shadow:-10px -14px 14px aquamarine;


Mạnh Như Sóng Thần

Danh xưng Trâu Ðiên được Bộ Tư Lệnh TQLC chấp thuận, biểu tượng cho sự Cảm Tử, Hy Sinh và Dũng Mãnh. Trâu Ðiên chỉ biết húc tới hăng và xung phong đánh Cộng.



 

 

Tuesday, December 6, 2022

Những Người Lính Triều Nguyễn



Những người lính triều Nguyễn đã sử dụng loại súng nào?

What type of firearms did the Nguyen dynasty soldiers use?


Development of economy, law, culture, society, etc. With many activities and specific policies, especially the Hoang Viet rules and regulations (Gia Long code), planned to build Hue capital and continued to establish Vietnam’s sovereignty over the Hoang Sa (Paracel) and Trương Sa (Spratly) archipelagoes.


Phát triển kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội, v.v... Với nhiều hoạt động và chính sách cụ thể, đặc biệt là các quy tắc và quy định của Hoàng Việt (bộ luật Gia Long), đã đặt kế hoạch xây dựng kinh đô Huế và tiếp tục thiết lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (Hoàng Sa) và Trương Sa (Trường Sa).

Các loại súng phổ biến nhất được sử dụng bởi những người lính của triều Nguyễn từ giai đoạn 1802 đến những năm 1860 là Saint-Étienne hoặc súng hỏa mai đá lửa Charleville (Model 1777).

The most common firearms that were used by soldiers of Nguyễn Dynasty from the period of 1802 to the 1860s were the Saint-Étienne or the Charleville flintlock muskets (Model 1777).


Hình: Vệ Binh Hoàng Gia (được trang bị súng hỏa mai và lưỡi lê), quân đội triều đình (được trang bị pikes và kiếm) của nhà Nguyễn vào năm 1830.

The Royal Guards (armed with muskets and bayonets) and regular troops (armed with pikes and swords) of Nguyễn Dynasty in 1830.

Sir John Crawfurd (1783–1868), một nhà ngoại giao Anh đã đến thăm Sài Gòn vào những năm 1820, đã quan sát cẩn thận quân đội Việt Nam và súng hỏa mai của họ, khi ông đưa ra một số nhận xét như sau:

"Quân đội được trang bị súng hỏa mai và lưỡi lê, hoặc bằng giáo; hai mô tả về vũ khí được trộn lẫn trong hàng ngũ theo tỷ lệ thường xuyên. Chúng tôi liên tục kiểm tra súng hỏa mai, và tìm thấy chúng theo thứ tự rất tốt. Chúng được chăm sóc rất cẩn thận, và khi hàn không có nhiệm vụ luôn được che đậy".

(Tạp chí của một đại sứ quán từ Toàn Quyền Ấn Độ đến các tòa án của Xiêm và Cochin Trung Quốc, Tập 2, Luân Đôn, 1830, trang 291).

Mặt khác, liên quan đến pháo binh và các loại súng khác, nhà Nguyễn cũng có một số lượng, đáng kể đại bác, từ cỡ nòng nhỏ đến cỡ nòng lớn với các loại đạn đại bác khác nhau.

Các loại vũ khí bộ binh khác nhau của Quân đội nhà Nguyễn trong thế kỷ XIX. Ảnh chụp từ "Connaissance du Viet-nam" (1954), một cuốn sách tiếng Pháp do Pierre Huard và Maurice Durand viết:

Dưới thời trị vì của Hoàng đế Gia Long (1802–1820), Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ở châu Á có rất nhiều súng hỏa mai đá lửa phương Tây và súng cầm tay các loại.


The personal flintlock musket of Emperor Gia Long, with the inscription on the stock.

Dưới thời trị vì của Hoàng đế Minh Mạng (1820–1841), mỗi trung đoàn quân sự (500–600 quân) có 02 khẩu đại bác và 200 khẩu súng hỏa mai, với tỷ lệ 04 lính ngự lâm trên 10 binh sĩ. Các khẩu súng hỏa mai được bảo quản kỹ lưỡng và trong điều kiện tuyệt vời, với trang bị có sẵn lưỡi lê.


