Saturday, November 24, 2018

Súng của Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa

Súng của Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa



Phi Long

Súng trường MAS 36, do Pháp chế tạo





Cỡ đạn: 7.5 x 54 mm
Trọng lượng: 3.7 kg (không có gắp đạn)
Chiều dài: 1020 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853.6 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 270 m – 450 m
Băng đạn: 5 viên đạn


Súng tiểu liên Thompson, M1928, Mỹ chế tạo



--


Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 4.9 kg (kiểu M128A1), 4.8 kg (kiểu M1A1)
Chiều dài: 850 mm (kiểu M128A1), 810 mm (kiểu M1A1)
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 285 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 50 m.
Tốc độ bắn: 500 – 1500 phát/phút (tùy theo kiểu)
Băng đạn:
  • Băng đạn 20 viên
  • Băng đạn 30 viên
  • Băng đạn tròn 50 viên
  • Băng đạo tròn 100 viên
 Đạn của súng Thompson
Súng tiểu liên Thompson được sáng chế bởi viên tướng Mỹ John T. Thompson. Trong thời  Đệ Nhất Thế Chiến, quân Anh, Pháp và quân Đức gìm nhau tại chiến lũy Magino. Hai bên đào công sự dài hàng chục cây số để phòng thủ cho phần đất của mình. Thỉnh thoảng một bên xung phong qua phía bên kia bắn vào quân sĩ địch đang núp dưới hầm. Ông Thompson nảy ra ý kiến là nên có khẩu súng bắn liên thanh, vãi đạn ra thật nhiều để quét vào binh sĩ địch đang núp thành hàng dài dưới hầm thì sẽ giết được nhiều quân địch hơn là dùng súng bắn phát một. Vì thế ông nghĩ ra khẩu tiểu liên này. Nhưng khẩu súng này chưa làm xong thì Thế Chiến 1 đã chấm dứt. Sau đó, súng này vẫn được phát triển thêm và được sử dụng trong Thế Chiến thứ 2 và những năm sau Thế Chiến thứ 2.

 John Thompson, cha đẻ của tiểu liên Thompson, hình chụp năm 1921

Khẩu tiểu liên Thompson cũng được dân anh chị băng đảng tội phạm Mafia ở Mỹ ưa chuộng vì sự lợi hại bắn được nhiều đạn. Một băng đạn súng Thompson có thể chứa đến 30 viên nếu là băng thẳng, nếu dùng hộp tròn thì có thể chứa đến 100 viên. Dùng súng này tưới đạn vào địch thủ đang ngồi trong xe hơi hay đang ngồi trong nhà thì khả năng giết kẻ địch rất là cao. Dân giang hồ Mỹ gọi đây là khẩu Tomy Gun, Tomy là chữ gọi chệch ra từ chữ Thompson.

Trong chiến tranh chống Pháp, cả hai bên Pháp và Việt đều có sử dụng súng này. Pháp được Mỹ viện trợ cho súng này còn Việt Minh thì tịch thu được của Pháp để dùng. Sau này, khi Pháp rút đi thì các súng Thompson được để lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam.

Súng Thompson có lợi điểm là mang nhiều đạn và ít bị kẹt đạn. Khuyết điểm của súng là vì đạn 12 mm nên sức giật rất mạnh. Người bắn bị giật mạnh nên khó nhắm chính xác. Một nhược điểm nữa là đầu đạn tròn và tầm bắn không xa. Nếu bắn từ xa thì không xuyên thủng được mũ sắt hoặc xe cộ. Một số tay anh chị Mỹ thấy khẩu Thompson chưa đủ mạnh nên sử dụng súng trung liên Browning M1918 vì đạn súng này có sức xuyên phá mạnh, có thể xuyên thủng xe hơi từ xa.



Súng lục Ru lô (rouleau) .38, Mỹ chế tạo





Cỡ đạn: .38 Special, 9.6 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 250 m/s – 300 m/s

Súng gồm sáu viên đạn đựng trong ổ đạn quay tròn. Ổ đạn này tiếng Pháp gọi là rouleau, đọc là ru lô, nên thường được gọi là súng ru lô. Vì cỡ đạn là .38 caliber nên cũng thường được gọi là súng lục 38. Vì súng có sáu viên đạn nên loại súng ngắn này được gọi là súng lục (lục là sáu, tiếng Hán Việt).

Khi muốn nạp đạn thì đẩy chốt bên trái, ổ đạn tròn có sáu lỗ tròn sẽ bật sang bên trái . Sáu viên đạn được nạp vào sáu lỗ. Sau khi đã nạp đạn thì đẩy ổ đạn vào bên trong súng. Khi bắn thì bật cò phía sau lên rồi bóp cò. Đầu cò sẽ mổ vào viên đạn nằm ngay trước nòng súng. Sau khi viên đạn bắn đi thì ổ đạn tròn sẽ quay qua một nấc để viên đạn kế tiếp vào nằm ngay trước nòng súng. Người bắn tiếp tục bóp cò để bắn viên đạn kế tiếp. Cứ thế cho đến khi ổ đạn quay hết một vòng thì súng bắn hết sáu viên đạn.




Súng lục Colt 45, M1911, Mỹ chế tạo




 Cỡ đạn: .45 ACP (11.43×23mm)
Trọng lượng: 1.1 kg (không có đạn)
Chiều dài: 21 cm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 251 m/s
Băng đạn: gồm 7 viên đạn, được gắn vào súng phía dưới tay cầm

Súng này thường được gọi là Colt 45 vì dùng cỡ đạn calibre .45.  Vào thời Pháp, súng này cũng được gọi là Colt Đui . Đui là đọc từ tiếng Pháp douze tức là 12. Người Pháp gọi theo cỡ đạn bằng mm vì đạn calibre .45 có đường kính gần 12 mm. Đây là loại súng được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước từ thời Thế Chiến 1 qua Thế Chiến 2 và đến tận thập niên 1980. Ngày nay vẫn còn được sử dụng nhiều. Súng này sử dụng đạn cùng cỡ với khẩu tiểu liên Thompson.

Súng Colt 45 được quân đội Mỹ sử dụng từ năm 1911. Vì súng ru lô sức công phá yếu nên quân đội Mỹ thấy cần có loại súng lục mạnh hơn. Súng Colt 45 đã bắn thi với một khẩu súng khác và được quân đội Mỹ chọn sau khi đã qua nhiều cuộc thi. Một trong những thử thách đó là bắn 6000 viên đạn liên tục trong hai ngày, hai đêm. Súng được bắn liên tục khi nòng súng nóng đỏ lên thì nhúng vào nước cho nguội lại rồi bắn tiếp. Trong cuộc thử thách này súng Colt đã không bị lỗi nào trong khi khẩu súng kia có 37 lỗi.

Súng Colt 45 trông có hình vuông vì nòng súng được che phủ bằng một miếng thép có cạnh vuông . Miếng thép này có thể trượt được. Khi muốn lên cò súng thì người bắn cầm miếng sắt này kéo về phía sau rồi buông tay ra .  Súng Colt 45 dùng sức giật của viên đạn để lên cò súng . Nhưng không dùng nguyên tắc trích khí như các súng đời sau. Khi viên đạn nổ, sức nổ đẩy đầu đạn đi đồng thời tạo ra một lực đẩyvề phía sau. Lực này đẩy nòng súng và miếng sắt trượt ra phía sau. Ở giai đoạn này, nòng súng và miếng sắt trượt khóa vào nhau nên trượt ra phía sau cùng một lúc. Đến nửa đường, nòng súng hạ thấp xuống và không còn khóa vào miếng sắt trượt nữa. Miếng sắt trượt tiếp tục trượt ra sau, dùng sức đẩy của đạn để móc vỏ đạn ném ra ngoài . Khi lò xo kéo miếng sắt trượt ra phía trước thì nó sẽ đẩy một viên đạn mới từ gắp đạn lên rồi khóa vào nòng súng, đi cùng với nòng súng ra phía trước.

Súng Colt 45 có sức công phá rất mạnh vì bắn đạn đường kính 12 mm. Vì đạn lớn nên sức giật của súng rất mạnh. Có người nói súng này có thể bắn chết voi.


Colt 1911 .45 Shooting











Súng trường Garand M1




Cỡ đạn: .30-06 (7.62×63 mm)
Băng đạn: 8 viên đạn
Chiều dài: 1103 mm
Trọng lượng: 4.32 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 400 m

Súng Garand được trang bị cho quân đội Mỹ trước Đệ Nhị Thế Chiến và được quân đội Mỹ sử dụng nhiều trong Đệ Nhị Thế Chiến và chiến tranh tại Đại Hàn. Súng Garand là súng bắn phát một được xếp vào loại semi-automatic, bán tự động, vì súng dùng nguyên tắc trích khí của viên đạn nổ ra để đẩy cò súng về phía sau và lên đạn. Sở dĩ gọi là bán tự động là vì các thế hệ súng trước đó không dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng nên mỗi lần bắn xong, xạ thủ phải lên cò súng rồi mới bắn tiếp. Còn với súng Garand, sau khi bắn một phát, thì súng tự động lên cò súng, xạ thủ chỉ cần bóp cò để tiếp tục bắn. Chỉ gọi là bán tự động vì súng chưa phải là hoàn toàn tự động, fully automatic, như các thế hệ súng về sau. Các súng tiểu liên về sau cũng dùng nguyên tắc trích khí để lên cò súng, nhưng để cho cò súng tự động mổ vào viên đạn để bắn luôn. Xạ thủ chỉ cần tiếp tục giữ ngón tay bóp cò thì súng sẽ tự động bắn hết cả băng đạn.

Súng trường Garand được được sử dụng nhiều trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa cùng với súng trường Carbine. Súng Garand bắn xa và chính xác. Tuy nhiên súng khá dài và nặng. Đạn được nạp vào súng bằng một gắp đạn gồm tám viên đạn. Sau khi bắn hết đạn, thì gắp đạn tự động rơi ra ngoài, xạ thủ sẽ nạp gắp đạn khác.

 Gắp đạn của súng Garand M1

Súng trường Carbine M1, M2, M3, M4, Mỹ chế tạo





Cỡ đạn: .30 Carbine (7.62×33mm)
Băng đạn: 15 hoặc 30 viên đạn
Trọng lượng: 2.4 kg (không có băng đạn)
Chiều dài: 900 mm
Tốc độ bắn:
  • M1 bắn từng phát một
  • M2, M3 từng phát một hoặc ba phát liên tiếp với tốc độ 850 – 900 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 607 m/s
Tầm bắn hiệu quả: 180 m

Vì súng trường Garand dài và nặng, nên Bộ Quốc Phòng Mỹ yêu cầu một khẩu súng nhẹ hơn. Gọi là súng Carbine mà không phải là Rifles vì chữ Carbine phát xuất từ chữ Carabine của Pháp. Vào thời súng trường mới xuất hiện, súng trường, tiếng pháp là Fusil, tiếng Anh là Rifle, rất dài và do bộ binh mang. Còn kỵ binh mang súng trường thì quá dài, vướng víu. Vì thế loại Carabine được chế tạo để cho kỵ binh dùng. Loại súng này ngắn hơn để kỵ binh có thể đeo bên mình ngựa mà không chạm đất và để kỵ binh có thể ngồi trên mình ngựa mà sử dụng. Súng Carbine nhẹ, ngắn, cũng dùng đạn 7.62 mm nhưng viên đạn ngắn hơn nên tầm bắn không xa bằng Garand. Tuy nhẹ nhưng Carbine có sức công phá yếu hơn súng Garand. Có nhiều trường hợp không xuyên thủng được áo giáp địch và phải bắn nhiều phát mới hạ được địch thủ. Súng Garand và Carbine là hai loại súng chính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cho đến cuối thập niên 1960 thì bắt đầu được trang bị súng M-16.



Súng tiểu liên M16



Cỡ đạn: 5.56 x 45 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 948 m/s
Tốc độ bắn:
  • 12 – 15 phát/phút, bắn chậm
  • 45 – 60 phát/phút, bắn ba phát một
  • 700 – 950 phát/phút, bắn liên thanh
Tầm bắn hiệu quả:
  • 550 m, ngắm chính xác
  • 800 m, bắn vào một vùng rộng
Trọng lượng: 3.26 kg
Chiều dài: 1000 mm
Chiều dài nòng súng: 508 mm
Băng đạn:
  • 20 viên, thời chiến tranh tại Việt Nam
  • 30 viên, dùng trong khối NATO hiện nay
Súng M-16 xuất hiện tại miền Nam vào giữa và cuối thập niên 1960. Đó là một khẩu súng có hình dáng kỳ lạ. Súng thẳng như một cây gậy và đen chùi chũi. Báng súng không cong xuống mà chạy thẳng và làm bằng nhựa chứ không làm bằng gỗ. Trên thân súng lại có quai xách.

Súng M-16 được thiết kế sau khi có các nghiên cứu cho thấy là phần lớn các sát thương do súng tiểu liên xảy ra ở khoảng cách trung bình 300 m chứ không phải ở khoảng cách xa. Các súng tiểu liên trước đây vì sức giật mạnh nên khi bắn sức giật làm nòng súng hất lên cao và đạn tỏa ra nên không chính xác, ít trúng mục tiêu.

Súng M-16 được làm thẳng để lực giật đi thẳng vào vai người bắn. Các khẩu tiểu liên trước đây có báng súng cong xuống để khi người bắn tì báng súng vào vai thì thân súng cao ngang tầm mắt để người bắn ghé mắt vào mà nhắm. Với báng súng làm thấp xuống như vậy thì trục của nòng súng chạy cao hơn điểm báng tì vào vai. Vì thế lực giật của súng tạo ra một momen quay theo chiều làm nâng nòng súng lên. Nòng súng sẽ bị ngóc lên khi bắn liên thanh nên chỉ có vài viên đạn đầu là bắn gần mục tiêu còn các viên đạn sau thì bị tỏa đi mất.

Với súng M-16, trục của nòng súng đi thẳng đúng vào điểm báng súng tựa vào vai nên khi bắn liên thanh, khuynh hướng nòng súng bị ngóc lên giảm đi rất nhiều. Vì làm báng súng thẳng nên khi tì báng súng vào vai thì thân súng nằm khá thấp so với tầm mắt người bắn. Vì thế đầu ruồi và điểm ngắm sau của súng phải nâng cao lên. Điểm ngắm phía sau được nâng cao lên và làm thành quai xách súng.

Cũng để làm giảm thiểu việc nòng súng bị hất lên vì sức giật, súng M-16 sử dụng cỡ đạn nhỏ hơn để đạt được các ưu điểm sau:

Vì đạn nhỏ sức giật yếu hơn, khiến cho súng ít bị hất lên cao và vẫn tập trung vào mục tiêu.

Ngoài ra, đạn nhỏ và sức giật nhẹ nên lò xo đẩy thanh nạp đạn có thể đẩy nhanh hơn nên tốc độ bắn liên thanh rất cao. Nhờ thế có thể bắn cho nhiều viên đạn cùng thoát ra khỏi nòng cùng một lúc có thể đến đúng mục tiên trước khi nòng súng bị hất lên vì sức giật.

Theo báo cáo của nghiên cứu về đầu đạn nhỏ thì một đầu đạn 5,56 mm được bắn đi với vận tốc nhanh 900 m/giây có sức công phá ngang với đầu đạn cỡ 7,62 mm được bắn đi với tốc độ chậm hơn 700 m/giây.

Ở tầm xa trên 500 m thì đầu đạn nhỏ bị sức gió thổi tạt đi nhiều hơn là đầu đạn lớn. Nhưng cũng ở tầm trên 500 m thì đầu đạn lớn sẽ rơi xuống nhanh hơn đầu đạn nhỏ vì nặng hơn nghĩa là kém chính xác hơn đầu đạn nhỏ.

Một lợi điểm khác của đầu đạn nhỏ là vì đạn nhẹ hơn nên một người lính sử dụng súng với đầu đạn 5,56 mm có thể mang số lượng đạn gấp đôi số lượng đạn với đầu đạn 7,62 mm.

Việc chọn đầu đạn nhỏ có ưu và khuyết điểm của nó. Người thiết kế súng M-16 chọn đầu đạn nhỏ để lấy ưu điểm có khả năng sát thương cao trong tầm bắn 300 mét là tầm sát thương xảy ra phần lớn trên chiến trường.

Do lợi điểm của đầu đạn nhỏ nên ngày nay, nhiều nước chế tạo súng tiểu liên đã chọn cỡ đạn nhỏ tương đương với cỡ đạn của súng M-16.

Khi súng M-16 được đem sử dụng tại Việt Nam lần đầu tiên, súng hay bị kẹt đạn. Lý do là vì hãng Colt đã đổi loại thuốc đạn mà không dùng loại thuốc đạn của người thiết kế. Loại thuốc đạn mới này đóng cặn trong nòng súng làm cho kẹt đạn. Lại thêm cách cấu tạo của súng M-16 đòi hỏi phải giữ cho súng luôn luôn sạch sẽ, nếu bị đất cát lọt vào trong súng sẽ làm súng bị kẹt đạn. Điều này ít xảy ra với súng AK-47. Lý do súng AK-47 ít bị kẹt đạn là vì AK-47 trích khí khi đạn nổ để đẩy một piston thật mạnh. Tuy bị đất cát lọt vào lòng súng nhưng nhờ sức đẩy mạnh của piston nên súng vẫn hoạt động được. Súng M-16 không dùng piston này mà chỉ trích khí từ đạn nổ để đẩy một thanh lên đạn nằm thẳng hàng với nòng súng. Người thiết kế súng M-16 tránh không dùng piston để đẩy mạnh bộ máy cò vì một piston nặng khi đẩy ra phía sau khi dừng lại sẽ tạo ra một lực giật thật mạnh. Vì piston nằm bên trên trục nòng súng nên lực này tạo ra một momen làm nòng súng bị hất lên. Khi piston bị đẩy ra phía trước rồi dừng lại cũng sẽ tạo ra lực giật mạnh về phía trước. Lực này tạo ra một momen kéo nòng súng chúi xuống. Piston nằm phía trên nòng súng, nghĩa là lệch trục với nòng súng mà giật tới giật lui liên tục trong khi bắn liên thanh thì sẽ làm cho nòng súng bị rung liên tục, súng sẽ bắn kém chính xác. Người thiết kế súng M-16 đặt sự chính xác của súng làm ưu tiên cao nhất nên loại bỏ những nguyên nhân có thể làm cho nòng súng bị rung trong khi bắn.

Vào thời đó những người sử dụng súng M-16 nhận thấy khi bắn trúng địch thủ thì viên đạn xoáy trong cơ thể người bị trúng đạn phá ra một vùng rất lớn làm cho vết thương trầm trọng hơn. Lúc đầu có người nghĩ có lẽ vì đạn súng M-16 xoáy rất mạnh nên khi chui vào cơ thể nó tiếp tục xoáy gây ra vết thương vỡ toác thật lớn. Thật ra, đạn phá ra lớn là do sức xoáy của viên đạn yếu. Khi viên đạn có tốc độ xoáy cao thì viên đạn sẽ luôn luôn đi thẳng, đầu đạn nhọn sẽ đi trước và viên đạn sẽ chui vào cơ thể rồi đi ra ngoài. Vì tốc độ xoáy của đạn M-16 yếu nên khi chạm vào da thịt người, viên đạn sẽ lộn vòng, không còn đi thẳng như trước nên phá ra một vùng rất lớn trong cơ thể. Cũng vì sức xoáy yếu nên đầu đạn khó đi thẳng, do đó sức xuyên phá yếu. Các thế hệ súng M-16 sau này đã cải tiến để làm gia tăng sức xuyên phá bằng cách tăng tốc độ xoáy của viên đạn và làm cho trọng lượng viên đạn nặng thêm một chút.

Trọng lượng của súng M-16 cũng được giảm bớt đi đáng kể so với các đời súng trước vì các nghiên cứu cho thấy rằng, phần lớn các cuộc chạm súng xảy ra trên chiến trường đều xảy ra bất ngờ. Trong phần lớn trường hợp, có đến hai phần ba người lính bị giết vì trở tay không kịp. Vì thế trọng lượng súng được làm nhẹ đi để người sử dụng có thể dùng súng một cách linh hoạt hơn. Để giảm trọng lượng của súng, nhiều bộ phận kim loại được làm bằng nhôm, là loại kim loại nhẹ hơn thép, và thân súng làm bằng nhựa tổng hợp, nhẹ hơn làm bằng gỗ.





Binh sĩ Biệt Động Quân trang bị súng M-16 trong trận Tổng Công Kích, Tết Mậu Thân 1968

Súng tiểu liên Colt Commando, X177E2


Chiều dài: 826 mm
Trọng lượng: 2.43 kg
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 838 m/s
Băng đạn: 20 viên hay 30 viên
Chiều dài nòng súng: 292 mm

Súng Colt Commando X177E2 được ra đời khi binh sĩ Mỹ than phiền là khẩu súng M-16 quá dài nên khó xoay trở trong rừng rậm. Hãng Colt sửa đổi khẩu súng M-16 bằng cách làm nòng ngắn đi, gắn báng súng có thể thụt vào và kéo dài ra. Có 520 khẩu súng này được đưa vào miền Nam năm 1967 để tranh bị cho lực lượng đặc biệt MACV-SOG (Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observations Group) chuyên thi hành các công tác trinh sát, bắt cóc, phá hoại thường phải hoạt động trong rừng núi, di chuyển bằng phi cơ, tàu thuyền nên cần vũ khí có hỏa lực mạnh và gọn nhẹ. Sau khi quân đội Mỹ rút đi vào năm 1971 thì các khẩu súng này để lại cho lực lượng biệt kích của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Hãng Colt chấm dứt sản xuất loại súng này vào năm 1970 vì thấy súng có một số khuyết điểm cần phải nghiên cứu tốn kém để cải thiện nhưng không được sự tài trợ của chính phủ để làm công việc nghiên cứu.

 Biệt kích Lôi Hổ đeo súng Colt Commando (bên trái)

Súng trung liên Browning M1918A2


Cỡ đạn: .30-6 Springfield
Băng đạn: 20 viên
Trọng lượng: 8.8 kg
Chiều dài: 1,110 mm
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/s
Tốc độ bắn: 500-650 phát/phút
Chiều dài nòng súng: 611 mm
Tầm bắn hiệu quả: 1300 m
Tầm bắn tối đa: 4500 m

Súng trung liên M1918A2 được chế tạo từ năm 1918 để trang bị cho quân đội Mỹ trong Thế Chiến Thứ Nhất . Khẩu súng này lúc đầu được thiết kế để người lính cầm ngang hông mà bắn trong khi xung phong. Nhưng trong thực tế phần lớn trường hợp thì sử dụng súng để trên mặt đất với hai chân chống phía trước.

Súng trung liên Browning Automatic Rifle, gọi tắt là BAR, có tầm bắn xa, có sức công phá và sức xuyên thủng thép mạnh. Súng này được quân đội nhiều nước sử dụng trong cả hai trận Thế Chiến. Loại súng này được trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào thời kỳ đầu của cuộc chiến, nghĩa là cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960.

Một người lính Thủy Quân Lục Chiến sử dụng súng trung liên

Súng đại liên 30, M1919



Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm NATO
Chiều dài: 964 mm
Trọng lượng: 14 kg
Tốc độ bắn: 400 – 600 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 850 m/s
Băng đạn: 250 viên
Tầm bắn hiệu quả: 1400 m

Đây là loại súng đại liên nhẹ, vì cỡ đạn là .30 caliber nên được gọi là đại liên 30. Đại liên này được sử dụng bởi ba người khi đi hành quân: một người mang súng, một người mang chân và người thứ ba mang đạn. Súng này có thể được nhận ra dễ dàng với nòng súng có những lỗ. Đó là lớp vỏ che ngoài nòng súng vì khi bắn được một lúc, nòng súng sẽ nóng lên, đụng vào bỏng tay nên cần một lớp vỏ che. Lớp vỏ này có đục lỗ để hơi nóng thoát ra ngoài.

Ngoài việc trang bị cho bộ binh, súng đại liên 30 cũng được gắn trên xe bọc thép, tàu đi tuần trên sông. Súng đại liên 30 là đại liên được quân đội Việt Nam Cộng Hòa sử dụng nhiều cho đến đầu thập niên 1960. Sau đó, khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa được trang bị bằng loại đại liên mới M-60 thì đại liên 30 cũng vẫn được tiếp tục sử dụng.



Súng đại liên 50, M2HB



Cỡ đạn: .50 BMG (Browning Machine Gun) (12.7 mm x 99 mm)
Băng đạn: nạp đạn bằng dây đạn đựng trong hộp đạn gắn bên cạnh súng
Vận tốc đạn khi ra khỏi nòng: 890 m/giây
Vận tốc bắn: 450 – 630 phát/phút
Tầm bắn hiệu quả: 1800 m
Tầm bắn tối đa: 2000 m
Trọng lượng: 38 kg
Trọng lượng với chân đứng: 58 kg
Chiều dài: 1656 mm
Chiều dài nòng súng: 1143 mm

Đại liên 50 được gọi tên theo cỡ đạn caliber .50. Đây là loại súng máy hạng nặng được gắn trên xe thiếp giáp, trên tàu, phi cơ. Súng đại liên 50 có thể dùng để chống bộ binh, có khả năng xuyên thủng xe cộ, thuyền không bọc thép hay xuyên thủng xe bọc thép hạng nhẹ. Súng đại liên 50 cũng có thể dùng bắn phi cơ bay ở cao độ thấp.

Đại liên 50 được gắn trên xe tăng

Súng đại liên M60

 
Chiều dài: 1105 mm
Chiều dài của nòng: 560 mm
Trọng lượng: 10,5 kg
Cỡ đạn: 7.62 x 51 mm
Tốc độ bắn: 500 – 650 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 853 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 1100 m

Súng đại liên M-60 tương đối mới so với các loại súng máy khác như đại liên 30, đại liên 50 hay trung liên Browning M1918A2 . Các súng máy kia được thiết kế từ thời Đệ Nhất Thế Chiến trong khi súng M-60 được nghiên cứu để chế tạo sau Đệ Nhị Thế Chiến và được đưa vào sử dụng trong quân đội Mỹ vào năm 1957.

Vì thiết kế thân súng theo đường thẳng nên  một phần của bộ máy cò được đưa ra phía sau nằm một phần trong báng súng nên thu ngắn được chiều dài của súng. Súng đại liên M-60 được thiết kế nhẹ hơn các loại súng máy trước đây, mặc dù cũng vẫn bắn cùng cỡ đạn nên có thể bắn với tư thế tựa trên vai, ôm bắn ngang hông. Súng cũng có thể được gắn hai chân phía trước hoặc đặt trên giá có ba chân.

Đạn được nạp qua một dây đạn dài, nên có khi xạ thủ quấn dây đạn quanh người khi di chuyển. Đại liên M-60 thay thế cho các loại đại liên trước đó khi được gắn vào xe thiếp giáp, tàu thuyền, máy bay trực thăng.

Đại liên M-60 hiện nay được sử dụng rộng rãi tại hơn ba mươi quốc gia trên thế giới.




Súng phóng lựu M79



Chiều dài: 731 mm
Chiều dài nòng súng: 375 mm
Trọng lượng: 2.39 kg (khi có nạp đạn)
Cỡ đạn: 40 x 46 mm đầu đạn có mang chất nổ
Bắn phát một. Tốc độ vừa bắn vừa nạp đạn: 6 phát/phút
Tốc độ đạn khi ra khỏi nòng: 76 m/giây
Tầm bắn hiệu quả: 350 m
Tầm bắn tối đa: 400 m

Súng M-79 được gọi là súng phóng lựu vì mỗi viên đạn súng phóng ra thật sự là một quả lựu đạn. Đầu đạn của M-79 tròn to đường kính 40 mm, bên trong có chứa chất nổ và 300 mảnh kim loại nhỏ. Khi đầu đạn nổ sẽ bắn ra các mảnh kim loại, gây sát thương trong vòng tròn đường kính 5 mét.

Súng M-79 được đưa vào sử dụng năm 1961 và chiến trường được sử dụng đầu tiên là tại Việt Nam.

Cách sử dụng súng M-79 khá giản dị. Để nạp đạn, súng được bẻ gập ra phía trước và nạp đạn vào trong nòng súng. Sau đó, xạ thủ gấp súng lại, gài chốt khóa và bóp cò bắn. Súng có thể bắn thẳng hoặc bắn vòng cầu. Trên thân súng phía sau có bộ phận ngắm làm theo dạng nấc thang, có nhiều nấc. Người bắn chỉnh thanh ngắm vào các nấc, tùy theo bắn xa gần. Có thể bắn xa từ 75 mét đến 375 mét. Cứ mỗi nấc khoảng cách tăng lên 25 mét.

Súng M-79 gấp xuống

Bộ phận ngắm có thể chỉnh cao thấp tùy theo tầm bắn


Súng bắn vòng cầu, nòng súng chĩa cao hơn khi muốn bắn xa

Để tránh cho viên đạn nổ quá gần, gây thương tích cho người bắn và đồng đội, viên đạn súng M-79 có khóa an toàn, khi viên đạn bay xa khoảng 30 mét thì khóa an toàn mới được mở ra. Khóa an toàn là loại xoay vòng xoắn, khi khóa xoay đủ số vòng thì khóa an toàn mới được mở ra. Như vậy, lúc bắn đi nếu viên đạn chạm phải bức tường hay cành cây mà rơi xuống gần người bắn thì viên đạn vẫn không nổ vì khóa an toàn chưa xoay đủ vòng của nó.

Súng M-79 cung cấp hỏa lực cho bộ binh ở vào tầm giữa súng cối 60 ly và lựu đạn ném tay. Súng cối 60 ly bắn xa từ vài trăm mét đến 3 kilometre. Lựu đạn ném tay thì chỉ ném xa được vài chục mét. Súng M-79 bắn vào khoảng giữa từ 75 mét đến 400 mét.

Súng M-79 với đầu đạn nổ làm bắn ra hàng trăm mảnh nhỏ hiển nhiên là loại vũ khí chống chiến thuật biển người. Có lẽ Mỹ nhận thấy trong chiến tranh Triều Tiên, quân đội Mỹ đã nhiều lần phải rút lui vì Trung Quốc dùng chiến thuật biển người. Vào thời đó, phần lớn binh sĩ Mỹ chỉ trang bị súng bắn phát một và trong nhiều trường hợp hỏa lực không đủ mạnh để ngăn chặn làn sóng người xông lên.



Một nhược điểm của súng M-79 là do trọng lượng của súng và đạn khá nặng nên một người lính khi mang súng M-79 thì không còn sức để mang súng tiểu liên nữa. Mà súng M-79 chỉ hoạt động ở tầm xa trên 70 mét. Ở khoảng cách gần, người mang súng M-79 không có gì để tự vệ ngoài khẩu súng lục vì súng M-79 nạp đạn khá chậm. Vì thế người sử dụng súng M-79 phải đi chung với đồng đội để được bảo vệ.

Để khắc phục khuyết điểm trên, vào đầu thập niên 1970, Mỹ đã nghĩ ra loại súng phóng lựu gắn dưới nòng súng tiểu liên. Súng phóng lựu cá nhân gắn dưới nòng súng tiểu liên đã gia tăng hỏa lực cho bộ binh một cách đáng kể vì người xử dụng súng phóng lựu cũng có thể sử dụng cả tiểu liên. Nhưng súng phóng lựu gắn dưới nòng súng này chỉ bắn xa được 100 mét trong khi súng M-79 có thể bắn xa đến 300 mét.  Vì thế loại súng M-79 vẫn được tiếp tục sử dụng cho các trường hợp cần đến.

Bên trong một viên đạn M-79

Súng chống tăng Bazooka M1




Chiều dài: 1370 mm
Trọng lượng: 5.8 kg
Đường kính hỏa tiễn: 60 mm

Súng Bazooka là tên để gọi chung tất cả các loại súng không giật  để chống xe tăng. Nguồn gốc của tên này là vào thập niên 1930 người Mỹ thấy loại súng này có hình dáng giống như một nhạc cụ tên là Bazooka nên gọi đùa súng này là Bazooka. Về sau Bazooka trở thành tên gọi không chính thức của loại vũ khí phóng đầu đạn mang chất nổ có định hướng dùng để chống xe tăng.

Nguyên tắc của súng Bazooka khác với các loại súng khác ở hai điểm:

1. Đó là súng không giật . Viên đạn được đặt trong nòng súng để hở ở phía sau nên khi bắn đi, sức nổ của đạn sẽ thoát ra ngoài bằng phía sau, nhờ vậy súng không bị giật . Các loại súng khác, khi viên đạn nổ thì phía sau bịt kín, đầu đạn chỉ có một hướng duy nhất là đi ra khỏi nòng súng bằng phía trước . Sức nổ đẩy viên đạn đi đồng thời tạo ra một phản lực đẩy về phía sau làm cho súng bị giật . Viên đạn chống xe tăng tuy tạo ra luồng khí phụt ra phía sau nhưng không phải là hỏa tiễn vì đạn chỉ nổ một lần trong nòng súng . Sức nổ đẩy hơi nóng ra phía sau đồng thời tạo ra một phản lực đẩy viên đạn đi ra phía trước, giống như động cơ phản lực đẩy hơi nóng ra phía sau, và phản lực sinh ra khi phụt hơi sẽ đẩy phi cơ về phía trước . Sở dĩ chọn cách để cho đạn nổ trong ống phóng mà không biến viên đạn thành hỏa tiễn để phóng đi là vì nếu dùng hỏa tiễn thì khi hỏa tiễn bay ra khỏi nòng nó vẫn tiếp tục phun hơi nóng ra phía sau và hơi nóng này sẽ đốt cháy mặt người bắn.

2. Đầu đạn để chống xe tăng là loại đầu đạn với khối chất nổ mà mặt đối diện với xe tăng được ngăn bằng một hình nón bằng kim loại. Hình nón này được đặt với chóp nón quay về phía sau còn phần mở của nón hướng về phía xe tăng. Khi chất nổ nổ, thay vì sức nổ tỏa ra khắp nơi xung quanh thì sức nổ được hình nón làm hướng vào một điểm duy nhất ở phía trước. Khi toàn bộ sức nổ được hướng vào một điểm duy nhất thì sẽ sinh ra một tia plasma nóng đến hàng ngàn độ làm chảy cả thép. Cho đến ngày nay, các đầu đạn chống xe tăng cũng vẫn dùng nguyên tắc này. Vì thế chúng ta thấy các đầu đạn chống xe tăng thường có hình thoi, giống như hai cái phễu úp vào nhau. Phần cái phễu gắn vào đuôi đạn thì mang chất nổ và nón kim loại để tụ sức nóng. Còn phần hình phễu phía trước thì chỉ có tác dụng làm cho viên đạn có đầu nhọn, ít bị cản không khí khi bay.

Cấu tạo của một đầu đạn chống xe tăng:



1. Vỏ bọc phía trước để làm cho đầu đạn nhọn, ít bị cản không khí khi bay (xanh da trời)
2. Khoảng trống . Khi đạn nổ thì sức nóng sẽ dồn vào khoảng trống này.
3. Hình nón bằng đồng để tạo cho khối chất nổ có hình nón (cam).
4. Ngòi nổ (đỏ)
5. Chất nổ

Loại Bazooka dùng tại Việt Nam là loại M1 của quân đội Mỹ và chỉ được dùng vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Vì quân đội Cộng Sản lúc đó chưa sử dụng xe tăng nên súng Bazooka rất ít được sử dụng. Ngoại trừ những trường hợp dùng để phá công sự. Súng cần phải hai người mới sử dụng được. Một người vác súng, một người nạp đạn vào ống từ phía sau. Vì đầu đạn hình thoi cũng được đút vào nòng súng nên nòng súng phải làm lớn trở nên nặng nề. Các súng chống xe tăng sau này cũng áp dụng nguyên tắc của súng Bazooka nhưng khi nạp đạn chỉ đút phần thuốc đạn phía sau còn đầu đạn hình thoi để phía ngoài nên có thể làm đầu đạn lớn hơn, có sức công phá mạnh hơn, mà ống phóng không phải làm lớn quá.



Đoạn video dưới đây chiếu về khẩu súng Bazooka:



Các loại súng DKZ (Đại Bác Không Zật) cũng dùng nguyên tắc để sức nổ thoát ra phía sau để súng không giật giống như nguyên tắc của súng Bazooka.


 Súng DKZ

 Súng DKZ, nạp đạn từ phía sau. Khi bắn, hơi phụt ra phía sau

Súng chống tăng M72



Chiều dài: dưới 1000 mm
Trọng lượng: 2.5 kg
Đường kính hỏa tiễn: 66 mm
Tầm bắn hiệu quả: 200 m

Súng M-72 là súng chống tăng loại nhẹ được chế tạo gọn nhẹ để bộ binh mang theo cùng với súng cá nhân và đạn dược. Súng M-72 chỉ bắn một lần rồi bỏ đi. Súng gồm một hỏa tiễn chống tăng đựng bên trong ống bằng nhôm bịt kín không để cho nước vào. Ống băng nhôm gồm hai ống lồng vào nhau . Ống bên ngoài có gắn cò súng nhưng không có tay cầm. Ống bên trong chứa kim hỏa để khai hỏa hỏa tiễn. Khi bắn, xạ thủ sẽ kéo ống bên trong ra phía sau, dở nắp đậy phía trước lên. Nắp đậy phía trước bây giờ biến thành bộ phận ngắm. Khi xạ thủ bấm nút nằm ở trên ống để bắn, hỏa tiễn nằm trong ống khai hỏa, đốt cháy toàn bộ thuốc súng bên trong với nhiệt độ lên đến 760 độ C rồi thoát ra khỏi ống phóng. Trên đường bay, sáu cánh bằng kim loại nhỏ sẽ bật ra để giữ cho hỏa tiền luôn luôn bay thẳng. Sau khi bắn thì ống kim loại không còn dùng nữa, xạ thủ sẽ vứt ống đi.
Súng chỉ bắn một phát rồi vứt đi xem ra là một sự hoang phí. Nếu so với súng B-40, chỉ có một khẩu súng mà dùng mãi, bắn hết viên đạn này đến viên đạn kia thì quả là tiết kiệm được nhiều hơn. Nhưng súng M-72 cũng có cái lợi điểm của nó. Nhờ nhẹ nên mỗi người lính, ngoài khẩu súng cá nhân của mình, đều có thể đeo thêm một khẩu M-72. Một tiểu đội 12 người thì có thể có đến 12 khẩu súng chống tăng. Khi lâm trận, mỗi người sẽ tản mát, núp một nơi, người nào thấy cơ hội thuận tiện thì bắn xe tăng địch. Như thế sẽ gây khó khăn cho địch hơn.

Hỏa tiễn của súng M-72 có khả năng xuyên thủng thép dày 20 cm, hay bê tông dày 60 cm, hay tường đất dày 1.8 m.


Hỏa tiễn của súng M-72

Bắn hỏa tiễn bằng cách bóp vào bộ phận khai hỏa nằm bên trên ống phóng


Minh Đức

 

 

 

Saturday, October 27, 2018

Từ Quân Y Hải Quân VNCH - Đến Những Hậu Duệ...

“Từ Quân Y Hải Quân VNCH -
Đến Những Hậu Duệ Trong Hải Quân Hoa Kỳ”

Trúc Giang MN

Năm 1963, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện chiến dịch Sóng Tình Thương, chủ yếu là bình định vùng đất Năm Căn, Cà Mau. Và Hải Quân đã thực hiện công tác dân sự vụ quân y, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào nghèo ở vùng đất mới thu hồi nầy.
 https://scontent-ord1-1.xx.fbcdn.net/hphotos-xat1/v/t1.0-0/cp0/e15/q65/s320x320/12196205_10154455316170620_4724101432310020445_n.jpg?oh=91d978e70a4f1c9453fc952e4b02cbd2&oe=574D2693
1* Mở bài
Năm 1963, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện chiến dịch Sóng Tình Thương, chủ yếu là bình định vùng đất Năm Căn, Cà Mau. Và Hải Quân đã thực hiện công tác dân sự vụ quân y, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào nghèo ở vùng đất mới thu hồi nầy.
“Sóng Tình Thương” mở màn cho những con tàu tình thương. Đó là hai con tàu tình thương HQ 400 và HQ 401. Sở dĩ gọi là con tàu tình thương vì nó chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, đa số là nghèo, ở các hải đảo và miền duyên hải xa xôi.
Tình thương được thể hiện trong việc đưa con số khổng lồ người chạy nạn Cộng Sản từ Vùng 1 và Vùng 2, miền Trung Việt Nam vào miền Nam.
Hai con tàu là một phần trong 30 chiến hạm đã mang 30,000 người chạy nạn Cộng Sản bằng đường thủy ngày 30/4/1975, rời Việt Nam để sang định cư ở Hoa Kỳ sau đó.
Con cái của thế hệ tỵ nạn VN nầy đã đạt được những thành tích làm vẻ vang người Việt Nam. Đã có hai tướng lãnh người Mỹ gốc Việt và nhiều đại tá có đủ điều kiện để thăng lên cấp tướng.
Nhiều thanh niên gốc Việt đã hy sinh tánh mạng cho đồng đội và cho đất nước đang cưu mang họ.
Một trường hợp cho thấy hậu duệ của những quân nhân Hải Quân VNCH tiếp nối cha anh làm rạng danh người Việt. Đó là ái nữ của Thiếu tá Bác sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, Nguyễn Tích Lai, là cô Diễm Hương Nguyễn, Thiếu tá Bác sĩ Hải Quân Hoa Kỳ.
2* Thành lập bịnh viện hạm
2.1. Hai tàu bịnh viện ra đời
Năm 1966, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cho thành lập một tàu bịnh viện xem như một bịnh viện nổi di động, mang dịch vụ y tế đến những đơn vị hải quân xa xôi và đồng thời thực hiện công tác dân sự vụ phục vụ y tế cho đồng bào.
Y sĩ Thiếu tá Pye là cố vấn Mỹ đầu tiên của Quân Y Hải Quân VNCH, ông nổ lực cho ra đời một bịnh viện hạm.
Quân Y HQ phối hợp với Hải Quân Công Xưởng thiết lập một sơ đồ biến cải hải vận hạm Hát Giang HQ 400 thành một tàu bịnh viện có đầy đủ tiện nghi y tế.
Những chiếc xe chở hàng thứ lớn của quân đội Mỹ, có phòng lạnh, được ràng buộc chắc chắn vào lòng con tàu chở quân đổ bộ, cung cấp những phòng khám bịnh, phòng giải phẩu, quang tuyến, nha khoa và phòng xét nghiệm.
Thế là bịnh viện hạm Hát Giang, HQ 400 ra đời.
Hai y sĩ nội thương và giải phẩu cùng với những y tá các phòng chuyên môn được cử đến y tế hạm Hát Giang làm việc bên cạnh y sĩ và y tá Việt Nam.
Hạm Trưởng HQ 400 là HQ Đại úy  Đoàn Danh Tài, Y Sĩ Trưởng là Bác Sĩ Nguyễn Tích Lai.
Bịnh viện hạm HQ 400 thành công rực rỡ nên chiếc tàu bịnh viện thứ hai ra đời cùng năm 1966. Đó là HQ 401 Hàn Giang. Hạm Trưởng là HQ Đại úy Nguyễn Văn Pháp và Bác Sĩ Trịnh Quốc Hưng làm Y Sĩ Trưởng.
2.2. Những con tàu tình thương
Ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho quân nhân hải quân và gia đình, yểm trợ y tế cho những chiến hạm, giang đoàn, duyên đoàn, hai bịnh viện hạm còn làm công tác dân sự vụ cho đồng bào ở các hải đảo và vùng duyên hải xa xôi.
Phục vụ y tế cho đồng bào nghèo gồm việc khám bịnh, phát thuốc, phân phối thực phẩm, văn nghệ giúp vui…
Những con tàu bịnh viện đi đến đâu cũng được đồng bào đón chào nồng nhiệt, thể hiện trọn vẹn tình quân dân cá nước.
Đó là những con tàu tình thương.
2.3. Một số hoạt động của Quân Y Hải Quân được trích như sau:
  • Y sĩ khám ngoại chẩn cho 28,253 quân nhân và gia đình. Thử nghiệm 74,428 người. Chụp quang tuyến cho 40,541 trường hợp. Trám nhổ răng 30,412 ca. Điều trị tại bịnh viện cho 14,848 bịnh nhân.
  • Về dược phẩm. Kho Y Dược Trung Ương Hải Quân yểm trợ cho các đơn vị quân y trung bình được 85% nhu cầu.
  • Hoa Kỳ cũng yểm trợ trong việc huấn luyện tại Mỹ, đặc biệt cho hai tàu bịnh viện HQ400 và HQ401.
  • Hoạt động của hai Y Tế Hạm rải đều ra khắp các Vùng Duyên Hải và Sông Ngòi, đến tận các hải đảo xa xôi.
Lịch sử Quân Y HQ/VNCH kết thúc vào ngày 30/4/75. Cố y sĩ Trung Tá Nguyễn Thanh Trước, Y Sĩ Trưởng BVHQ, và cố y sĩ Đại Tá Đặng Tất Khiêm, trưởng khối QY/HQ /VNCH là những chỉ huy cuối cùng của quân chủng nầy.
2.1. Bịnh viện hạm HQ 400 mang người cũ trở lại Côn Đảo
Người dân Côn Đảo rất quen thuộc tên của những chiếc tàu “đầu bằng há mõm” loại HQ 400 của Hải Quân VNCH, vì đó là những phương tiện mang lương thực, thực phẩm cũng như mọi nhu yếu phẩm tiếp tế hàng tháng cho Côn Sơn.
Vui nhất là lần nầy, con tàu HQ 400 đã mang người bạn cũ thân thương, anh Sáu Y Tế, cựu Trưởng Ty Y Tế Côn Sơn, nay là một sĩ quan QYHQ, trở lại Côn Đảo.
Anh Sáu cho mọi người biết bịnh viện hạm có những phương tiện về dịch vụ y tế mà Ty Y Tế Côn Sơn không có, đó là phòng quang tuyến, phòng xét nghiệm, phòng nha khoa, phòng phẩu thuật. Thế là mọi người ùn ùn xuống tàu.
Y Sĩ Trưởng là Thiếu tá Bác Sĩ Nguyễn Tích Lai niềm nỡ tiếp đón mọi người. Lần nầy “Sáu Y Tế” trở lại mang theo niềm vui cho mọi người.
Một đêm văn nghệ do những ca nhạc sĩ trên tàu trình diễn giúp vui, mà chưa bao giờ có ở hòn đảo chỉ có công chức và tù nhân thôi.
Trước khi rời đảo, Y Tế Hạm HQ 400 đã để lại nhiều thuốc men mà bịnh viện Côn Sơn không có.
2.2. Tình trạng thiếu thốn của Ty Y Tế Côn Sơn
Nơi khám bịnh và trị bịnh mang tên Ty Y Tế Côn Sơn. Đa số trưởng ty là những cán sự y tế. Thỉnh thoảng có vài bác sĩ làm trưởng ty nhưng họ tìm mọi cách để rời khỏi đảo, nếu bộ Y Tế không cho thuyên chuyển thì họ gia nhập quân đội.
Không có bác sĩ giải phẩu. Thiếu thốn mọi bề. Ngày nay kim tiêm dùng một lần rồi bỏ nhưng hồi đó kim được dùng đi dùng lại cả chục, cả trăm lần, cho đến khi nào thấy bịnh nhân nhăn mặt nhíu mày khi chích vein thì mới đem ra mài lại cho bén. Mài kim là việc hiếm có, chỉ có ở Côn Sơn. Những phạm nhân được cử ra làm y tá làm việc mài kim khi bị cùn, lụt đó.
Đời sống của họ cũng thiếu thốn đủ thứ. Thỉnh thoảng có được một bữa tiệc mà món ăn là nhau của sản phụ trong một ca sanh. Cắt rún nhưng không chôn nhau. Chôn nhau là lãng phí. Rượu là alcohol của bịnh viện pha với nước dừa cũng làm say nhừ tử để quên những ngày tháng tù tội.
3* Tàu siêu bịnh viện hoa Kỳ
  http://port.sihanoukville-cambodia.com/images/pacific-partnership/P1080501.jpg https://www.mercyships.org/wp-content/uploads/2014/08/Africa-Mercy-transporting-supplies.jpg
            Tàu bệnh viện USNS Mercy (T-AH19)
Ngày 17-8-2015, tàu bịnh viện USNS Mercy (T-AH-19) và tàu hộ tống USNS Millinocket của Hải Quân Hoa Kỳ đã đến Đà Nẵng trong một công tác nhân đạo.
USNS Mercy được mệnh danh là tàu siêu bịnh viện, với 1,000 giường bịnh, 12 phòng giải phẩu kỹ thuật cao, thực hiện giải phẩu đa khoa gồm tai mũi họng, thần kinh, tiết niệu, nha khoa, sản phụ khoa, tim và lòng ngực… và chỉnh hình. Có 1,600 sĩ quan, gồm bác sĩ Hoa Kỳ, Úc, New Zealand và mộtTrung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt là Josephine Nguyễn Cẩm Vân.
3.1. Sự khác biệt giữa USNS và USS trong Hải Quân Hoa Kỳ
USNS= United States Naval Ship
USS= United States Ship
USNS là tàu thuộc Hải Quân Hoa Kỳ nhưng thủy thủ đoàn và chiếc tàu đều thuộc về dân sự, dưới sự quản lý và chỉ huy của Bộ Chỉ huy Vận tải Quân đội (Military Sealift Command).
USNS không trang bị hệ thống vũ khí. Không trực tiếp chiến đấu và chỉ trang bị vũ khí tự vệ mà thôi.
USS (United States Ship) là những chiếc tàu dưới sự điều khiển chỉ huy của Hải Quân Hoa Kỳ. Được trang bị hệ thống vũ khí để trực tiếp chiến đấu. Toàn bộ thủy thủ là quân nhân Hải Quân Hoa Kỳ.
3.2. Vài nét về tàu bịnh viện USNS Mercy
USNS Mercy (T-AH-19) được xem là một bịnh viện khổng lồ di động trên biển.
Mercy là chiếc tàu bịnh viện đầu tiên của lớp tàu Mercy. Con tàu thứ hai là USNS Comfort (T-AH-20).
Mercy bao gồm ý nghĩa của đức hạnh (Virtue) và tình thương (Compassion).
Nhiệm vụ chính của tàu Mercy là cung cấp dịch vụ y tế và giải phẩu một cách nhanh chóng cho Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, những đơn vị không quân trú đóng trên bờ, cho hải quân và các chiến dịch quân sự Hoa Kỳ.
Nhiệm vụ thứ hai của tàu Mercy do chính phủ điều động đến phục vụ y tế cho các thiên tai, cứu trợ nhân đạo.
Cảng nhà của USNS Mercy đóng tại San Diego, California.
Nhân sự trên tàu gồm hai thành phần:
  • Thủy thủ doàn. Chịu sự quản lý của Bộ Chỉ huy Vận tải Hải Quân Hoa Kỳ.
  • Nhân viên y tế. Đặt dưới sự chỉ huy của Quân Y Hải Quân Hoa Kỳ.
Những chi tiết về chiếc tàu.
Tàu dài 272.50m. Đứng hàng thứ hai sau lớp sân bay Nimitz, dài nhất thế giới, 332.8m. Sườn tàu rộng 32.18m.
Tốc độ 17.5 hải lý/giờ (32.4 km/giờ)
Thủy thủ đoàn 1,214 quân nhân. Nhân viên quân y: 63 dân sự, 956 quân y hải quân. Đặc biệt là có Trung tá Quân Y Hải Quân gốc Việt là Josephine Nguyễn Cẩm Vân.
3.3. Công tác quân y
  http://tamnhin.net/stores/news_dataimages/xuanhoang/082015/17/16/722cfdd626288d0206d72528f66c6ca2_4c.jpg C:\Users\Davis\Desktop\PHẨU THUẬT TÀU MERCY.jpg Trung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ Josephine Nguyễn Cẩm Vân
    Trung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ Josephine Nguyễn Cẩm Vân trên tàu Mercy
1. Năng lực chữa trị bịnh nhân
Tàu có 1,000 giường bao gồm:
  • 80 giường khu chăm sóc đặc biệt. 20 giường khu hồi sức. 280 giường khu chăm sóc trung bình. 120 giường khu chăm sóc nhẹ. 500 giường khu chăm sóc giới hạn.
2. Các phòng ban và trang thiết bị
- Nơi tiếp nhận bịnh nhân. Dịch vụ quang tuyến X. Phòng thí nghiệm. Trung tâm tiếp nhận vô trùng. Cung cấp thuốc men. Vật lý trị liệu và điều trị bỏng (phỏng). Đơn vị chăm sóc đặc biệt. Dịch vụ nha khoa. Dịch vụ nhãn khoa. Nhà xác. Chỗ giặt ủi. Nhà máy sản xuất oxy.
3.4. Tàu hộ tống USNS Millinocket T-EPH-3
  http://militaryvideos.com/wp-content/uploads/2015/08/hsv4.jpg https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/02/The_Military_Sealift_Command_hospital_ship_USNS_Mercy_(T-AH_19)_and_the_Joint_High_Speed_Vessel_USNS_Millinocket_(JHSV_3)_participates_in_Pacific_Partnership_2015_150527-N-BK290-598.jpg
                 Tàu hộ tống USNS Millinocket T-EPH-3
Tàu hộ tống USNS Millinocket có nhiệm vụ hộ tống tàu tình thương USNS Mercy. Đó là tàu vận tải hạng nặng, tốc độ rất nhanh, trực thuộc Bộ Tư Lệnh Vận Tải Quân Đội Hoa Kỳ.
Hai bên hông tàu có những hành lang để chở nhiều xe quân sự và dân sự lên xuống tàu rất nhanh.
Tốc độ tàu USNS Milinocket từ 35 đến 45 knots/giờ (từ 65 đến 83km/giờ). Lợi thế của tàu vận tải hạng nặng nầy là chuyển quân với đơn vị lớn có trang bị vũ khí hạng nặng của các quân chủng.
4* Hậu duệ của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong Hải Quân Hoa Kỳ
Theo Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt thì có hơn 3,000 quân nhân người Mỹ gốc Việt đang phục vụ trong Quân Đội Hoa Kỳ. Trong đó có trên 1,000 sĩ quan với hơn 20 đại tá. Một số đại tá có đủ điều kiện thâm niên để thăng cấp chuẩn tướng hay phó đề đốc.
Hậu duệ của Hải Quân VNCH trong số những sĩ quan đó.
4.1. Rạng danh gia đình của cựu Hải Quân Đại úy Vũ Thế Hiệp
Đại tá Hải Quân Hoa Kỳ Vũ Thế Thùy Anh
Ái nữ của cựu HQ Đại úy Vũ Thế Hiệp là cô Vũ Thế Thùy Anh được vinh thăng Đại tá Hải Quân Hoa Kỳ hồi tháng 7 năm 2015.
Ba người con khác của Đại úy Hiệp cũng thành đạt trong ngành y khoa:
  • Vũ Thế Duy Anh, bác sĩ quang tuyến.
  • Vũ Thế Tuấn Anh, bác sĩ cấp cứu.
  • Vũ Thế Quốc Anh, bác sĩ nhãn khoa.
Cựu Đại úy Hải Quân Vũ Thế Hiệp rất tự hào là một sĩ quan Hải Quân VNCH. Ông luôn luôn nhắc nhở các con, sống cho xứng đáng là người Việt Nam.
4.2. Những Đại tá Hải Quân người Mỹ gốc Việt
1). Đại tá bác sĩ Huỳnh Trần Mylene. Giám đốc Chương trình Chuyên viên Y Khoa Quốc Tế (Director of the Air Force International Specialist Program).
Cha là sĩ quan Quân Y VNCH. Em trai là Trung tá Huỳnh Trần Đại Apollo, bác sĩ thuộc ngành Y Học Không Gian (Chief of Aerospace Medicine). Ngoài ra còn có Đại tá Bác sĩ Không Quân Michelle Huỳnh (Đã giải ngũ năm 2014)  
  http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled29.png https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg9YBC9XEfxac4ML74jHLYDsaE6e9nozOktvnvcnwBN9BN1Mw9g39i_ET8LemLEhAGGjvjdZwAGSGjCXw8jA-6tRghOXNI2U7R3e2z5iPJ4zW5sOgsgrJcAhkSDPVKHhzzDFdgbbYxDFs8/s1600/DaiTaTrinhH%C6%B0ng1.JPG image
Từ trái qua. Đại tá BS Huỳnh Trần Mylene * Đ/t BS HQ Trịnh Hưng * Đại tá Tôn Thất Tuấn
Đại tá Nha sĩ Hải Quân Trần Ngọc Nhung, gia nhập Hải Quân năm 1989, và Đại tá Nha sĩ Hải Quân Thu Phan Getka. Chồng là Trung tá HQ Eric Getka, ngành thần kinh tâm lý.
      http://motgoctroi.com/StNguoiNViec/SQViet/tranngocnhung.jpg blank
Từ trái qua. Đại tá Nha sĩ Tran Ngoc Nhung “đứng” và Đại tá Nha sĩ Thu Phan Getka “ngồi * Đại tá Danielle J. Ngô gia nhập Lục quân Hoa Kỳ năm 1990.
Năm 2010 đã có những Đại tá Hải Quân (Navy Captain) là các đại tá: Hà Văn Thinh, Bác sĩ Christopher Stephen Lý, Trinh N.K., Thomas Nguyễn.
   http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled26.png http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled38.png http://www.sbtn.tv/sites/default/files/styles/article_detail/public/articles/dai_ta_khong_quan_michael_phan.jpg?itok=yX2caCeL
Đại tá Thomas Nguyen chỉ huy Tiểu đòan 2, Trung đoàn 44 Phòng không
Đại tá Chau Huu Hanh được thăng cấp Đại tá năm 2010. Đ/t Michael Phan
12 Hải Quân Đại tá gồm có các Đại tá: Dương Hữu Ngân, Đỗ H. Thuy, Trần Quốc Bảo, Phạm Tuấn Xuân, Đoàn William Ray II, Huỳnh Thanh T., Lac Tri H., Nguyễn Mark Minh Duy, Trần Jim T., Liebig Tina Trần, Dương Thanh X. N. và Đại tá Lê Bá Hùng.
Lê Bá Hùng sinh năm 1970 tại Huế. Là người gốc Việt đầu tiên giữ chức vụ Hạm trưởng một tàu chiến hiện đại nhất của Hải Quân Hoa Kỳ. Đó là chiếc USS Lassen.
  http://img.v3.news.zdn.vn/w660/Uploaded/sotnzj/2015_10_27/hamtruong6.jpg http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/Uss-lassen-commander-hung-le-talks-about-his-port-visit-to-vietnam-11062009144123.html/lebaHung-navy-mil-305.jpg Image
        Hạm Trưởng Đại tá Lê Bá Hùng chỉ huy Khu trục hạm USS Lassen DDG-82
Hồi tháng 6 năm 2010, Đại tá Nguyễn Minh Hùng được ghi tên trong danh sách tuyển chọn để thăng cấp Phó Đề đốc.
  http://vietlifestyles.com/wp-content/uploads/2015/05/Untitled27.png http://data.vietinfo.eu/News/2014/07/13/206512/1405257785.0388.jpg https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj3POcLOnbZAE27iwluQ5pxv1HHXTsmxPtfBDJMuQXDnzczRJrJNrnzNRRXwam7beuHuITuaKPvW0wFwJp9vHsIZ3UOPvRmINz7i_31CFZ2qAbCrpFGZh7NzWiGxDUBTDYTGKw_YDOnObo/s1600/KQ_DaitaBacsi_Paul_Doan.png
Từ trái qua. Đại tá Nguyễn Minh Hùng. Đại tá y sĩ Nguyễn Dương 3* Đại tá Không Quân Paul Đoàn
4.3. Những Hải Quân Trung tá gốc Việt
Những HQ Trung tá gốc Việt như: HQ Trung tá Cao Hùng, Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Người Nhái, Châu Hữu Hạnh, Patrick Reardon, Nhật Thomas Trần, Kimberly Mitchell (Em bé trong chiếc nón lá ở Đại Lộ Kinh Hoàng năm 1972), Trung tá bác sĩ Hoàng Ngọc Tuấn.
  https://tranbathoaimdphd.files.wordpress.com/2014/02/cao-hc3b9ng.jpg Trung tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ Josephine Nguyễn Cẩm Vân http://intermati.com/hanna/2014/04m/23d/66.jpg
HQ Trung tá Cao Hùng *Trung tá Bác sĩ Josephine Nguyễn Cẩm Vân * Diệp Khanh
4.4. Thiếu tá Elizabeth Phạm là nữ phi công xuất sắc của TQLC Hoa Kỳ
  https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhJsuiEq396wec1Pl5fvxp3K4fckhJJDCpPe-BG6jZWawvEbsuk7n3Dn8-BUFcb7uDOaQBo32ijTBYAzP5vyQdGDBMM16RBZc_W7eGllWCvv2cDZiwNeTcTWWZc2gfYF2Eu9n4pt5GU5dWf/s1600/252372_137835389699932_1993474473_n.jpg C:\Users\Davis\Desktop\1. BETH PHAM.jpg https://i1.wp.com/media.defenseindustrydaily.com/images/AIR_EA-18G_Underside_lg.jpg
Thiếu tá phi công TQLC Elizabeth Phạm và hôn phu là Alexander Roloss. Phi cơ F-18
Thiếu tá Elizabeth Phạm là ái nữ của cựu bác sĩ Quân Y /VNCH, Phạm Văn Minh. Cô là người Châu Á đầu tiên lái phi cơ phản lực siêu thanh F-18, cũng là nữ phi công duy nhất của Không Đoàn 242 TQLC Hoa Kỳ, lái phi cơ hiện đại nầy.
Cô phục vụ trong đơn vị ứng chiến thường trực tiền phương của TQLC trong vùng Thái Bình Dương và chiến trường Vùng Vịnh, đặc biệt là Iraq.
Hôn phu là Alexander Roloss cũng là phi công lái F-18 cùng đơn vị. Phu quân của cô Elizabeth Phạm cho biết “Bây giờ cô không phải chỉ là một phi công bình thưòng mà cô được vinh danh trong hạng những phi công xuất chúng vì nằm trong chương trình "Top Secret Clerance" Bí mật Chiến Lược Quốc Phòng”
F-18 là phản lực cơ siêu thanh thuộc thế hệ thứ 4, hoạt động trong mọi thời tiết. Trang bị nhiều loại bom và hỏa tiễn. Tốc độ ở Mach 1.8 (1,915 km/giờ).
Elizabeth Phạm làm rạng danh phụ nữ Việt Nam. Một anh thư thời đại.
4.5. Hai vị tướng người Mỹ gốc Việt trong Quân Đội Hoa Kỳ
Hai vị tướng người Mỹ gốc Việt là Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Chuẩn tướng Châu Lập Thể (Lapthe C. Flora).
1). Thiếu tướng Lương Xuân Việt
   Colonel Joseph M. Martin https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjb1MldtlraIGkM-En03r84AYXiv6uriDfKBB6QS-W5qNTKSu9w6ynXyoqjq0rZRxb-AzM3BiOIo6Fv_K8U0MdK0XrvNbFB8-zQIy0nxMfRcRn9scqdQfNEMjjbMr79hkEA1AL04t_shSmf/s1600/135349-LUONG_X_VIET---400.gif http://www.thienlybuutoa.org/Misc/LuongXuanViet-family.jpg


Năm 1975, ông Lương Xuân Việt đến Mỹ khi 10 tuổi. Thân phụ là Thiếu tá Lương Xuân Đương thuộc Sư đoàn TQLC/VNCH.
Ông đỗ cử nhân môn sinh hóa, tiến sĩ môn Khoa Học và Nghệ Thuật Quân Sự.
Khi còn đại tá, ông là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 với quân số 9,000 người. Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn Dù 101 của Quân Đội Hoa Kỳ.
Chuẩn tướng Việt đã lập được nhiều thành tích trên chiến trường Iraq. Bộ QP/HK cử ông thuyết trình trước các tướng lãnh và quan chức quốc phòng về chiến thuật và cách chỉ huy của ông.
Trả lời phỏng vấn đài CNN, tướng Việt cho biết: “Chúng tôi đã phá vỡ trên một chục ổ khủng bố, tịch thu được nhiều tài liệu tình báo. Dẹp tan các thủ lãnh Al-Qaeda địa phương. Bắt giữ trên 1,000 tên khủng bố. Giúp Iraq thành lập Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia”.
Trên tạp chí Time ngày 26-6-2007, ký giả Mark Kukis cũng tường tuật thành tích của ông.
Hiện nay ông giử chức vụ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Nhật Bản
Thành tích xứng đáng được mang Thiếu tướng hai sao của QĐ/HK.
Gia đình tướng Việt có 5 người. Vợ là bà Quyên Kimberly Lau. Con gồm một gái hai trai. Ashley Thu Diễm (13 tuổi), Brandon Xuân Huy (10 tuổi) và Justin Xuân Quốc (7 tuổi).
2). Chuẩn tướng Châu Thế Lập
    Chuẩn Tướng Flora, tay trái đặt trên bìa cuốn Kinh Thánh do con gái cầm, tay phải giơ tay thề trung thành với Tổ Quốc Hoa Kỳ và giữ sự trung tín trong chức vụ mới. Image result for chuẩn tướng châu thế lập
Chuẩn Tướng Châu Thế Lập Flora, tay trái đặt trên bìa cuốn Kinh Thánh do con gái cầm, tay phải giơ tay thề trung thành với Tổ Quốc Hoa Kỳ và giữ sự trung tín trong chức vụ mới.
Đại tá Lapthe C. Flora đang giữ chức Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Vệ Binh Quốc Gia Virginia 91.
Sau khi được Hội Đồng Thăng Cấp tuyển chọn, Bộ Tư Lệnh binh chủng đề nghị lên Bộ Quốc Phòng. Hồ sơ được chuyển sang Quốc Hội và đã được Thượng Viện phê chuẩn thuận vào tháng 8 năm 2015.
Được vinh thăng Chuẩn Tướng lúc 9 giờ 30 sáng Thứ Hai, 6-6-2016, tại Đài Tưởng Niệm D-Day ở thành phố Bedford, tiểu bang Virginia.
Châu Lập Thể sinh năm 1962 tại Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam. Cha mẹ là người Việt gốc Hoa. Thân phụ tử trận năm ông lên 2 tuổi.
Vượt biên sang Mỹ năm 1980. Ông được vợ chồng người Mỹ là John và Audrey Flora bảo trợ nên mang họ Flora để nhớ ơn. Ông từng phục vụ trong những đơn vị tác chiến, từ tiểu đoàn, Lữ đoàn Bộ Binh, tác chiến trên các chiến trường Bosnia, Kosovo, Afghanistan. Hồi tháng 5 năm 2015 được cữ giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Vệ Binh Quốc Gia Virginia số 91.
5* