Cỡ đạn: 7.5 x 54 mm
Trọng lượng: 3.7 kg (không có gắp đạn)
Chiều dài: 1020 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853.6 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 270 m – 450 m
Băng đạn: 5 viên đạn
Súng tiểu liên Thompson, M1928, Mỹ chế tạo
--
Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 4.9 kg (kiểu M128A1), 4.8 kg (kiểu M1A1)
Chiều dài: 850 mm (kiểu M128A1), 810 mm (kiểu M1A1)
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 285 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 50 m.
Tốc độ bắn: 500 – 1500 phát/phút (tùy theo kiểu)
Băng đạn:
Băng đạn 20 viên
Băng đạn 30 viên
Băng đạn tròn 50 viên
Băng đạo tròn 100 viên
Đạn của súng Thompson
Súng tiểu liên Thompson được sáng chế bởi viên tướng Mỹ John T.
Thompson. Trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, quân Anh, Pháp và quân Đức gìm
nhau tại chiến lũy Magino. Hai bên đào công sự dài hàng chục cây số để
phòng thủ cho phần đất của mình. Thỉnh thoảng một bên xung phong qua
phía bên kia bắn vào quân sĩ địch đang núp dưới hầm. Ông Thompson nảy ra
ý kiến là nên có khẩu súng bắn liên thanh, vãi đạn ra thật nhiều để
quét vào binh sĩ địch đang núp thành hàng dài dưới hầm thì sẽ giết được
nhiều quân địch hơn là dùng súng bắn phát một. Vì thế ông nghĩ ra khẩu
tiểu liên này. Nhưng khẩu súng này chưa làm xong thì Thế Chiến 1 đã chấm
dứt. Sau đó, súng này vẫn được phát triển thêm và được sử dụng trong
Thế Chiến thứ 2 và những năm sau Thế Chiến thứ 2.
John Thompson, cha đẻ của tiểu liên Thompson, hình chụp năm 1921
Khẩu tiểu liên Thompson cũng được dân anh chị băng đảng tội phạm
Mafia ở Mỹ ưa chuộng vì sự lợi hại bắn được nhiều đạn. Một băng đạn súng
Thompson có thể chứa đến 30 viên nếu là băng thẳng, nếu dùng hộp tròn
thì có thể chứa đến 100 viên. Dùng súng này tưới đạn vào địch thủ đang
ngồi trong xe hơi hay đang ngồi trong nhà thì khả năng giết kẻ địch rất
là cao. Dân giang hồ Mỹ gọi đây là khẩu Tomy Gun, Tomy là chữ gọi chệch
ra từ chữ Thompson.
Trong chiến tranh chống Pháp, cả hai bên Pháp và Việt đều có sử dụng
súng này. Pháp được Mỹ viện trợ cho súng này còn Việt Minh thì tịch thu
được của Pháp để dùng. Sau này, khi Pháp rút đi thì các súng Thompson
được để lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam.
Súng Thompson có lợi điểm là mang nhiều đạn và ít bị kẹt đạn. Khuyết
điểm của súng là vì đạn 12 mm nên sức giật rất mạnh. Người bắn bị giật
mạnh nên khó nhắm chính xác. Một nhược điểm nữa là đầu đạn tròn và tầm
bắn không xa. Nếu bắn từ xa thì không xuyên thủng được mũ sắt hoặc xe
cộ. Một số tay anh chị Mỹ thấy khẩu Thompson chưa đủ mạnh nên sử dụng
súng trung liên Browning M1918 vì đạn súng này có sức xuyên phá mạnh, có
thể xuyên thủng xe hơi từ xa.
Súng lục Ru lô (rouleau) .38, Mỹ chế tạo
Cỡ đạn: .38 Special, 9.6 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 250 m/s – 300 m/s
Súng gồm sáu viên đạn đựng trong ổ đạn quay tròn. Ổ đạn này tiếng
Pháp gọi là rouleau, đọc là ru lô, nên thường được gọi là súng ru lô. Vì
cỡ đạn là .38 caliber nên cũng thường được gọi là súng lục 38. Vì súng
có sáu viên đạn nên loại súng ngắn này được gọi là súng lục (lục là sáu,
tiếng Hán Việt).
Khi muốn nạp đạn thì đẩy chốt bên trái, ổ đạn tròn có sáu lỗ tròn sẽ
bật sang bên trái . Sáu viên đạn được nạp vào sáu lỗ. Sau khi đã nạp đạn
thì đẩy ổ đạn vào bên trong súng. Khi bắn thì bật cò phía sau lên rồi
bóp cò. Đầu cò sẽ mổ vào viên đạn nằm ngay trước nòng súng. Sau khi viên
đạn bắn đi thì ổ đạn tròn sẽ quay qua một nấc để viên đạn kế tiếp vào
nằm ngay trước nòng súng. Người bắn tiếp tục bóp cò để bắn viên đạn kế
tiếp. Cứ thế cho đến khi ổ đạn quay hết một vòng thì súng bắn hết sáu
viên đạn.
Súng lục Colt 45, M1911, Mỹ chế tạo
Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 1.1 kg (không có đạn)
Chiều dài: 21 cm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 251 m/s
Băng đạn: gồm 7 viên đạn, được gắn vào súng phía dưới tay cầm
Súng này thường được gọi là Colt 45 vì dùng cỡ đạn calibre .45. Vào
thời Pháp, súng này cũng được gọi là Colt Đui . Đui là đọc từ tiếng Pháp
douze tức là 12. Người Pháp gọi theo cỡ đạn bằng mm vì đạn calibre .45
có đường kính gần 12 mm. Đây là loại súng được sử dụng rộng rãi tại
nhiều nước từ thời Thế Chiến 1 qua Thế Chiến 2 và đến tận thập niên
1980. Ngày nay vẫn còn được sử dụng nhiều. Súng này sử dụng đạn cùng cỡ
với khẩu tiểu liên Thompson.
Súng Colt 45 được quân đội Mỹ sử dụng từ năm 1911. Vì súng ru lô sức
công phá yếu nên quân đội Mỹ thấy cần có loại súng lục mạnh hơn. Súng
Colt 45 đã bắn thi với một khẩu súng khác và được quân đội Mỹ chọn sau
khi đã qua nhiều cuộc thi. Một trong những thử thách đó là bắn
6000 viên đạn liên tục trong hai ngày, hai đêm. Súng được bắn liên tục
khi nòng súng nóng đỏ lên thì nhúng vào nước cho nguội lại rồi bắn tiếp.
Trong cuộc thử thách này súng Colt đã không bị lỗi nào trong khi khẩu
súng kia có 37 lỗi.
Súng Colt 45 trông có hình vuông vì nòng súng được che phủ bằng một
miếng thép có cạnh vuông . Miếng thép này có thể trượt được. Khi muốn
lên cò súng thì người bắn cầm miếng sắt này kéo về phía sau rồi buông
tay ra . Súng Colt 45 dùng sức giật của viên đạn để lên cò súng . Nhưng
không dùng nguyên tắc trích khí như các súng đời sau. Khi viên đạn nổ,
sức nổ đẩy đầu đạn đi đồng thời tạo ra một lực đẩyvề phía sau. Lực này
đẩy nòng súng và miếng sắt trượt ra phía sau. Ở giai đoạn này, nòng súng
và miếng sắt trượt khóa vào nhau nên trượt ra phía sau cùng một lúc.
Đến nửa đường, nòng súng hạ thấp xuống và không còn khóa vào miếng sắt
trượt nữa. Miếng sắt trượt tiếp tục trượt ra sau, dùng sức đẩy của đạn
để móc vỏ đạn ném ra ngoài . Khi lò xo kéo miếng sắt trượt ra phía trước
thì nó sẽ đẩy một viên đạn mới từ gắp đạn lên rồi khóa vào nòng súng,
đi cùng với nòng súng ra phía trước.
Súng Colt 45 có sức công phá rất mạnh vì bắn đạn đường kính 12 mm. Vì
đạn lớn nên sức giật của súng rất mạnh. Có người nói súng này có thể
bắn chết voi.
Colt 1911 .45 Shooting
Súng trường Garand M1
Cỡ đạn: .30-06 (7.62×63 mm)
Băng đạn: 8 viên đạn
Chiều dài: 1103 mm
Trọng lượng: 4.32 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 400 m
Súng Garand được trang bị cho quân đội Mỹ trước Đệ Nhị Thế Chiến và được
quân đội Mỹ sử dụng nhiều trong Đệ Nhị Thế Chiến và chiến tranh tại Đại
Hàn. Súng Garand là súng bắn phát một được xếp vào loại semi-automatic,
bán tự động, vì súng dùng nguyên tắc trích khí của viên đạn nổ ra để
đẩy cò súng về phía sau và lên đạn. Sở dĩ gọi là bán tự động là vì các
thế hệ súng trước đó không dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng nên
mỗi lần bắn xong, xạ thủ phải lên cò súng rồi mới bắn tiếp. Còn với súng
Garand, sau khi bắn một phát, thì súng tự động lên cò súng, xạ thủ chỉ
cần bóp cò để tiếp tục bắn. Chỉ gọi là bán tự động vì súng chưa phải là
hoàn toàn tự động, fully automatic, như các thế hệ súng về sau. Các súng
tiểu liên về sau cũng dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng, nhưng để
cho cò súng tự động mổ vào viên đạn để bắn luôn. Xạ thủ chỉ cần tiếp tục
giữ ngón tay bóp cò thì súng sẽ tự động bắn hết cả băng đạn.
Súng trường Garand được được sử dụng nhiều trong quân đội Việt Nam
Cộng Hòa cùng với súng trường Carbine. Súng Garand bắn xa và chính xác.
Tuy nhiên súng khá dài và nặng. Đạn được nạp vào súng bằng một gắp đạn gồm tám viên đạn. Sau khi bắn hết
đạn, thì gắp đạn tự động rơi ra ngoài, xạ thủ sẽ nạp gắp đạn khác.
Gắp đạn của súng Garand M1
Súng trường Carbine M1, M2, M3, M4, Mỹ chế tạo
Cỡ đạn: .30 Carbine (7.62×33mm)
Băng đạn: 15 hoặc 30 viên đạn
Trọng lượng: 2.4 kg (không có băng đạn)
Chiều dài: 900 mm
Tốc độ bắn:
M1 bắn từng phát một
M2, M3 từng phát một hoặc ba phát liên tiếp với tốc độ 850 – 900 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 607 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 180 m
Vì súng trường Garand dài và nặng, nên Bộ Quốc Phòng Mỹ yêu cầu một
khẩu súng nhẹ hơn. Gọi là súng Carbine mà không phải là Rifles vì chữ
Carbine phát xuất từ chữ Carabine của Pháp. Vào thời súng trường mới
xuất hiện, súng trường, tiếng pháp là Fusil, tiếng Anh là Rifle, rất dài
và do bộ binh mang. Còn kỵ binh mang súng trường thì quá dài, vướng
víu. Vì thế loại Carabine được chế tạo để cho kỵ binh dùng. Loại súng
này ngắn hơn để kỵ binh có thể đeo bên mình ngựa mà không chạm đất và để
kỵ binh có thể ngồi trên mình ngựa mà sử dụng. Súng Carbine nhẹ, ngắn,
cũng dùng đạn 7.62 mm nhưng viên đạn ngắn hơn nên tầm bắn không xa bằng
Garand. Tuy nhẹ nhưng Carbine có sức công phá yếu hơn súng Garand. Có
nhiều trường hợp không xuyên thủng được áo giáp địch và phải bắn nhiều
phát mới hạ được địch thủ. Súng Garand và Carbine là hai loại súng chính
của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cho đến cuối thập niên 1960 thì bắt đầu
được trang bị súng M-16.
Súng tiểu liên M16
Cỡ đạn: 5.56 x 45 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 948 m/s
Tốc độ bắn:
12 – 15 phát/phút, bắn chậm
45 – 60 phát/phút, bắn ba phát một
700 – 950 phát/phút, bắn liên thanh
Tầm bắn hiệu quả:
550 m, ngắm chính xác
800 m, bắn vào một vùng rộng
Trọng lượng: 3.26 kg
Chiều dài: 1000 mm
Chiều dài nòng súng: 508 mm
Băng đạn:
20 viên, thời chiến tranh tại Việt Nam
30 viên, dùng trong khối NATO hiện nay
Súng M-16 xuất hiện tại miền Nam vào giữa và cuối thập niên 1960. Đó
là một khẩu súng có hình dáng kỳ lạ. Súng thẳng như một cây gậy và đen
chùi chũi. Báng súng không cong xuống mà chạy thẳng và làm bằng nhựa chứ
không làm bằng gỗ. Trên thân súng lại có quai xách.
Súng M-16 được thiết kế sau khi có các nghiên cứu cho thấy là phần
lớn các sát thương do súng tiểu liên xảy ra ở khoảng cách trung bình 300
m chứ không phải ở khoảng cách xa. Các súng tiểu liên trước đây vì sức
giật mạnh nên khi bắn sức giật làm nòng súng hất lên cao và đạn tỏa ra
nên không chính xác, ít trúng mục tiêu.
Súng M-16 được làm thẳng để lực giật đi thẳng vào vai người bắn. Các
khẩu tiểu liên trước đây có báng súng cong xuống để khi người bắn tì
báng súng vào vai thì thân súng cao ngang tầm mắt để người bắn ghé mắt
vào mà nhắm. Với báng súng làm thấp xuống như vậy thì trục của nòng súng
chạy cao hơn điểm báng tì vào vai. Vì thế lực giật của súng tạo ra một
momen quay theo chiều làm nâng nòng súng lên. Nòng súng sẽ bị ngóc lên
khi bắn liên thanh nên chỉ có vài viên đạn đầu là bắn gần mục tiêu còn
các viên đạn sau thì bị tỏa đi mất.
Với súng M-16, trục của nòng súng đi thẳng đúng vào điểm báng súng
tựa vào vai nên khi bắn liên thanh, khuynh hướng nòng súng bị ngóc lên
giảm đi rất nhiều. Vì làm báng súng thẳng nên khi tì báng súng vào vai
thì thân súng nằm khá thấp so với tầm mắt người bắn. Vì thế đầu ruồi và
điểm ngắm sau của súng phải nâng cao lên. Điểm ngắm phía sau được nâng
cao lên và làm thành quai xách súng.
Cũng để làm giảm thiểu việc nòng súng bị hất lên vì sức giật, súng M-16 sử dụng cỡ đạn nhỏ hơn để đạt được các ưu điểm sau:
Vì đạn nhỏ sức giật yếu hơn, khiến cho súng ít bị hất lên cao và vẫn tập trung vào mục tiêu.
Ngoài ra, đạn nhỏ và sức giật nhẹ nên lò xo đẩy thanh nạp đạn có thể
đẩy nhanh hơn nên tốc độ bắn liên thanh rất cao. Nhờ thế có thể bắn cho
nhiều viên đạn cùng thoát ra khỏi nòng cùng một lúc có thể đến đúng mục
tiên trước khi nòng súng bị hất lên vì sức giật.
Theo báo cáo của nghiên cứu về đầu đạn nhỏ thì một đầu đạn 5,56 mm
được bắn đi với vận tốc nhanh 900 m/giây có sức công phá ngang với đầu
đạn cỡ 7,62 mm được bắn đi với tốc độ chậm hơn 700 m/giây.
Ở tầm xa trên 500 m thì đầu đạn nhỏ bị sức gió thổi tạt đi nhiều hơn
là đầu đạn lớn. Nhưng cũng ở tầm trên 500 m thì đầu đạn lớn sẽ rơi xuống
nhanh hơn đầu đạn nhỏ vì nặng hơn nghĩa là kém chính xác hơn đầu đạn
nhỏ.
Một lợi điểm khác của đầu đạn nhỏ là vì đạn nhẹ hơn nên một người
lính sử dụng súng với đầu đạn 5,56 mm có thể mang số lượng đạn gấp đôi
số lượng đạn với đầu đạn 7,62 mm.
Việc chọn đầu đạn nhỏ có ưu và khuyết điểm của nó. Người thiết kế
súng M-16 chọn đầu đạn nhỏ để lấy ưu điểm có khả năng sát thương cao
trong tầm bắn 300 mét là tầm sát thương xảy ra phần lớn trên chiến
trường.
Do lợi điểm của đầu đạn nhỏ nên ngày nay, nhiều nước chế tạo súng
tiểu liên đã chọn cỡ đạn nhỏ tương đương với cỡ đạn của súng M-16.
Khi súng M-16 được đem sử dụng tại Việt Nam lần đầu tiên, súng hay bị
kẹt đạn. Lý do là vì hãng Colt đã đổi loại thuốc đạn mà không dùng loại
thuốc đạn của người thiết kế. Loại thuốc đạn mới này đóng cặn trong
nòng súng làm cho kẹt đạn. Lại thêm cách cấu tạo của súng M-16 đòi hỏi
phải giữ cho súng luôn luôn sạch sẽ, nếu bị đất cát lọt vào trong súng
sẽ làm súng bị kẹt đạn. Điều này ít xảy ra với súng AK-47. Lý do súng
AK-47 ít bị kẹt đạn là vì AK-47 trích khí khi đạn nổ để đẩy một piston
thật mạnh. Tuy bị đất cát lọt vào lòng súng nhưng nhờ sức đẩy mạnh của
piston nên súng vẫn hoạt động được. Súng M-16 không dùng piston này mà
chỉ trích khí từ đạn nổ để đẩy một thanh lên đạn nằm thẳng hàng với nòng
súng. Người thiết kế súng M-16 tránh không dùng piston để đẩy mạnh bộ
máy cò vì một piston nặng khi đẩy ra phía sau khi dừng lại sẽ tạo ra một
lực giật thật mạnh. Vì piston nằm bên trên trục nòng súng nên lực này
tạo ra một momen làm nòng súng bị hất lên. Khi piston bị đẩy ra phía
trước rồi dừng lại cũng sẽ tạo ra lực giật mạnh về phía trước. Lực này
tạo ra một momen kéo nòng súng chúi xuống. Piston nằm phía trên nòng
súng, nghĩa là lệch trục với nòng súng mà giật tới giật lui liên tục
trong khi bắn liên thanh thì sẽ làm cho nòng súng bị rung liên tục, súng
sẽ bắn kém chính xác. Người thiết kế súng M-16 đặt sự chính xác của
súng làm ưu tiên cao nhất nên loại bỏ những nguyên nhân có thể làm cho
nòng súng bị rung trong khi bắn.
Vào thời đó những người sử dụng súng M-16 nhận thấy khi bắn trúng
địch thủ thì viên đạn xoáy trong cơ thể người bị trúng đạn phá ra một
vùng rất lớn làm cho vết thương trầm trọng hơn. Lúc đầu có người nghĩ có
lẽ vì đạn súng M-16 xoáy rất mạnh nên khi chui vào cơ thể nó tiếp tục
xoáy gây ra vết thương vỡ toác thật lớn. Thật ra, đạn phá ra lớn là do
sức xoáy của viên đạn yếu. Khi viên đạn có tốc độ xoáy cao thì viên đạn
sẽ luôn luôn đi thẳng, đầu đạn nhọn sẽ đi trước và viên đạn sẽ chui vào
cơ thể rồi đi ra ngoài. Vì tốc độ xoáy của đạn M-16 yếu nên khi chạm vào
da thịt người, viên đạn sẽ lộn vòng, không còn đi thẳng như trước nên
phá ra một vùng rất lớn trong cơ thể. Cũng vì sức xoáy yếu nên đầu đạn
khó đi thẳng, do đó sức xuyên phá yếu. Các thế hệ súng M-16 sau này đã
cải tiến để làm gia tăng sức xuyên phá bằng cách tăng tốc độ xoáy của
viên đạn và làm cho trọng lượng viên đạn nặng thêm một chút.
Trọng lượng của súng M-16 cũng được giảm bớt đi đáng kể so với các
đời súng trước vì các nghiên cứu cho thấy rằng, phần lớn các cuộc chạm
súng xảy ra trên chiến trường đều xảy ra bất ngờ. Trong phần lớn trường
hợp, có đến hai phần ba người lính bị giết vì trở tay không kịp. Vì thế
trọng lượng súng được làm nhẹ đi để người sử dụng có thể dùng súng một
cách linh hoạt hơn. Để giảm trọng lượng của súng, nhiều bộ phận kim loại
được làm bằng nhôm, là loại kim loại nhẹ hơn thép, và thân súng làm
bằng nhựa tổng hợp, nhẹ hơn làm bằng gỗ.
Binh sĩ Biệt Động Quân trang bị súng M-16 trong trận Tổng Công Kích, Tết Mậu Thân 1968
Súng tiểu liên Colt Commando, X177E2
Chiều dài: 826 mm
Trọng lượng: 2.43 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 838 m/s
Băng đạn: 20 viên hay 30 viên
Chiều dài nòng súng: 292 mm
Súng Colt Commando X177E2 được ra đời khi binh sĩ Mỹ than phiền là
khẩu súng M-16 quá dài nên khó xoay trở trong rừng rậm. Hãng Colt sửa
đổi khẩu súng M-16 bằng cách làm nòng ngắn đi, gắn báng súng có thể thụt
vào và kéo dài ra. Có 520 khẩu súng này được đưa vào miền Nam năm 1967
để tranh bị cho lực lượng đặc biệt MACV-SOG (Military Assistance
Command, Vietnam – Studies and Observations Group) chuyên thi hành các
công tác trinh sát, bắt cóc, phá hoại thường phải hoạt động trong rừng
núi, di chuyển bằng phi cơ, tàu thuyền nên cần vũ khí có hỏa lực mạnh và
gọn nhẹ. Sau khi quân đội Mỹ rút đi vào năm 1971 thì các khẩu súng này
để lại cho lực lượng biệt kích của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Hãng
Colt chấm dứt sản xuất loại súng này vào năm 1970 vì thấy súng có một
số khuyết điểm cần phải nghiên cứu tốn kém để cải thiện nhưng không được
sự tài trợ của chính phủ để làm công việc nghiên cứu.
Cỡ đạn: .30-6 Springfield
Băng đạn: 20 viên
Trọng lượng: 8.8 kg
Chiều dài: 1,110 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tốc độ bắn: 500-650 phát/phút
Chiều dài nòng súng: 611 mm
Tầm bắn hiệu quả: 1300 m
Tầm bắn tối đa: 4500 m
Súng trung liên M1918A2 được chế tạo từ năm 1918 để trang bị cho quân
đội Mỹ trong Thế Chiến Thứ Nhất . Khẩu súng này lúc đầu được thiết kế
để người lính cầm ngang hông mà bắn trong khi xung phong. Nhưng trong
thực tế phần lớn trường hợp thì sử dụng súng để trên mặt đất với hai
chân chống phía trước.
Súng trung liên Browning Automatic Rifle, gọi tắt là BAR, có tầm bắn
xa, có sức công phá và sức xuyên thủng thép mạnh. Súng này được quân đội
nhiều nước sử dụng trong cả hai trận Thế Chiến. Loại súng này được
trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào thời kỳ đầu của cuộc chiến,
nghĩa là cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960.
Một người lính Thủy Quân Lục Chiến sử dụng súng trung liên
Súng đại liên 30, M1919
Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm NATO
Chiều dài: 964 mm
Trọng lượng: 14 kg
Tốc độ bắn: 400 – 600 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 850 m/s
Băng đạn: 250 viên
Tầm bắn hiệu quả: 1400 m
Đây là loại súng đại liên nhẹ, vì cỡ đạn là .30 caliber nên được gọi
là đại liên 30. Đại liên này được sử dụng bởi ba người khi đi hành
quân: một người mang súng, một người mang chân và người thứ ba mang đạn.
Súng này có thể được nhận ra dễ dàng với nòng súng có những lỗ. Đó là
lớp vỏ che ngoài nòng súng vì khi bắn được một lúc, nòng súng sẽ nóng
lên, đụng vào bỏng tay nên cần một lớp vỏ che. Lớp vỏ này có đục lỗ để
hơi nóng thoát ra ngoài.
Ngoài việc trang bị cho bộ binh, súng đại liên 30 cũng được gắn trên
xe bọc thép, tàu đi tuần trên sông. Súng đại liên 30 là đại liên được
quân đội Việt Nam Cộng Hòa sử dụng nhiều cho đến đầu thập niên 1960. Sau
đó, khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa được trang bị bằng loại đại liên mới
M-60 thì đại liên 30 cũng vẫn được tiếp tục sử dụng.
Súng đại liên 50, M2HB
Cỡ đạn: .50 BMG (Browning Machine Gun) (12.7 mm x 99 mm)
Băng đạn: nạp đạn bằng dây đạn đựng trong hộp đạn gắn bên cạnh súng
Vận tốc đạn khi ra khỏi nòng: 890 m/giây
Vận tốc bắn: 450 – 630 phát/phút
Tầm bắn hiệu quả: 1800 m
Tầm bắn tối đa: 2000 m
Trọng lượng: 38 kg
Trọng lượng với chân đứng: 58 kg
Chiều dài: 1656 mm
Chiều dài nòng súng: 1143 mm
Đại liên 50 được gọi tên theo cỡ đạn caliber .50. Đây là loại súng
máy hạng nặng được gắn trên xe thiếp giáp, trên tàu, phi cơ. Súng đại
liên 50 có thể dùng để chống bộ binh, có khả năng xuyên thủng xe cộ,
thuyền không bọc thép hay xuyên thủng xe bọc thép hạng nhẹ. Súng đại
liên 50 cũng có thể dùng bắn phi cơ bay ở cao độ thấp.
Đại liên 50 được gắn trên xe tăng
Súng đại liên M60
Chiều dài: 1105 mm
Chiều dài của nòng: 560 mm
Trọng lượng: 10,5 kg
Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm
Tốc độ bắn: 500 – 650 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 1100 m
Súng đại liên M-60 tương đối mới so với các loại súng máy khác như
đại liên 30, đại liên 50 hay trung liên Browning M1918A2 . Các súng máy
kia được thiết kế từ thời Đệ Nhất Thế Chiến trong khi súng M-60 được
nghiên cứu để chế tạo sau Đệ Nhị Thế Chiến và được đưa vào sử dụng trong
quân đội Mỹ vào năm 1957.
Vì thiết kế thân súng theo đường thẳng nên một phần của bộ máy cò
được đưa ra phía sau nằm một phần trong báng súng nên thu ngắn được
chiều dài của súng. Súng đại liên M-60 được thiết kế nhẹ hơn các loại
súng máy trước đây, mặc dù cũng vẫn bắn cùng cỡ đạn nên có thể bắn với
tư thế tựa trên vai, ôm bắn ngang hông. Súng cũng có thể được gắn hai
chân phía trước hoặc đặt trên giá có ba chân.
Đạn được nạp qua một dây đạn dài, nên có khi xạ thủ quấn dây đạn
quanh người khi di chuyển. Đại liên M-60 thay thế cho các loại đại liên
trước đó khi được gắn vào xe thiếp giáp, tàu thuyền, máy bay trực thăng.
Đại liên M-60 hiện nay được sử dụng rộng rãi tại hơn ba mươi quốc gia trên thế giới.
Súng phóng lựu M79
Chiều dài: 731 mm
Chiều dài nòng súng: 375 mm
Trọng lượng: 2.39 kg (khi có nạp đạn)
Cỡ đạn: 40 x 46 mm đầu đạn có mang chất nổ
Bắn phát một. Tốc độ vừa bắn vừa nạp đạn: 6 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 76 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 350 m
Tầm bắn tối đa: 400 m
Súng M-79 được gọi là súng phóng lựu vì mỗi viên đạn súng phóng ra
thật sự là một quả lựu đạn. Đầu đạn của M-79 tròn to đường kính 40 mm,
bên trong có chứa chất nổ và 300 mảnh kim loại nhỏ. Khi đầu đạn nổ sẽ
bắn ra các mảnh kim loại, gây sát thương trong vòng tròn đường kính 5 mét.
Súng M-79 được đưa vào sử dụng năm 1961 và chiến trường được sử dụng đầu tiên là tại Việt Nam.
Cách sử dụng súng M-79 khá giản dị. Để nạp đạn, súng được bẻ gập ra
phía trước và nạp đạn vào trong nòng súng. Sau đó, xạ thủ gấp súng lại,
gài chốt khóa và bóp cò bắn. Súng có thể bắn thẳng hoặc bắn vòng cầu.
Trên thân súng phía sau có bộ phận ngắm làm theo dạng nấc thang, có
nhiều nấc. Người bắn chỉnh thanh ngắm vào các nấc, tùy theo bắn xa gần.
Có thể bắn xa từ 75 mét đến 375 mét. Cứ mỗi nấc khoảng cách tăng lên 25
mét.
Súng M-79 gấp xuống
Bộ phận ngắm có thể chỉnh cao thấp tùy theo tầm bắn
Súng bắn vòng cầu, nòng súng chĩa cao hơn khi muốn bắn xa
Để tránh cho viên đạn nổ quá gần, gây thương tích cho người bắn và
đồng đội, viên đạn súng M-79 có khóa an toàn, khi viên đạn bay xa khoảng
30 mét thì khóa an toàn mới được mở ra. Khóa an toàn là loại xoay vòng
xoắn, khi khóa xoay đủ số vòng thì khóa an toàn mới được mở ra. Như vậy,
lúc bắn đi nếu viên đạn chạm phải bức tường hay cành cây mà rơi xuống
gần người bắn thì viên đạn vẫn không nổ vì khóa an toàn chưa xoay đủ
vòng của nó.
Súng M-79 cung cấp hỏa lực cho bộ binh ở vào tầm giữa súng cối 60 ly
và lựu đạn ném tay. Súng cối 60 ly bắn xa từ vài trăm mét đến 3
kilometre. Lựu đạn ném tay thì chỉ ném xa được vài chục mét. Súng M-79
bắn vào khoảng giữa từ 75 mét đến 400 mét.
Súng M-79 với đầu đạn nổ làm bắn ra hàng trăm mảnh nhỏ hiển nhiên là
loại vũ khí chống chiến thuật biển người. Có lẽ Mỹ nhận thấy trong chiến
tranh Triều Tiên, quân đội Mỹ đã nhiều lần phải rút lui vì Trung Quốc
dùng chiến thuật biển người. Vào thời đó, phần lớn binh sĩ Mỹ chỉ trang
bị súng bắn phát một và trong nhiều trường hợp hỏa lực không đủ mạnh để
ngăn chặn làn sóng người xông lên.
Một nhược điểm của súng M-79 là do trọng lượng của súng và đạn khá
nặng nên một người lính khi mang súng M-79 thì không còn sức để mang
súng tiểu liên nữa. Mà súng M-79 chỉ hoạt động ở tầm xa trên 70 mét. Ở
khoảng cách gần, người mang súng M-79 không có gì để tự vệ ngoài khẩu
súng lục vì súng M-79 nạp đạn khá chậm. Vì thế người sử dụng súng M-79
phải đi chung với đồng đội để được bảo vệ.
Để khắc phục khuyết điểm trên, vào đầu thập niên 1970, Mỹ đã nghĩ ra
loại súng phóng lựu gắn dưới nòng súng tiểu liên. Súng phóng lựu cá nhân
gắn dưới nòng súng tiểu liên đã gia tăng hỏa lực cho bộ binh một cách
đáng kể vì người xử dụng súng phóng lựu cũng có thể sử dụng cả tiểu
liên. Nhưng súng phóng lựu gắn dưới nòng súng này chỉ bắn xa được 100
mét trong khi súng M-79 có thể bắn xa đến 300 mét. Vì thế loại súng
M-79 vẫn được tiếp tục sử dụng cho các trường hợp cần đến.
Bên trong một viên đạn M-79
Súng chống tăng Bazooka M1
Chiều dài: 1370 mm
Trọng lượng: 5.8 kg
Đường kính hỏa tiễn: 60 mm
Súng Bazooka là tên để gọi chung tất cả các loại súng không giật để
chống xe tăng. Nguồn gốc của tên này là vào thập niên 1930 người Mỹ thấy
loại súng này có hình dáng giống như một nhạc cụ tên là Bazooka nên gọi
đùa súng này là Bazooka. Về sau Bazooka trở thành tên gọi không chính
thức của loại vũ khí phóng đầu đạn mang chất nổ có định hướng dùng để
chống xe tăng.
Nguyên tắc của súng Bazooka khác với các loại súng khác ở hai điểm:
1. Đó là súng không giật . Viên đạn được đặt trong nòng súng để hở ở
phía sau nên khi bắn đi, sức nổ của đạn sẽ thoát ra ngoài bằng phía sau,
nhờ vậy súng không bị giật . Các loại súng khác, khi viên đạn nổ thì
phía sau bịt kín, đầu đạn chỉ có một hướng duy nhất là đi ra khỏi nòng
súng bằng phía trước . Sức nổ đẩy viên đạn đi đồng thời tạo ra một phản
lực đẩy về phía sau làm cho súng bị giật . Viên đạn chống xe tăng tuy
tạo ra luồng khí phụt ra phía sau nhưng không phải là hỏa tiễn vì đạn
chỉ nổ một lần trong nòng súng . Sức nổ đẩy hơi nóng ra phía sau đồng
thời tạo ra một phản lực đẩy viên đạn đi ra phía trước, giống như động
cơ phản lực đẩy hơi nóng ra phía sau, và phản lực sinh ra khi phụt hơi
sẽ đẩy phi cơ về phía trước . Sở dĩ chọn cách để cho đạn nổ trong ống
phóng mà không biến viên đạn thành hỏa tiễn để phóng đi là vì nếu dùng
hỏa tiễn thì khi hỏa tiễn bay ra khỏi nòng nó vẫn tiếp tục phun hơi nóng
ra phía sau và hơi nóng này sẽ đốt cháy mặt người bắn.
2. Đầu đạn để chống xe tăng là loại đầu đạn với khối chất nổ mà mặt
đối diện với xe tăng được ngăn bằng một hình nón bằng kim loại. Hình nón
này được đặt với chóp nón quay về phía sau còn phần mở của nón hướng về
phía xe tăng. Khi chất nổ nổ, thay vì sức nổ tỏa ra khắp nơi xung quanh
thì sức nổ được hình nón làm hướng vào một điểm duy nhất ở phía trước.
Khi toàn bộ sức nổ được hướng vào một điểm duy nhất thì sẽ sinh ra một
tia plasma nóng đến hàng ngàn độ làm chảy cả thép. Cho đến ngày nay, các
đầu đạn chống xe tăng cũng vẫn dùng nguyên tắc này. Vì thế chúng ta
thấy các đầu đạn chống xe tăng thường có hình thoi, giống như hai cái
phễu úp vào nhau. Phần cái phễu gắn vào đuôi đạn thì mang chất nổ và nón
kim loại để tụ sức nóng. Còn phần hình phễu phía trước thì chỉ có tác
dụng làm cho viên đạn có đầu nhọn, ít bị cản không khí khi bay.
Cấu tạo của một đầu đạn chống xe tăng:
1. Vỏ bọc phía trước để làm cho đầu đạn nhọn, ít bị cản không khí khi bay (xanh da trời)
2. Khoảng trống . Khi đạn nổ thì sức nóng sẽ dồn vào khoảng trống này.
3. Hình nón bằng đồng để tạo cho khối chất nổ có hình nón (cam).
4. Ngòi nổ (đỏ)
5. Chất nổ
Loại Bazooka dùng tại Việt Nam là loại M1 của quân đội Mỹ và chỉ được
dùng vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Vì quân đội Cộng
Sản lúc đó chưa sử dụng xe tăng nên súng Bazooka rất ít được sử dụng.
Ngoại trừ những trường hợp dùng để phá công sự. Súng cần phải hai người mới sử dụng được. Một người vác súng, một người nạp đạn vào ống từ phía sau. Vì đầu đạn hình thoi cũng được đút vào nòng
súng nên nòng súng phải làm lớn trở nên nặng nề. Các súng chống xe tăng
sau này cũng áp dụng nguyên tắc của súng Bazooka nhưng khi nạp đạn chỉ
đút phần thuốc đạn phía sau còn đầu đạn hình thoi để phía ngoài nên có
thể làm đầu đạn lớn hơn, có sức công phá mạnh hơn, mà ống phóng không
phải làm lớn quá.
Đoạn video dưới đây chiếu về khẩu súng Bazooka:
Các loại súng DKZ (Đại Bác Không Zật) cũng dùng nguyên tắc để sức nổ
thoát ra phía sau để súng không giật giống như nguyên tắc của súng
Bazooka.
Súng DKZ
Súng DKZ, nạp đạn từ phía sau. Khi bắn, hơi phụt ra phía sau
Súng chống tăng M72
Chiều dài: dưới 1000 mm
Trọng lượng: 2.5 kg
Đường kính hỏa tiễn: 66 mm
Tầm bắn hiệu quả: 200 m
Súng M-72 là súng chống tăng loại nhẹ được chế tạo gọn nhẹ để bộ binh
mang theo cùng với súng cá nhân và đạn dược. Súng M-72 chỉ bắn một lần
rồi bỏ đi. Súng gồm một hỏa tiễn chống tăng đựng bên trong ống bằng nhôm
bịt kín không để cho nước vào. Ống băng nhôm gồm hai ống lồng vào nhau .
Ống bên ngoài có gắn cò súng nhưng không có tay cầm. Ống bên trong chứa
kim hỏa để khai hỏa hỏa tiễn. Khi bắn, xạ thủ sẽ kéo ống bên trong ra
phía sau, dở nắp đậy phía trước lên. Nắp đậy phía trước bây giờ biến
thành bộ phận ngắm. Khi xạ thủ bấm nút nằm ở trên ống để bắn, hỏa tiễn
nằm trong ống khai hỏa, đốt cháy toàn bộ thuốc súng bên trong với nhiệt
độ lên đến 760 độ C rồi thoát ra khỏi ống phóng. Trên đường bay, sáu
cánh bằng kim loại nhỏ sẽ bật ra để giữ cho hỏa tiền luôn luôn bay
thẳng. Sau khi bắn thì ống kim loại không còn dùng nữa, xạ thủ sẽ vứt
ống đi.
Súng chỉ bắn một phát rồi vứt đi xem ra là một sự hoang phí. Nếu so với súng B-40, chỉ có một khẩu súng mà dùng mãi, bắn hết viên đạn này đến viên đạn kia thì quả là tiết kiệm được nhiều hơn. Nhưng súng M-72 cũng có cái lợi điểm của nó. Nhờ nhẹ nên mỗi người lính, ngoài khẩu súng cá nhân của mình, đều có thể đeo thêm một khẩu M-72. Một tiểu đội 12 người thì có thể có đến 12 khẩu súng chống tăng. Khi lâm trận, mỗi người sẽ tản mát, núp một nơi, người nào thấy cơ hội thuận tiện thì bắn xe tăng địch. Như thế sẽ gây khó khăn cho địch hơn.
Hỏa tiễn của súng M-72 có khả năng xuyên thủng thép dày 20 cm, hay bê tông dày 60 cm, hay tường đất dày 1.8 m.
Hỏa tiễn của súng M-72
Bắn hỏa tiễn bằng cách bóp vào bộ phận khai hỏa nằm bên trên ống phóng
Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Sét Miền Tây. Đồn trú tại Quân Khu IV VNCH với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đóng tại tỉnh Bạc Liêu; ngoài ra SĐ21BB còn có hai Bộ Chỉ Huy hành quân:
một đóng tại Cà Mau và một đóng tại Chương Thiện. Các Bộ Chỉ Huy Hậu cứ của các Trung Đoàn thuộc SĐ21BB như sau:
■ Hậu cứ Trung Đoàn 31/SĐ21BB đặt tại Chương Thiện;
■ Hậu cứ Trung Đoàn 32/SĐ21BB đặt tại Cà Mau; và
■ Hậu cứ Trung Đoàn 33/SĐ21BB đặt tại Sóc Trăng (Ba Xuyên).
Cấp số SĐ21BB gồm ba Trung đoàn tác chiến: Trung Đoàn 31, 32, & 33.
Các đơn vị yểm trợ SĐ21BB gồm
⚫ 1 Tiểu Đoàn Trinh Sát (Reconnaissance),
⚫ 1 Tiểu Đoàn Công Binh Chiến Đấu,
⚫ 1 Trung đoàn Pháo với ba Tiểu Đoàn Pháo Binh.
Sư Đoàn 21 Bộ Binh (Sét Miền Tây) Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long - Năm 1967
Truyện Hồi Ký
* Trở Lại Mật Khu Sình Lầy
* Trong Cánh Cửa Ngoài Chân Mây
Tác giả: Nguyễn Bữu Thoại
Diễn đọc:Tám Tình Tang
https://www.youtube.com/channel/UCZVvQn6n5CAwFO5hwiPlfzg
Sư Đoàn 21BB Sét Miền Tây Hành quân vùng U Minh
https://youtu.be/ar9Iw8ne6z8
Trở Lại Mật Khu Sình Lầy
Nguyễn Bữu Thoại
Giọng đọc: Tâm An Nguồn:
https://hoiquanphidung.com/truyendoc/TLMKSL/TLMKSL.html
[01] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://www.youtube.com/embed/tHb4gwpX-ZY
[02] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/5UYqCHbHkVk
[03] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/0otmtuayaN0
[04] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/rR8ftm6YGgc
[05] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/J6InnCe5hAI
[06] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/HX1kryHpot8
[07] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/bVXOY-1imgw
[08] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/WKGxUMUS7Fs
[09] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/eXu_cYqMN3k
[10] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/uVxusiHJ4os
[11] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/ogNfUpf8W7c
[12] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/BSGPKhZZxwU
[13] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/u5Tcd7EdRAM
[14] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/xuUccOdOYRg
[15] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/67HVmzxWQDY
[16] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/uX69Vt_Q96I
[17] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/PjOTcSdW87Q
[18] Trở lại mật khu sình lầy
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/6PWdcEYt_ps
Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn~~~
Trong Rặng Bình Bát…
Nguyễn Bửu Thoại
Đến Kinh Cai Tổng Cang, một con kinh cắt ngang Rạch Bà Đầm - Thát Lát, Tiểu Đoàn chia làm hai cánh.
Cánh A: Tiểu Đoàn trừ (-), trách nhiệm bờ Nam. Cánh B: Đại Đội I, bờ Bắc.
Hai cánh quân song song lục soát về hướng quận lỵ Thuận Nhơn, một quận lỵ đang bị áp lực rất nặng của Cộng quân khiến trục giao thông đường thủy từ quận lỵ ra Cần Thơ gần như bị cắt đứt hoàn toàn từ ba hôm trước. Xuất phát lúc 7:00 giờ sáng từ gần Kinh Ranh Hạt và Kinh số 7, với khoảng cách trên dưới năm cây số, Tiểu Đoàn di chuyển nhanh và không gây tiếng động.
Tiểu Đoàn chia làm hai cánh.
Cánh A: Tiểu Đoàn trừ (-), trách nhiệm bờ Nam. Cánh B: Đại Đội I, bờ Bắc.
Đúng 11:00 giờ sáng, Đại Đội 1 của tôi vượt qua con rạch Bà Đầm-Thát Lát, một con rạch mỗi lần đọc đến tên tôi lại liên tưởng đến Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 42 BĐQ đã hy sinh tại đây gần hai năm về trước. Bình bát, một loại cây thuộc họ mãng cầu, “lựu lê, bình bát, mãng cầu”, có trái bằng nắm tay khi chín vàng rực, thơm lừng nhưng ăn chẳng ra gì cả. Tuy cùng họ nhưng mãng cầu mọc trên bờ còn bình bát mọc dưới nước. Bình bát thuộc họ trầm thủy, nên rễ đâm thành cây con, cây con nhô lên thành cây lớn… cứ thế bình bát nhảy bạt ngàn dày đặc hơn cả rừng nhiệt đới bên…. Mã Lai. Một địa hình kỳ lạ, tôi chưa thấy qua.
Cho Đại Đội dừng quân và bố trí, tôi đứng quan sát chung quanh… Nhất thời, tôi chưa hình dung được cách dàn quân như thế nào nếu ngay bây giờ địch khai hỏa? Đất gần như hoang địa, có thể trước đây có người ở, nhưng bỏ phế đã lâu, những bờ và mương đã “lạn” hết! Bình bát mọc thành rừng, không gò cao, không trũng sâu, nhưng địa thế cũng không bằng phẳng và nhất là không thể đào hố cá nhân được vì dưới chân chẳng hề có đất mà chỉ có rễ và cây bình bát nằm ngổn ngang sấp lớp! Suy nghĩ một lúc tôi tìm ra… chân lý: mình vô kế khả thi thì thằng địch cũng thế, chẳng lẽ ở đây nó biến thành chuột biết đào hang?
Quyết định thật nhanh, tôi mời ba ông Trung Đội Trưởng đến và phân công: Thiếu úy Đại, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1 kiêm Đại Đội Phó, bên trái, Chuẩn úy Liêm, Trung Đội Trưởng Trung Đội 3, bên phải, hai trung đội bắt tay nhau, đội hình hàng ngang. Liêm phải rải em út sát bờ sông, phải nhớ kiểm soát được bờ sông và đừng quên bên kia bờ Nam là Tiểu Đoàn, là bạn! Chuẩn úy Cần, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 làm cái râu cạnh sườn trái. Lưu ý nếu chạm địch, Cần giữ cạnh sườn, hướng tác xạ bên trái. Ba anh em bắt tay thật chặt chẽ, di chuyển chậm, giữ khoảng cách hợp lý, quan sát phải thấy nhau. Tôi lặp lại cho anh em là phải thấy nhau vì với địa hình này cách xa hơn hai thước là không ai thấy ai nữa. Do đó khi chạm địch, đội hình hàng ngang không còn, có khi anh em phía sau bắn bừa lên đồng đội mình ở phía trước, ở bên hông.
Lòng tôi nặng nề chùn xuống. Tết Mậu Thân kia, khi lôi chứng kiến những em bé bộ đội miền Bắc 15, 16 tuổi, miệng mếu máo, mặt mày dáo dác như con lạc mẹ, lạc cha, lúc đơn vị các em bị đánh tan tác; hoặc từng chùm hai người gục chết với cây đại liên phòng không, chân còn bị xích cứng với càng súng….. Người lính miền Nam, đối diện với lực lượng xâm lăng miền Bắc, chỉ để tự vệ và giữ gìn cuộc sống êm ấm cho đồng bào.
Quân Lực VNCH không dạy người chiến sĩ mang trong lòng sự thù hận nào.
Ba ông sĩ quan Trung Đội Trưởng nhận lệnh và bắt đầu dàn quân tiến lên phía trước. Tôi quay qua Thượng Sĩ Bình, Thường Vụ Đại Đội, TSI Hiển Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, dặn hai ông trách nhiệm mặt sau lưng không được lơ đãng vì địch có thể bọc hậu sát bên, mình vẫn không phát giác.
Đúng như dự đoán của tôi, địa hình thật quái dị: dưới chân đất không cứng hẳn, có đoạn phập phồng vì nước ngập lên khỏi lớp rễ khá cao. Có đoạn đất lại khô cứng trải dài. Những đoạn đường như vậy bình bát rất rậm, che khuất cả mặt trời buổi trưa, giống như hoàng hôn ở vùng rừng núi. Tầm nhìn hết sức hạn chế. Đại Đội đến chậm vì phải quan sát và giữ khoảng cách. Cây cối chằng chịt, ngoằn ngoèo rất khó đi; sơ ý vướng rễ cây là té sấp. Do đó anh em đi đầu luôn luôn phải hú hí nhau cho khỏi lạc.
Bên kia bờ sông cũng có bình bát nhưng thưa thớt hơn nhiều. Tiểu Đoàn di chuyển dễ dàng và nhanh. Ông Tiểu Đoàn Trưởng cũng biết chúng tôi không sao đi kịp được nên Tiểu đoàn tiến lên một khoảng rồi dừng lại chờ, rồi lại tiến!
Hai giờ chiều, sau ba giờ di chuyển, đối chiếu lại với bản đồ, tôi biết chúng tôi vượt điểm xuất phát không hơn bốn cây số, quân, chúng tôi chưa khám phá được gì quan trọng ngoài mấy cái chòi nhỏ bỏ hoang.
Bắt đầu nản, tôi vừa có ý xin Tiểu Đoàn cho đơn vị dừng quân để anh em ăn cơm vắt. Chưa kịp gọi Tiểu Đoàn thì Binh I An, âm thoại viên mang máy nội bộ, bước lại đưa ống liên hợp cho tôi:
– Ông Trường Thành 3 xin gặp Mười Một.
Tôi bấm ống liên hợp:
– Trường Thành 3 có gì nói đi!
Tiếng Chuẩn Úy Liêm gấp gáp:
– Trình Mười Một! Trình Mười Một! Cỏ cái trạm xá của Việt cộng chứa nhiều thương binh… Mười Một cho biết… cho biết… biện pháp.
Chuẩn Úy Liêm là một sĩ quan trẻ độc thân, mấy tuần qua chứng tỏ anh cũng cố làm quen với chiến trường, rất gan dạ và dễ thương, có điều gặp chuyện gì cấp bách là Liêm hay… cà lăm!
Tôi cắt ngang:
– Anh đã kiểm soát được trạm xá chưa?
– Dạ rồi, Mười Một!
– Bố trí em út cẩn thận. Tôi sẽ tới anh ngay
Gọi luôn các trung đội còn lại, tôi chỉ thị:
– Trường Thành 1 và 2 nghe rõ chưa? Các anh dừng lại bố trí tại chỗ chờ lệnh. Riêng Trường Thành 1 lưu ý yểm trợ thằng 3.
– Trường Thành 1 nghe rõ 5.
– Trường Thành 2 nghe rõ 5.
Tôi vỗ vai Lữ, âm thoại viên mang máy liên lạc Tiểu Đoàn, bảo:
– Anh thông báo cho Tiểu Đoàn biết; Đạt Đội phải dừng quân vì khám phá trên. Yêu cầu Tiểu Đoàn sẵn sàng yểm trợ.
2
Chưa đầy một phút sau tôi đã tới… trạm xá. Chuẩn Úy Liêm đón ở góc ngoài trạm và lưu ý tôi một số lựu đạn nội hóa chất chung quanh.
Quan sát một vòng, tôi lấy làm lạ khi thấy các chiến sĩ Trung Đội 3 đứng dang ra khá xa vách trạm và ai nấy đều đưa tay bịt mũi. Mấy ông lính mình bữa nay lại làm duyên làm dáng gì nữa đây? Tôi bước nhanh tới và thật là khủng khiếp!!! Một mùi hôi thối nồng nặc bao trùm cả trạm xá! Mùi của tử thi? Nhưng, có lẽ cũng không giống như vậy vì mùi xác chết sình tụi tôi cũng “thưởng thức” khá quen mũi hôn Tết Mậu Thân khi phải nằm nhiều ngày cạnh xác chết VC trong mấy con hẻm của thành phố mà không làm sao có thì giờ tống khứ đi chỗ khác hoặc tìm ra đất để chôn. Phải dùng đến mền, mùng, chiếu, ni- lông, hay bất cứ thứ gì để đắp, đậy tạm cho đỡ khổ cái lỗ mũi rồi tiếp tục… chiến đấu. Nhưng cái này thì không phải! Tôi nhìn Chuẩn ủy Liêm. Liêm hiểu ý tôi, nhăn mũi lắc đầu:
– Không có tử thi nào cả. Mười Một nhìn vào trạm xá sẽ hiểu!
Tôi bước tới trạm và nhìn vào…
Tôi không tin rằng đây là một cái trạm xá!
Trạm xá, dù là dã chiến đi nữa, ít ra cũng phải có cái tiện nghi tối thiểu của nó, nghĩa là phải có giường kê lên cao, có tấm trải giường, (hay chiếu, cói), có mền để đắp, có mùng tránh muỗi, nhất là ở giữa rừng. Đàng này! Tôi không sao tưởng tượng và hình dung được!
Đây phải gọi là cái chòi thì đúng hơn, có khi còn thua cả cái chòi giữ vịt của nông dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng.
Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Lực VNCH lội bùn một trạm ở rừng U Minh, ngày 1-8-1971
Trạm hình chữ nhật dài khoảng 8 mét, ngang 4 mét.
Trong trạm trống trơn, không một chiếc giương, một bộ ván nào cả. Nền nhà không ngập nước nhưng ẩm ướt vì mới dứt mùa mưa dầm, ánh nắng lại không soi rọi tới, đất chưa kịp khô… Mái trạm lợp bằng lá dừa nước, vách cũng lá dừa nước, bốn bề từ ngực trở lên để trống. Toàn khu nền nhà được rải một lớp rơm khá dầy. Đó là tất cả những “tiện nghi” của một trạm xá VC! Phía góc trong của căn trạm có bốn thương binh Việt Cộng đang nằm. Bốn anh giương mắt nhìn tôi, ánh mắt vừa tò mò vừa lo sợ. Cả bốn còn tỉnh, mặc dù thương tích có vẻ rất trầm trọng.
Tôi bước qua khung cửa để vào chỗ các anh đang nằm. Mùi hôi thối đúng là phát ra từ đây! Cả bốn anh mình mẩy đều bê bết máu tươi và khô, nước vàng, mủ nung núc. Vương vãi khắp nơi là những loại quần áo cũ, khăn rằn quấn cổ, bị xé ra làm băng, làm vải thấm thay cho compress, trộn lẫn tất cả các thứ xú uế kể trên, được ném khắp nền nhà. Vì cơ thể bốn anh liên tục phóng thích những chất kinh khủng đó suốt ngày nên quyến rũ hằng đàn, hằng đống ruồi, nhặng vo ve. Mùi hôi thối của những chất này còn khủng khiếp hơn cả thây ma. Ghê tởm hơn nữa, dưới nền nhà, những con giòi trắng bò lễnh nghễnh.
Tôi thật tình không thể tin rằng bốn anh tính của “Bác” có thể sinh tồn nhiều ngày trong điều kiện như vậy được.
3
Đang suy nghĩ, bỗng chiếc loa nhỏ gắn sau các máy PRC.25 phát ra. Tiếng gọi của ông Tiểu Đoàn Trưởng. Có lẽ ông muốn biết tình hình vì báo cáo ban nãy:
– Trường thành! Đây số Sáu gọi.
Tôi nhặt ống liên hợp gắn sau lưng Lữ và đáp ngay:
– Mười Một tôi nghe số Sáu!
– Anh đến chỗ trạm xá chưa và thấy thế nào?
– Đã đến hơn ba phút. Đang quan sát tìm hiểu, chưa tìm thấy gì cụ thể. Sẽ báo cho số Sáu sau.
– Cố khai thác nó xem: thằng nào, tên gì, đang đóng quân ở khu vực này? Bóp cổ nó tìm củi đuốc1 coi có được gì không? Nửa tháng nay, không có chấm mút gì ráo!
Nói xong ông buông một tràng cười. Tính ông hay pha trò nhưng là con người rất nguyên tắc. Ông là một Tiểu Đoàn Trưởng giỏi nhưng cũng có nhiều tật lạ đời như là: quy y Phật, không bao giờ chửi thề, nhưng, khi giận, ông là vua nói tục! Có khi đang tụng kinh lâm râm vậy mà nghe bắt sống được Việt cộng thì bảo lính đem “cất” liền khỏi cần giải giao về Trung Đoàn hay Tiểu Khu cho mất công. Lính như thiên lôi, có lệnh là làm. Ở đơn vị hành quân, trong vùng địch, không dân cư, đối diện với những sinh tử bất chợt, luật lệ ở đây là họng súng. Đó là một hệ quả tất nhiên của sự rình rập ngày đêm giữa hai mãnh thú săn mồi. (Cái này dù có mười ông nhiếp ảnh viên Eddie Adams, người chụp bức hình nổi tiếng Tướng Nguyễn Ngọc Loan trong vụ xử bắn tên đặc công Việt cộng tại Sài Gòn trong Tết Mậu Thân, cũng không có điều kiện để bấm máy). Mỗi lần đem “cất” như vậy ông tâm sự với tôi: tụi nó là quỷ vương, giết cho sạch ma quỷ để Phật xuất thế! (Ông chỉ thị cho sĩ quan truyền tin ghi trong Đặc Lệnh Truyền Tin danh xưng của ông là số 6, Tiểu Đoàn Phó số 7, Đại Đội Trưởng Đại Đội I số 11, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 là 22… Ông còn nói thêm số 6 là Lục Tự Di Đà đó, ông biết không?).
Tôi không có ý kiến về cách tu hành và pháp môn niệm Phật của ông, nhưng quả tình tôi với ông có những quan điểm rất dị biệt về cách đối xử với tù, hàng, thương binh của địch…
Dù mùa hôi thối có thế nào tôi cũng phải đến tận chỗ nằm của bốn anh thương binh.
Người nằm sát chân tôi là một thanh niên trẻ, cũng chừng tuổi tôi, nghĩa là trên dưới 25. Anh mặc một chiếc áo sơ mi.
Người thứ hai trên ba mươi tuổi, một chân bị cưa khỏi đầu gối, chắc có lẽ vết cắt chưa lâu lắm nên máu và nước vàng thấm ướt cả vải băng.
Người thứ ba tôi không tài nào đoán được tuổi vì gương mặt bị cháy xém nhiều chỗ, khắp thân hình anh nhăn nhúm và loang lổ. Chỗ nào da đã tuột mất thì phơi bày máu mủ bầy nhầy, nước vàng kinh khiếp. Chỗ nào còn da thì đổi màu đen và nhăn nhúm lại. Khắp người không có mảnh vải nào để che đắp vì những vết phỏng nhầy nhụa. Bộ phận sinh dục, xin lỗi, bị cháy teo không còn hình thù. Anh cho tôi biết anh bị napalm hơn tuần lễ trước.
Ngươi thứ tư có lẽ rất nguy kịch vì anh bị trúng pháo binh nên phần ngực và bụng bị rách và bể nhiều chỗ. Anh đắp trên bụng một cái mùng vải tám, màu vải nguyên thủy là màu trắng ngà, bây giờ không biết gọi màu gì sau khi nó thấm, nhuộm đủ thứ nào là máu, mủ nước vàng, đất v.v… Hạ Sĩ I Thạch Chêm, Trưỏng Toán Quân Báo Đại Đội dùng đầu súng M16 hất cái mùng ra để kiểm tra bên dưới. Tôi đã suýt kêu lên: Một đoạn ruột của anh lòi ra khỏi bụng và đã ngã màu đen!
Hai nhà văn “lớn” cộng sản/Việt cộng, Dương Thu Hương với tác phẩm “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết...” (TTVĐ, trang 16)
Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo VNCH cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông. (NBCT, trang 52)
Lòng tôi nặng nề chùn xuống. Là con người, là đồng loại, tôi ngỡ ngàng thương cảm cho các anh! Không phải bây giờ tôi mới thương các anh mà đã tư lâu rồi, từ Tết Mậu Thân kia, khi lôi chứng kiến những em bé bộ đội miền Bắc 15, 16 tuổi, miệng mếu máo, mặt mày dáo dác như con lạc mẹ, lạc cha, lúc đơn vị các em bị đánh tan tác; hoặc từng chùm hai người gục chết với cây đại liên phòng không, chân còn bị xích cứng với càng súng….! Nhưng chưa bao giờ lòng thương cảm của tôi đối với các anh lại biến thành nỗi đau xót cùng tột như bây giờ. Người lính miền Nam, đối diện với lực lượng xâm lăng miền Bắc, chỉ để tự vệ và giữ gìn cuộc sống êm ấm cho đồng bào. Quân Lực VNCH không dạy người chiến sĩ mang trong lòng sự thù hận nào. Không có quốc gia văn minh, có truyền thống nhân bản nào lại dạy người lính của họ bài học nhập môn là Lòng Thù Hận. Quân đội miền Nam, được đào tạo để bảo vệ xứ sở, bảo vệ chủ quyền, chứ không bảo vệ chủ… thuyết, nhất là loại chủ thuyết ngoại lai hảo huyền.
Tôi thương các anh, tôi không chịu nổi hình ảnh người thương binh, dù là thương binh ở hàng ngũ nào, bị đối xử còn thua con vật. Nhưng tôi làm được gì? Quyền lực của tôi rất giới hạn. Tôi sẽ giúp được các anh nếu các anh thật lòng và tạo điều kiện để tôi thực hiện được sự giúp đỡ đó.
Nhìn gần hai chục quả lựu đạn, đa số là nội hóa, nằm rải rác quanh trạm xá, tôi hỏi:
– Ai trang bị và xử dụng mấy quả lưu đạn này?
Sáu đôi mắt đổ dồn về người thương binh cụt chân, lớn tuổi. Tôi biết anh là người lãnh đạo của nhóm, một thứ “bí thư chi bộ”. Tôi nhìn anh chờ đợi. Anh liếc chung quanh: Lính Sư 21 bố trí dày đặc khắp trạm. Anh sợ sệt nhìn tôi, giọng run run:
– Thưa, thưa… ông! Bốn anh em chúng tôi ngồi còn không nổi, không ai xử dụng được vũ khí, có lẽ các anh bảo vệ bỏ lại.
– Các anh Bảo Vệ? Bao nhiêu anh và xử dụng vũ khí gì?
Thưa ông, tất cả có sáu anh với 5 khẩu AK47. Tên thương binh cụt chân đáp. Hắn thêm luôn:
– Các anh ấy đã chạy chừng mười phút, trước khi ông chỉ huy này đến, vừa nói hắn vừa chỉ Chuẩn Úy Liêm….
Tôi nói thật với các anh, và cũng nói thật với lương tâm của mình, rằng:
– Tôi muốn cứu các anh được sống bằng cách xin chuyển các anh về Quân Y Viện của chúng tôi để được điều trị. Nhưng để thực hiện được điều đó, các anh cũng phải thực tâm khai báo tin tức về những đơn vị đang trú đóng quanh đây hoặc là ít ra, các anh cũng phải chỉ cho chúng tôi vũ khí đạn dược đã chôn giấu.
Tên thương binh lớn tuổi có vẻ khổ sở, y thề thốt bán mạng với tôi rằng y không biết được gì vì thương tích quá nặng, mê man nhiều ngày. Hơn nữa, các anh giờ đây đã trở thành gánh nặng cho đồng đội, đâu còn được giao công tác gì mà biết được kế hoạch, đơn vị, và vũ khí?
Sau hơn 30 phút tiếp xúc và tra hỏi, tôi đánh giá có lẽ y chẳng biết gì thật. Tôi chạnh lòng nên thật tâm muốn cứu các anh nhưng không phải là không có điều kiện bởi vì quyền quyết định không phải do tôi. Trong cuộc đổi chác, các anh không có gì để trao nên cũng chẳng nhận được gì. Đó là sự trao đổi bình đẳng. Tôi rất lấy làm tiếc…
Tôi vừa định bảo An ra lệnh cho các Trung Đội tiếp tục lên đường thì chiếc loa nhỏ lại phát ra tiếng nói của ông Tiểu Đoàn Trưởng:
– Trường thành, Trường thành! Số Sáu gọi!
An bấm máy:
– Dạ Trường thành nghe số Sáu!
– Cho ông thầy anh đầu máy.
Tôi nhặt ống liên hợp trên tay An:
– Mười Một tôi nghe số Sáu!
– Có khai thác được gì không, Tango?
– Chẳng có gì cả, số Sáu, ngoại trừ gần 20 trái bình bát nội hóa.
– Mở chốt, thảy vô cho nó xài!
Sau câu nói là một tràng cười Ngừng mấy giây, ông dứt khoát:
– Thôi bỏ! Chiều lắm rồi! Cho em út tiếp tục zulu 2. Nhớ trước khi đi, đem “cất” hết bốn thằng đó nhé!
– Nhận rõ, số Sáu!
Chiếc loa nhỏ, âm thanh yếu, nhưng rõ ràng. Trong bán kính 3, 4 mét, bất cứ ai cũng nghe không sót tiếng nào. Đó là lệnh của cấp chỉ huy. Lệnh tại chiến trường: Lệnh Xử Bắn!
Loại mệnh lệnh này chỉ có thi hành chứ không có bàn cãi.
4
Bọn thương binh Việt cộng nằm ngay dưới chân tôi. Người mang máy lại luôn luôn di chuyển sát cạnh Đại Đội Trưởng, nên từ chiếc loa đến cả bốn anh chỉ cách khoảng từ một mét đến hơn hai mét. Nghĩa là họ nghe rõ ràng!
Động từ “cất” là một tiếng lóng của chúng tôi, nhưng tiếng lóng này không khó hiểu, ai nghe cũng đoán được nghĩa.
Hạ Sĩ I Thạch Chêm gỡ súng M 16 ra khỏi vai trong tư thế sẵn sàng. Anh là Tiểu Đội Trưởng Quân Báo, một đơn vị thuộc loại trinh sát của Đại Đội, có nhiệm vụ, nếu cần, sẽ thi hành những mission như vậy.
Trong khi ấy, cả bốn thương binh đều cố ngồi dậy, nhưng chỉ có hai anh gãy chân là ráng ngồi được, hai anh còn lại, dù cố gượng, nhưng quá đau đớn phải quỵ trở lại. Bốn anh, kẻ nằm người ngồi, giương bốn cặp mắt trắng dã, cặp mắt đứng tròng không còn thần sắc nhìn tôi. Khóe miệng thì co giật liên hồi. Đó có phải là phản xạ của cơ thể con người khi hay tin mình bị xừ chết chăng?
Mãi nhiều năm sau này trong trại cải tạo, chứng kiến sự gào thét, nhục mạ, hành hạ, hăm dọa, thủ tiêu của cán bộ quản giáo đối với người tù cải tạo sa cơ, tôi thường liên tưởng đến những đôi mắt này, đôi mắt đỏ, đôi mắt rưng rưng không còn thần sắc, và tôi hình dung lại thật rõ ràng…. đôi mắt rã rời của bốn người… thua cuộc ngày xưa, nay đã thuộc về… dĩ vãng!
Tôi nhìn từng anh từ đầu đến chân.
Tôi không có ý bỏ lên bàn cân để tính thử trọng lượng cuộc sống của một con người.
Tôi cũng không hề có ý đánh giá hoặc so sánh sinh mạng con người ở hai giới tuyến khác nhau, vì khi sinh ra vạn vật muôn loàí, tạo hóa ban cho họ tất cả một giá trị bình đẳng như nhau! Chỉ có cái chết vô nghĩa, sự hy sinh bị lợi dụng, chứ không có cuộc sống nào là bỏ đi cả.
Tia nhìn của tôi dừng lại ở anh thương binh lớn tuổi. Tôi bắt gặp anh cũng đang nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của anh chảy dài tư hố mắt trũng sâu. Tôi chớp mắt lại một giây. Mắt tôi không cay nhưng lòng tôi chua xót! Chua xót cho một kiếp con người! Chua xót cho những thân phận đầu thai lầm…. chủ thuyết!
Dưới chân tôi có vật gì nhúc nhích. Tôi nhìn xuống: một con cóc ruộng thật lớn ở dưới lớp rơm, nhoi ra nhảy và ngồi trên mũi giày tôi. Cóc đang lè lưỡi... cuốn mấy con giòi trắng bò lễnh nghễnh trên nền trại. Tôi rùng mình hất nhẹ cho cóc nhảy đi. Cùng lúc, một hình ảnh vô cùng tội nghiệp của giống vật lưỡng thể lưỡng cư, vừa sống được dưới nước cũng sống được trên cạn này, gây xót xa trong lòng tôi. Đó là hình ảnh mấy chú cóc, mấy chú ếch khi bị cắt cổ làm thịt, chúng luôn luôn dùng hai chân chõi mạnh lưỡi dao để đẩy ra, chõi cho đến khi đầu bị cắt lìa, hai chân vẫn còn chõi. Thật thảm thương!
Tôi đã có quyết định.
Tôi nói với… bốn cặp mắt thất thần đang nhìn tôi:
– Các anh đã nghe rõ rồi, tôi được lệnh phải bắn các anh trước khi di chuyển. Nhưng, tôi không làm điều đó vì hai lý do sau đây: thứ nhất, tôi không có thói quen đánh người bị trói, nên cũng không giết người đã bị thương nặng, bị loại khỏi vòng chiến. Lương tâm và truyền thống đạo đức không cho phép tôi thực hiện điều đó. Người chiến sĩ chân chính không bắn đối phương khi đối phương đã xuôi tay không còn vũ khí! Hơn nữa, hình ảnh thê lương của các anh gây ra một sự hụt hẫng thảm hại trong suy tư của tôi. Tôi không thể tin rằng: là con người với nhau, tầng lớp này lại có thể gạt gẫm và đọa đày tầng lớp kia và tầng lớp kia lại mù quáng, điên dại, lao thân vào chỗ chết để phục vụ cho một tham vọng, một chủ thuyết mơ hồ, xa vời và không tưởng!
Tôi không hề làm công tác Chiến Tranh Chính Trị trong lúc này và cũng không có ý tranh luận với các anh về chủ thuyết, cái nào ưa việt, cái nào tệ hại. Công tác đó thuộc bộ phận khác, không hiện diện với đơn vị tác chiến. Tôi chỉ muốn bày tỏ với các anh một điều hết sức giản di rằng: là người lính, khi sức lực còn khang kiện, chúng ta cống hiến sức lực đó cho quốc gia, cho lý tưởng. Chẳng may khi bị thương tật, chúng ta đòi hỏi phải được chăm sóc và điều trị tới nơi tới chốn. Thứ hai, hoàn cảnh của các anh làm chúng tôi kinh tởm, kinh tởm trước hết cho những người lãnh đạo các anh, và cũng kinh tởm cho chính các anh nữa! Tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nuôi những loại gia cầm như: mèo, chó, trâu, bò… Khi khỏe mạnh chúng giúp đỡ cho chủ, nhưng khi chúng bị bệnh hoạn hay thương tật, người chủ cũng tận tụy săn sóc chữa chạy cho chúng như đã săn sóc một thành viên thân thiết trong gia đình, có khi còn vất vả hơn vì con vật vốn không biết… nói! Tôi thành thật xin lỗi bốn anh khi phải đưa ra sự so sánh này, một sự so sánh tôi biết dù ít dù nhiều cũng làm thương tổn đến sự tự ái của các anh, nhưng tôi mong có dịp các anh sẽ suy nghĩ về lời tôi. Tôi không có bất cứ điều kiện nào khi tha cho các anh, kể cả điều kiện dạy… đời các anh. Tôi phải nói hết như thế để bốn anh hiểu và cũng để các chiến hữu của tôi hiểu về quyết định của tôi.
Nói xong, tôi day qua Thạch Chêm, chỉ tay ra góc vườn:
– Anh bước ra góc kia và bắn hai băng M16 vào bụi bình bát đó! Còn Lư, chú mày báo cho ông số Sáu biết là mình đã cất xong mấy tên VC và chuẩn bị lên đường đây.
Sau khi chứng kiến Chêm trút hết hai băng M16 vào bụi bình bát xử bắn giả, bốn tên thương binh Việt cộng mới tin rằng tôi tha chúng thật. Tên lãnh đạo nói với tôi trong nỗi xúc động nghẹn ngào:
– Thưa ông, tôi biết ông là người chỉ huy cánh quân này. Tôi không thấy ông đeo lon nên không hiểu cấp bậc của ông, nhưng chắc chắn ông phải là sĩ quan, một tầng lớp mà chúng tôi vừa thù, vừa sợ. Tôi được học tập rằng sĩ quan Quốc Gia gặp chúng tôi là tàn sát, trẻ không tha, già không thương… Đây là lần đầu tiên tôi gặp được một sĩ quan bằng xương bằng thịt và thấy rằng ông đã không phải con người ghê gớm như vậy. Ông không giống với hình ảnh những sĩ quan sắt máu mà chúng tôi đã có trong ý tưởng lâu nay. Xin thay mặt cho ba anh em, tôi chân thành đội ơn ông…
Đưa tay ngăn anh lại, tôi đáp:
– Tôi không dám nhận sự cảm ơn! Tôn chỉ làm điều mà lương tâm và bổn phận hướng dẫn tôi phải làm. Khi tha chết cho các anh, tôi đã vi phạm vào Huấn Lệnh Quân Sự của quân đội tôi tại mặt trận. Có thể tôi sẽ bị kỷ luật, hoặc bị đưa ra Tòa Án Binh không chừng, nhưng tôi vẫn làm vì tôi chưa đánh mất nhân tính và vẫn tin ở chủ trương: “Đem đạo nghĩa để thắng hung tàn” của Quân Đội tôi. Tôi đã suy nghĩ chín chắn, đã cân nhắc nặng nhẹ giữa đạo đức và lương tâm con người với trách nhiệm mà quân đội giao phó và tôi hoàn toàn chấp nhận mọi hậu quả do quyết định của mình. Tôi chỉ mong rằng các anh có dịp hiểu biết rõ hơn về chúng tôi và quân đội Quốc Gia, như anh vừa nói, để đối chiếu với những điều các anh đã được học. Chỉ có vậy! Thôi nhé! Xin chào. Chúng tôi cần phải đi.
– Tôn chỉ làm điều mà lương tâm và bổn phận hướng dẫn tôi phải làm. Khi tha chết cho các anh, tôi đã vi phạm vào Huấn Lệnh Quân Sự của quân đội tôi tại mặt trận. Có thể tôi sẽ bị phạt kỷ luật, hoặc bị đưa ra Tòa Án Quân Binh không chừng, nhưng tôi vẫn làm vì tôi chưa đánh mất nhân tính và vẫn tin ở chủ trương: “Đem đạo nghĩa để thắng hung tàn” của Quân Đội tôi.
Tôi đã suy nghĩ chín chắn, đã cân nhắc nặng nhẹ giữa đạo đức và lương tâm con người với trách nhiệm mà quân đội giao phó và tôi hoàn toàn chấp nhận mọi hậu quả do quyết định của mình. Tôi chỉ mong rằng các anh có dịp hiểu biết rõ hơn về quân đội Quốc Gia, để đối chiếu với những điều các anh đã được học.
Tên cán bộ ráng nói thêm:
– Xin cho tôi một câu chót…
Tôi dừng lại nhìn anh:
– Anh nói đi!
Tên cán bộ câu hai tay để trước bụng, nói nhỏ:
– Chúng tôi xin thành tâm cầu mong mọi điều may mắn, bình an cho ông suốt cả cuộc đời. (!?!)
Có lẽ đây là câu nói xúc động phát ra từ tấm lòng chân thật của anh.
Tôi gật nhẹ đầu cảm ơn và chào anh ta! Tôi mỉm cười khi suy nghiệm về câu cầu chúc của anh ta. Tôi may mắn bình an mỗi lần “tao ngộ” chiến với phía các anh, thì các anh sẽ ra sao?
5
Đến đây, tôi nghĩ mọi chuyện đã xong, đã mất rất nhiều thời giờ. Buổi chiều cũng sắp về, buổi chiều ở vùng rừng rậm xuống rất nhanh và chỗ trú quân đêm, trong vùng đất xa lạ này, phải được quan sát khi trời còn sáng. Tôi báo cáo lên Tiểu Đoàn: công tác đã thi hành xong và xin tiếp tục di chuyển.
Hai cánh quân song song lục soát về hướng quận lỵ Thuận Nhơn, một quận lỵ đang bị áp lực rất nặng của Cộng quân.
Chúng tôi theo lộ trình cũ. Đi chưa được 50 mét thì ông số Sáu lại gọi tôi: anh dừng lại cho em út bố trí giữ an ninh. Hai “thằng” cố vấn đang lội sông qua bên anh đó. Nó muốn ngắm nghía trạm xá của VC.
Tôi… chới với ngẩn người. Vậy là bể rồi! Nhưng không còn cách nào khác! Cho các trung đội dừng quân xong, tôi và BCH đứng ở bờ sông đợi hai ông… Cố. Khúc sông này của con rạch Cai Tổng Cang lạ đời thật: sông rộng hơn 40 mét, nước trôi lững lờ, vậy mà khúc cạn, khúc sâu như chính lòng dạ đổi thay khi vầy, khi khác của con người. Khó đo, khó đoán, khó lường! Dò sông dò biển dễ dò!
Nhìn mấy người lính đang lội qua, mực nước chỉ tới vai, còn hai ông Mẽo thì chỉ tới ngực. Phải chi nước ngập khỏi đầu như khúc trên kia thì đâu có chi rắc rối!
Thiếu Tá Calvin, Cố Vấn Trưởng, và Trung Úy Hayes, Cố Vấn Phó, lên bờ và bước lại phía tôi. Tôi đứng dậy bắt tay hai ông. (Gặp nhau hằng ngày và ở vùng hành quân, chúng tôi ít khi chào kính). Tôi bảo Thạch Chêm dẫn hai ông đi đến chỗ đó. Tôi vẫn ngồi yên ở bờ sông hút thuốc. Tôi biết sẽ có… chuyện, nhưng tôi vẫn giữ quyết định vừa rồi. Tôi thấy không cần giải thích gì thêm.
Các Cố Vấn Mỹ ở đơn vị tôi họ cũng rất lịch sự và hiểu vị trí của mình.. Từ ngày về đơn vị đến giờ, tôi chưa từng thấy họ tham gia bàn thảo kế hoạch hành quân, điều động hay chỉ huy ai cả. Họ chỉ được yêu cầu “cố vấn” chúng tôi xin trực thăng võ trang, xin phi tuần, xin tản thương, xin hỏa châu….v.v… Nghĩa là chỉ có xin dùm đủ thứ! Công tác đó họ làm kết quả nhanh gấp mấy lần mình! Ít nhất thì ở đơn vị tác chiến cấp Tiểu Đoàn, Cố Vấn đã không dám phát huy vai trò “chủ Mỹ” của mình một cách lộ liễu?
Tôi được lệnh phải bắn các anh trước khi di chuyển, nhưng tôi không làm điều đó vì hai lý do sau đây: thứ nhất, tôi không có thói quen đánh người bị trói, nên cũng không giết người đã bị thương nặng, bị loại khỏi vòng chiến.
Thứ hai, hoàn cảnh của các anh làm chúng tôi kinh tởm, kinh tởm trước hết cho những người lãnh đạo các anh, và cũng kinh tởm cho chính các anh nữa! Tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nuôi những loại gia cầm như: mèo, chó, trâu, bò… Khi khỏe mạnh chúng giúp đỡ cho chủ, nhưng khi chúng bị bệnh hoạn hay thương tật, người chủ cũng tận tụy săn sóc chữa chạy cho chúng như đã săn sóc một thành viên thân thiết trong gia đình.
Sau khi quan sát, chụp hình mấy vị trí, hai ông quay trở về. Khi đến chỗ tôi, Thiếu Tá Calvin đưa ngón tay cái lên trời và nói:
– Hi, Commander! You did a good job!
Tôi mĩm cười chào ông và nói vỏn vẹn hai tiếng: Thank You. (Tôi không hiểu ý ông qua hai chữ “good job” là good ở khía cạnh nào? Good khi khám phá ra trạm xá VC, hay good vì bắn mấy loạt M16 mà bốn tên thương binh địch vẫn còn sống nhăn?)
Đằng kia, bốn ánh mắt tê dại nhìn về hướng tôi.
Các anh tin rằng lần này mới là chết thật! Ông “chủ” Mỹ đã đến, làm sao còn sống được nữa? Sĩ quan Ngụy, được mấy cái đầu, mà dám cãi?
Mấy anh thật chẳng hiểu gì về Quân Đội VNCH cả. Khi được tiếp xúc với chúng tôi, mắt các anh sẽ mở trừng trừng, ngạc nhiên từng chập, mở cho đến độ rách cả khóe mắt!
Tôi biết bốn anh rất muốn nói chuyện với tôi trong giờ phút thời gian như dừng lại này.
Nhưng tôi không có gì để nói thêm với các anh. Chuyện các anh tôi đã quyết định xong!
Tôi là “Tư Lệnh” của mặt trận bờ Bắc này, là một tư lệnh nhỏ xíu thôi nhưng là người có quyền quyết định cao nhất tại đây. Không ai có quyền quyết định thay cho tôi, khi tôi chưa rời đơn vị.
Tôi ngồi chờ… bên kia sông. Tôi biết thế nào cũng sẽ có bão táp tới. Tôi chờ nghe tiếng… “đức” của ông Tiểu Đoàn Trưởng.
Năm phút sau, “bão” tới:
– Tango! Nói cho tôi biết: anh hát cái bản gì đây? Mấy thằng Tây về báo cáo rằng bốn thằng VC còn ngồi hút Quân Tiếp Vụ bên ấy. Vậy là sao? anh chống lệnh tôi? Anh chỉ huy ở đây hay tôi. Nói nghe?
Tôi làm thinh để cho ông xì bớt hơi.
Trong bốn Đại Đội Trưởng, tôi là người có cấp bậc thấp nhất, Thiếu Úy, nhưng tôi cũng là người tương đồng với ông nhiều vấn đề, trong đó phải kể cả những vấn để gay go nguy hiểm mà ai cũng chê, nhưng tôi nhận! Có gì đâu! Mình chẳng có chi bận bịu! Tử sanh hữu mạng mà! Tôi chỉ lo các anh em tôi trong Đại Đội sẽ phản đối những cái gật đầu hơi nhiều của tôi thay vì bắt thăm chia đều. Thế nhưng chuyện đó chưa xảy ra vì họ tin tôi, thương tôi. Họ cũng biết tôi rất thương họ và cũng không đến đỗi… ngu lắm!
Mấy mươi giây trôi qua, không nghe tôi trả lời, ông số Sáu hỏi lớn:
– Tango đâu rồi! Anh có nghe tôi không??
Tôi cầm ống liên hợp, thẳng thắn và chân tình đáp:
– Tôi đang nghe số Sáu. Trước hết, tôi rất tiếc phải nói câu xin lỗi, nhưng thật tình tôi không hề có ý qua mặt hay chống lại lệnh của số Sáu! Đây chỉ là vấn đề lương tâm và đạo đức con người, một con người có lẽ không đủ nhẫn tâm để giết đồng loại đang bị thương tích trầm trọng. Ngoài ra, tôi cũng không dám quên những bài học ở Quân Truờng, quy định về cách đối xử với thương binh địch. Do đó, xin số Sáu cho phép tôi giữ quyết định đã ban hành về số phận của bốn thương binh địch. Tuy nhiên, nếu số Sáu cho rằng việc bắn bỏ họ là điều không thể đảo ngược được, thì đó là thẩm quyền của số Sáu. Tôi không chống đối. Đại Đội tôi xin chờ và xin số Sáu cho vài Trinh Sát hay Quân Báo Tiểu Đoàn qua đây thực hiện công tác hành quyết. Tôi muốn rằng cho đến chết người lính cộng sản vẫn giữ hình ảnh người chiến sĩ QLVNCH luôn luôn bảo tồn chữ tín.
Nói xong tôi giữ combinet để chờ ông.
Nhiều phút trôi qua, có lẽ ông đang suy tư hoặc đang chỉ thị cho Trinh Sát, Quân Báo.
Tôi trả ống liên hợp lại cho Lữ. Lữ vừa cài cái móc của ống liên hợp lên giây ba chạc thì tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị cho âm thoại viên với giọng dịu nhẹ hơn:
– Thôi, Lê Lai, nói với Thầy anh: số Sáu đồng ý cho Mười Một mua cái đức cho vợ con sau này. Nhưng mà… bắn… thêm vài loạt đạn nữa, rồi zulu. Lưu ý: Vị trí đã bị lộ!
Lữ nhìn tôi, tôi nhìn Lữ. Hai thầy trò trao đổi nụ cười nhẹ nhỏm! Lữ le lưỡi:
– Có lẽ chỉ có ông Thầy là được số Sáu chìu và nể như vậy mà thôi.
6
Tôi nhìn sang bên kia sông, hướng Tiểu Đoàn. Chiều xuống thật nhanh. Những tia nắng yếu ớt cuối cùng còn rơi rớt trên ngọn rặng bình bát bạt ngàn. Gió lay nhè nhẹ. Xa xa bên kia bờ, chỗ rặng cây cao, đàn cò bay về nơi trú đêm, điểm trắng cả chòm cây xanh như những bông hoa dại, âm thầm nở, âm thầm tàn trong ngôi vườn bỏ hoang không người tới lui săn sóc.
Chúng tôi lại lên đường. Không như đàn cò về lại chòm cây cao, chúng tôi không có chỗ trú nhất định cho mỗi đêm…
Ba mươi ngày trong tháng thì hơn hai phần ba số đêm đó chúng tôi ngủ hoang, ngủ bậy như vậy cho người dân lành được ngon giấc trong chăn ấm, nệm êm. Chúng tôi không có ý so sánh những hình ảnh đối ngược của hai nếp sống để kể lể công lao, hay cay đắng ngậm ngùi, nhưng chúng tôi mong rằng sự hy sinh của người chiến sĩ trong cuộc chiến vừa qua không bị mỉa mai và quên lãng.
Chúng tôi lại lên đường. Không như đàn cò về lại chòm cây cao, chúng tôi không có chỗ trú nhất định cho mỗi đêm… có thể là một vùng bình bát, có thể là một khu vườn hoang, có thể là một đám rẫy, hay cũng có thể là một bãi… tha ma. Ba mươi ngày trong tháng thì hơn hai phần ba số đêm đó chúng tôi ngủ hoang, ngủ bậy như vậy cho người dân lành được ngon giấc trong chăn ấm, nệm êm. Chúng tôi không có ý so sánh những hình ảnh đối ngược của hai nếp sống để kể lể công lao, hay cay đắng ngậm ngùi, nhưng chúng tôi mong rằng sự hy sinh của người chiến sĩ trong cuộc chiến vừa qua không bị mỉa mai và quên lãng.
Phần Phụ Chú:
Sau biến cố đó, tôi không bị bất cứ một biện pháp chế tài kỷ luật nào, nhưng một tuần lễ sau, khi tập trung ra lằn chỉ đỏ, ông Tiểu Đoàn Phó xuống Đại Đội tôi chủ tọa lễ bàn giao chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 cho một sĩ quan khác! Sự trừng phạt, nếu đúng, chỉ có tính cách tượng trưng. Có điều cho đến nay, sau đúng 32 năm, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn không kết luận dứt khoát được là trong hai quyết định của ông Tiểu Đoàn Trưởng và của tôi: Ai đúng, ai sai – Đúng sai trong hai lãnh vực: giữa lương tâm và truyền thống nhân ái của dân tộc với sự tha chết cho giặc, “dưỡng hổ di họa”?
Cuộc chiến đã chấm dứt đúng 1/4 thế kỷ. Sau nhiều năm bị đọa đày trong trại cải tạo, sau hiểm nguy của gia đình qua chuyến vượt biên bằng đường biển, sau những tháng năm bình tỉnh nhìn lại cuộc chiến mà mình đã đổ máu xương để trang trải và đã bị phản bội, bị bỏ rơi thê thảm… nếu một mệnh lệnh như xưa được ban hành, tôi vẫn lấy cái quyết định như đã từng quyết định trong rặng bình bát! Đó là lương âm, là phẩm giá của người lính Việt Nam Cộng Hòa!
Tiểu Đoạn này được viết rất bất ngờ, sau khi người viết đọc được bài “Đôi Thoại Với Nhà Văn Trong Hàng Ngũ được cho Thắng Trận” của Trần Hoài Thư trên trang Internet, viết “kỷ lục” chỉ trong hai ngày để phổ biến trên truyền thông nhân buổi ra mắt tác phẩm “Về Hướng Mặt Trời Lặn” của anh Trần Hoài Thư tại Houston. Không ngờ, sau khi BNS Dân Ta, BNS Việt Báo ở Houston, rồi Nhật Báo Người Việt, Đặc San KBC ở Nam California, Đặc San Võ Khoa Thủ Đức Washington DC, phổ biến rộng rãi bài này, một vài cuộc hội thảo đã diễn ra quanh một vài chủ đề mà người viết đã “đụng” tới trong tác phẩm!
Hai nhà văn “lớn” cộng sản/Việt cộng, Dương Thu Hương với tác phẩm “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết...” (TTVĐ, trang 16)
Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo VNCH cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông. (NBCT, trang 52)
Nay, nhân khi bài viết này được đặt đúng vị trí thời gian trong tác phẩm để xuất bản, người viết muốn minh xác: tác giả không có ý định dùng mẩu chuyện thật trên đây để phản bác lại những điều hoang tưởng, xuyên tạc chiến sĩ QLVNCH của hai nhà văn “lớn” cộng sản/Việt cộng là Dương Thu Hương và Bảo Ninh. Dương Thu Hương với tác phẩm ồn ào một dạo “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết...”
(TTVĐ, trang 16).
Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo VNCH cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông:
“Ba nhỏ đó, trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi. Mấy nhỏ khóc quá trời.” (NBCT, trang 52)
Tôi không hiểu sao các nhà văn Việt cộng lại luôn gán ghép người lính miền Nam vào hành động thích hãm hiếp và “lắt xẻo” mấy bộ phận của đàn bà?
Tôi không hiểu sao các nhà văn Việt cộng lại luôn gán ghép người lính miền Nam vào hành động thích hãm hiếp và “lắt xẻo” mấy bộ phận của đàn bà?
Tôi không nói người lính miền Nam là một thứ Khổng Tử, nhưng tôi biết chắc rằng không một quân nhân nào của chúng tôi đủ hứng thú để làm cái trò dị hợm, kỳ cục (hãm hiếp dã man còn lắt xẻo) tại chiến trường như Dương Thu Hương đã mô tả.Tôi mong bà Dương Thu Hương và ông Bảo Ninh đọc được truyện này.
Hai mươi lăm năm sau cuộc chiến, đã đến lúc phải trả lại cái gì thật sự của lịch sử cho lịch sử. Tôi không nói người lính miền Nam là một thứ Khổng Tử, nhưng tôi biết chắc rằng không một quân nhân nào của chúng tôi đủ hứng thú để làm cái trò dị hợm, kỳ cục (hãm hiếp dã man con lắt xẻo) tại chiến trường như Dương Thu Hương đã mô tả. Tôi mong đọc được những bài viết nói lên sự thật của những người cầm bút, ở cả hai phía, không bị chi phối bởi bất cứ mặc cảm, dù là tự tôn hay tự ti; bởi sự cám dỗ vật chất hay bởi bất cứ thế lực nào.
Tôi mong bà Dương Thu Hương và ông Bảo Ninh đọc được truyện này. Tôi lặp lại lần nữa là tôi không hề có ý định viết chuyện để bênh vực người lính Miền Nam, hoặc để phản bác lại hai tác phẩm của ông và bà vì một lý do rất đơn giản là: tôi không hề là một nhà văn, nên cũng không có tham vọng tranh danh, đoạt lợi bằng ngòi bút, theo lập luận đời thường: “đánh” một người nổi danh để được nổi danh hơn!
Tôi chỉ là người lính chiến trong cuộc, chứng kiến sự thật, kể lại sự thật, một sự thật nhỏ bé, trong vô vàn sự thật to tát, từ cuộc-chiến-tự-vệ của Miền Nam, một cuộc chiến bị bóp méo, bị xuyên tạc, bị sỉ vả vô tội vạ bởi những ngòi bút đứng trong hàng ngũ của kẻ thắng trận!
Trở Lại Mật Khu Sình Lầy
- Nguyễn Bửu Thoại
Ông Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Trưởng trong truyện này hiện nay đều định cư tại thành phố Houston sau nhiều năm trong Trại Cải Tạo (viết hoa). Còn bốn anh thương binh trong truyện có lẽ hiện vẫn còn sống, nếu không đủ cả bốn, cũng còn hai, hay ba. Đây là một ấn tượng sâu sắc trong đời các anh nên, chắc chắn, các anh phải nhớ. Nếu truyện này được phổ biến trong nước và thật sự các anh là người có chút liêm sỉ, các anh sẽ không thể quay lưng lại với sự thật của “một thời” quá khứ.
Nguyễn Bửu Thoại
Trở Lại Mật Khu Sình Lầy
(In lần thứ 2, tháng 12-2000, trang 363)
1) củi đuốc = vũ khí.
2) zulu = d = di chuyển.
Thằng Việt cộng
1 https://i.pinimg.com/originals/39/3a/c0/393ac09b15e8ecbb1e3357141d79c356.gif
Những thằng/con Việt cộng lòn đường rừng, len vào kinh, kênh, rạch, mương, sông, ao hồ, lạch vào miền nam.
Việt Cộng luôn trà trộn bám theo dân chúng để di chuyển, chiến đấu.
Chúng thường khống chế cưỡng ép dân làm tấm khiên che chắn để hạn chế thiệt hại, vì chúng biết rằng quân đội Mỹ và QL VNCH không bắn chúng trong thường dân, nếu thấy thường dân nhất là người già, phụ nữ, trẻ em.
Tuy nhiên, trong những tình huống bất khả kháng; đồng bào bị thương vong vì đạn lạc, bom pháo là điều không thể tránh khỏi.
Quân đội Mỹ gọi những sự việc như vậy là "Collateral damage" - Tổn thất ngoài dự kiến hay tổn thất phụ trội, còn QL VNCH thì nói là thiệt hại nhân mạng ngoài ý muốn.
Mật khu lõm hay chiến khu Đ (đê) chỗ núp, ẩn của những đường lòn, ăn thông trong lòng đất trong các lỗ Củ Chi của Việt cộng https://slideplayer.com/slide/260408/1/images/11/The+tunnel+system.jpg
4
Hình: Những thằng Việt cộng từ miền bắc vượt vĩ tuyến vào nam để gây chiến, giết chóc người trong nam.
Hình: Thằng chó đẻ Trần Độ - Tạ Ngọc Phách Bắc Kỳ Cộng tập kết vào nam.
5
Lính VNCH truy lùng và đốt nơi sào huyệt, ẩn nấp của Việt cộng/VC (vi xi). Sau trận đó, VC cho dời nơi ẩn trú đi nơi khác, vào mật khu lõm khác.
. In May, the rest of the 4th Division of US conducts border missions and participates with the South Vietnamese army (ARVN), the incursion of the U.S. Army in Cambodia with the aim of destroying the Staff central military and political communist Vietcong guerrillas (COSVN), and its bases of supply.
Miệng bà Dương Thu Hương nói: Bà khóc như cha chết mẹ chết khi biết mình bị miền bắc lừa gạt đi giải phóng/xâm chiếm miền nam. Thất vọng vì Miền nam giầu có và văn minh nhưng bị miền bắc lạc hậu và nghèo đói chiến thắng.
Nhưng khi tay bà Dương T H viết về Quân Lực VNCH, thì bà mô tả người lính Thám Báo QL VNCH, rằng:
"... Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và của mình bị xẻo, ném vun vãi..."
Đừng nghe Việt cộng nói, mà hãy nhìn Việt cộng làm.
Sách bà Dương Thu Hương sẽ tồn tại trên dòng chữ lâu dài hơn hay cái miệng của bà ta tồn tại hơn hơn?
Lúc ấy, Bà DTH vừa được qua Pháp sống để hưởng tự do, bà được Việt cộng cho phép phát biểu rầm rộ, vì Việt cộng muốn câu nói của bà mua lòng người Việt hải ngoại để bà làm văn công cho Việt cộng sách bà, vừa làm công tác "hòa hợp hòa giải" để lời nói bà, tên bà được nổi tiếng, và phải ồn ào trên hệ thống truyền thông hải ngoại RFA, VOA, BBC... một thời, vừa đánh bóng tên tuổi bà và 'nựng yêu' đảng của bà, vừa làm nên người nổi tiếng để bán sách và vừa hướng dẫn cái đầu của đám hải ngoại "xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải, không nhắc quá khứ, và bà đánh đồng tội ác với nạn nhân chế độ, rốt cuộc -- Việt cộng không có lỗi gì, rằng thì là mà... Việt cộng họ ác nhưng vì họ là nạn nhân của đảng cộng sản."
Huề vốn! Việt cộng không gây tội ác gì cả. Anti dotted! Bà Dương T. Hương là liều thuốc giải độc cho bọn bắc kỳ Việt cộng, trong đó có bà.
Đảng gởi bà ra ngoại quốc với sứ mạng nhổ cỏ, phát quang con đường cho đám hậu sinh Việt cộng sau này sẽ tuồn ra hải ngoại và ngoại quốc, để tránh, không bị nhắc đến tội ác và tội phá hoại của cha ông chúng và đảng của bà. Không nên quên, để thành nhà văn quân đội Việt cộng, họ phải được rèn, luyện, kiểm soát tư tưởng rất lâu, khi thành thục tư tưởng cộng sản thành con két, thì chúng nó mới cho hành văn, làm nhà văn văn công trong đảng.
Tên tội đồ Việt cộng Dương Thu Hương tự mình biến thành nạn nhân của việc tội ác, tội đồ đó của nó.
tím
2
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgj3-gNEXjztn-5pV2JWBphG3EGWyJQyPw7iz65HoXbFxzu0UtRxMc4JYqkBEhfFF_JSCzde3A87Pm7K8sg2HVkhCViXYlq1aYKtKs3cpAlsi4FPCpaf0AgzPcsgsSMZZ2n_v9IGV1NSmo/w135-h242-no/