Hình: Một lưỡi lê có ổ cắm gài, điển hình từ đầu thế kỷ 19.


Hình: Hoàng gia hay Vệ binh Hoàng gia (Garde Royale) của nhà Nguyễn năm 1863. Tất cả đều được trang bị giáo, khiên và súng hỏa mai Saint-Étienne (Model 1777).

The Imperial or the Royal guards (Garde Royale) of Nguyễn Dynasty in 1863. All were armed with spears, shields and Saint-Étienne muskets (Model 1777).

Trong lịch sử, nhà Nguyễn ở Việt Nam đã xây dựng và duy trì một lực lượng quân sự hùng mạnh, bao gồm Vệ binh Hoàng gia ("Cấm binh"), lãnh trách nhiệm bảo vệ Thành Huế làm thủ đô và các vị trí chiến lược khác trên cả nước.

Historically, the Nguyễn Dynasty in Vietnam had built and maintained a strong military force, including the Imperial Guards (“Cấm binh”), which was in charge of defending the Citadel of Huế as the capital and the other strategic positions across the country.

Mặt khác, có năm Nguyên soái hay "Ngũ Quân" chỉ huy toàn quân, đó là:

-- "Trung Quân" (Nguyên soái của Quân đội Trung tâm),

-- "Tiền Quân" (Nguyên soái của Quân đội Mặt trận),

-- "Hậu Quân" (Nguyên soái của Lục quân phía sau),

-- "Hữu Quân" (Nguyên soái của Quân đội Cánh phải) và

-- "Tả Quân" (Nguyên soái của Quân đội Cánh tả).

On the other hand, there were five Marshals or “Ngũ Quân” who commanded the whole army, they were:

❖ The “Trung Quân” (Marshal of the Center Army),

❖ “Tiền Quân” (Marshal of the Front Army),

❖ “Hậu Quân” (Marshal of the Rear Army),

❖ “Hữu Quân” (Marshal of the Right Flank Army) and

❖ “Tả Quân” (Marshal of the Left Flank Army).


Hình tem: Lính Thú Thời Xưa

Cận vệ hoàng gia nhà Nguyễn ở thành Huế, 1874. Họ được trang bị một khẩu súng nhỏ, kiếm, dao, giáo, súng hỏa mai cố định lưỡi lê (hỏa mai), bình bột (bầu ngòi) & túi đựng hộp mực (bao tấu).
Imperial Guards of Nguyễn Dynasty in Huế Citadel, 1874. They were armed with a small canon, swords, knives, spears, bayonet-fixed muskets (hỏa mai), powder flasks (bầu ngòi) & cartridge pouchs (bao tấu).

The Imperial Guards of Nguyễn Dynasty during the XIX century.
At the beginning of the XIX century, the Nguyễn Dynasty’s Army, especially the Imperial Guards was still a strong and modern military force in Southeast Asia.
Unfortunately, during the French conquest of Vietnam (1858–1884), it was rapidly declined to a force with poorly armed solders and obsolete weapons.


Hình: Lính Thú Thời Xưa
South Vietnam Stamps 1972 Historic Frontier Guards

Bài học thuộc lòng

Lính Thú (1) Thời Xưa

Ngang lưng thì thắt bao vàng, (2)
Ðầu đội nón dấu (3) vai mang súng dài,
Một tay thì cắp hỏa mai, (4)
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền (ghe).
Thùng thùng trống đánh ngũ liên. (5)
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Ba năm trấn thủ lưu đồn, (6)
Ngày thì canh điếm (7), tối dồn việc quan.
Chém (đốn) tre, đẵn (chặt) gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai!
Miệng ăn măng trúc, măng mai,
Những dang (8) cùng nứa, lấy ai bạn cùng!
Nước giếng trong, con cá vẫy vùng.


Quốc Văn Giáo Khoa Thư
Lớp Sơ Ðẳng (Cours Elémentaire)

Chú thích:
1. Lính Thú: Lính đi đóng đồn miền xa, miền ngược.
2. bao vàng: Bao bằng vải vàng, đeo lưng.
3. nón dấu: Nón bằng lá trên có chóp bằng thau.
4. hỏa mai: Ngòi nổ dùng cho loại súng nạp trên (nạp tiền).
5. ngũ liên: Trống đánh từng hồi năm/5 tiếng.
6. lưu đồn: Ðồn nhằm canh giữ giặc cướp.
7. canh điếm: Trạm gác, điếm canh ngày đêm.
8. dang: Loại nứa giống như tre (không có trong Nam).

Lính ở đây, là lính thời nhà Nguyễn. Thời bấy giờ, tùy theo nhu cầu, xã thôn lập sổ đinh (sổ thanh niên trai tráng) trong xã rồi nộp giao cho quan huyện tập trung chuyển lên phủ, ở địa phương hoặc triều đình (trung ương) điều động theo nhu cầu.

Lính đời xưa Việt Nam đã có quân trang quân dụng:

- Lưng thắt dây vải vàng (thay vì dây nịt như ngày nay).
- Nón là nón dấu trên chóp làm bằng thau,
- Quân cụ thì lính được trang bị súng hỏa mai, loại súng nạp trên đầu (nạp tiền) và phải châm ngòi (quả mai) mới phát nổ được,
- Quân trang, lính bấy giờ còn đi chân đất chưa có giày dép như sau này.

"SÚNG HỎA MAI" Loại Súng Sơ Khai Nhất Của Nhân Loại
| Musket - Tanegashima - Arquebus

https://youtu.be/ida9teHHsFw


------------------------------------------


Tên gọi Việt Nam Map of Vietnam showing the conquest of the south (nam tiến, 1069-1757).

3118–2879 TCN Nước Xích Thần
thời Thần Nông Đế Viêm, Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai, vùng Núi Thái Sơn, Sông Trong Nguồn (Trung Nguyên)

2879–2524 TCN nước Xích Quỷ
Kinh Dương Vương, vùng Động Đình Hồ, núi Ngũ Lĩnh

2524–208 TCN Nước Văn Lang
Lạc Long Quân, Vua Hùng Vương, Phong Châu (Bắc Việt) cùng các nước Bách Việt

207–179 TCN Nước Âu Lạc
Âu Việt và Lạc Việt

204–111 TCN Nước Nam Việt
Thời Triệu Đà nhà Tần/Tàu

111 TCN–39 CN Quận Giao Chỉ
Thời Hán, Thái Thú Tô Định

40–43 Lĩnh Nam
Thời Hai Bà Trưng, vùng Lĩnh Nam tới Giao Chỉ
Đô Kỳ đóng ở Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.
(của vua Bà)

Thời Vua Bảo Đại, Việt Nam xưng đế, có hai nước Ai Lao, Cam Bốt liên minh. Đế Quốc Việt Nam

Thời ba nước Đông Dương / Liên Bang Đông Dương

Việt Nam


Ai Lao


Cam Bốt


Tháp Chàm / Việt Nam


**********************************************

Bonus:
Hồ Nguyên Trừng - Ông tổ của nghề đúc súng Thần Công Việt Nam

Great Ming Military

https://greatmingmilitary.blogspot.com/search?q=Early+Ming+variant

29 October 2015

Shen Qiang (神鎗)

Early Ming variant
Ming Dynasty Handgonne
Drawing of a dart-shooting Shen Qiang, from 'Wu Bei Zhi (《武備志》)'.


Phát minh của Thần Công thường được ghi nhận là của hoàng tử Việt Nam Lý Đức (黎澄, tên gốc Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng hoặc 胡元澄), được chụp trong thời nhà Ming xâm chiếm Việt Nam và sau đó Hồ Nguyên Trừng được triều đình nhà Minh trao một chức vị rất cao trong triều Minh để huấn luyện quân lính Minh dùng súng Thần Công. Tuy nhiên, các nguồn tin lịch sử vẫn im lặng về loại cải tiến mà ông Hồ Nguyên Trừng đã giới thiệu cho các loại súng hiện có ở Trung Quốc.

Shen Qiang (神鎗, lit. 'Divine gun' or 'Divine spear'), also known as Shen Ji Chong (神機銃, lit. 'Divine engine gun') and Shen Ji Huo Qiang (神機火鎗, lit. 'Divine engine fire lance'), is a  handgonne of the early Ming Dynasty. It is primarily designed to shoot a heavy metal-tipped dart made of Ceylon ironwood, said to be powerful enough to punch through two men and a horse at the same time, although it can also shoot lead shots or shrapnel.
Early Ming Dynasty handgonne
A Yongle period bronze handgonne with touch hole lid.
The invention of Shen Qiang is often credited to Vietnamese prince Li Deng (黎澄, original Vietnamese name Hồ Nguyên Trừng or 胡元澄), captured during the Ming conquest of Vietnam and subsequently given a position in the Ming court. However, historical sources are silent on what kind of improvement he introduced to existing Chinese firearms. Modern historians varyingly proposed gun dart, wooden sabot, touch hole lid, pre-measured gunpowder scoop, and general improvement in metallurgy with streamlined gun barrel design as the invention Li Deng brought to China. However, the use of gun dart and sabot predates Ming conquest of Vietnam. Additionally, while handgonnes with touch hole lids only appeared in China after the conquest, they still predate similarly designed handgonnes from Vietnam. As such, the most likely candidates for Li Deng's invention are metallurgical improvement and streamlining of gun barrel.

Phát minh của Thần Công thường được ghi nhận là của hoàng tử Việt Nam Lý Đức (黎澄, tên gốc Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng hoặc 胡元澄), Hình cây súng Thần Công - Drawing of a dart-shooting Shen Qiang, from 'Wu Bei Zhi (《武備志》được chụp trong thời nhà Minh khi họ xâm chiếm Việt Nam và ông Hồ Nguyên Trừng bị bắt đưa về Trung quốc, nhưng sau đó, ông Hồ Nguyên Trừng được trao một chức vị quan trọng trong triều đình nhà Minh vì nhà Minh dùng ông để dạy cho lính Tàu cách bắn súng Thần Công. Tuy nhiên, các nguồn tin lịch sử vẫn im lặng về loại cải tiến mà ông Hồ Nguyên Trừng đã giới thiệu cho các loại súng hiện có ở Trung Quốc.

Các nhà sử học hiện đại đã đề xướng khác nhau về phi tiêu của súng, phá hoại bằng gỗ, nắp lỗ phản ứng, muỗng thuốc súng đo trước và cải tiến chung trong luyện kim với thiết kế nòng súng được sắp xếp hợp lý như phát minh mà Li Deng (Lý Đức (黎澄) Hồ Nguyên Trừng), khi ông mang đến Trung Quốc. Có điều, Việc sử dụng phi tiêu súng và ổ đạn/sabot đã có trước khi nhà Minh xâm lược Việt Nam.

Ngoài ra, trong khi handgonnes/cà nông có nắp đậy lỗ phản ứng chỉ xuất hiện ở Trung Quốc sau cuộc xâm lăng Việt Nam, súng Thần Công chúng vẫn có trước các Cà Nông/handgonnes được phát minh tương tự từ Việt Nam. Như vậy, nhân vật sáng giá nhất cho phát minh của Lý Đức/Hồ Nguyên Trừng là cải tiến luyện kim và tinh giản nòng súng.

Although a devastating weapon for its time, Shen Qiang gradually fell into obsolescence by mid-to-late Ming period as more advanced firearms such as  Matchlock gun were introduced into Chinese arsenal (although it was never completely phased out). Ming general Qi Ji Guang (戚继光) complained that the wooden dart was expensive and unreliable, and sabot overcomplicates the reloading process, often leading to inexperienced gunners jamming the dart tip-first into the barrel in a panic.
Korean experience during the Imjin War also reveals that cannon-launched darts often shatter mid-flight before hitting their intended targets.


Mặc dù là một vũ khí tàn khốc vào thời điểm đó, Thần Công / Shen Qiang dần rơi vào tình trạng lỗi thời vào giữa đến cuối thời nhà Minh khi các loại súng tiên tiến hơn như súng matchlock đã được đưa vào kho vũ khí của Trung Quốc (mặc dù nó chưa bao giờ bị loại bỏ hoàn toàn). Tướng nhà Minh Tề Gia Quang (戚继光) phàn nàn rằng: Phi tiêu bằng gỗ đắt tiền và không đáng tin cậy, và sabot làm phức tạp quá trình nạp đạn, thường dẫn đến việc các xạ thủ thiếu kinh nghiệm kẹt đầu phi tiêu đầu tiên vào nòng súng trong hoảng loạn.
Kinh nghiệm của Đại Hàn trong Chiến Tranh Imjin cũng tiết lộ rằng: Phi tiêu phóng đại bác thường phá vỡ giữa chuyến bay trước khi bắn trúng mục tiêu dự định của chúng.


Late Ming variant
Drawing of a late Ming Shen Qiang, from 'Wu Bei Zhi (《武備志》)'.
Late Ming variant of Shen Qiang seems to be an attempt to improve the old handgonne (cannons)in order to keep up with the performance of more advanced firearms such as matchlock arquebus. It replaces the bronze barrel with a wrought iron one, and shoots poisoned lead shrapnel along with (flammable) rosin dust instead of the usual gun dart.

Biến thể cuối thời nhà Minh của Thần Công / Shen Qiang dường như là một nỗ lực để cải thiện cannons / cà nông cũ để theo kịp hiệu suất của các loại súng tiên tiến hơn như súng hỏa mai bóp cò súng = matchlock arquebus (firearm equipped with a trigger mechanism).
Nó thay thế nòng súng bằng đồng bằng một nòng sắt rèn, và bắn các mảnh đạn chì bị nhiễm độc cùng với bụi rosin (dễ cháy) thay vì phi tiêu súng thông thường.

Korean Chongtong (총통 or 銃筒)
Seungja Chongtong
Joseon Dynasty Seungja Chongtong (승자총통 or 勝字銃筒), a handgonne that can shoot either wooden dart or lead shot.
Koreans also inherited dart-shooting firearm from the Chinese and derived many new designs on their own (the first Hwacha, for example, was mounted with dart-shooting cannons instead of rockets). They also retained the use of gun dart for much longer.


Sabot là một thiết bị hỗ trợ được sử dụng trong các loại đạn pháo có súng để lắp / vá xung quanh một viên đạn như sên đạn, hoặc một viên đạn giống như flechette (chẳng hạn như một bộ xuyên thấu động năng và giữ nó thẳng hàng ở trung tâm của nòng súng khi bắn. Nó tạo lực một viên đạn hẹp hơn với mật độ mặt cắt cao được bắn qua một thùng lớn hơn nhiều đường kính lỗ khoan với accelerative transfer động năng. Sau khi rời khỏi lớp “họng súng", sabot thường tách ra khỏi đạn trong chuyến bay, chỉ chuyển hướng một phần rất nhỏ của động năng tổng thể.

Design[edit]

Function of an APFSDS sabot
      propellant
      propellant gases
      sabot
      gun barrel


      propellant
      propellant gases
      sabot
      gun barrel


------------------

      #a3def1


---------------------

      #f9ffbc


---------------------

      #cfc


---------------------

      #fcf


---------------------

      #cbe


---------------------

      #ffe8ff


---------------------

      #e4dcf6


---------------------

      #f0e1ff


---------------------

      #CCEEFF


---------------------

      #bfdfff


---------------------

      honeydew


---------------------

      Function of an APFSDS sabot


      Function of an APFSDS sabot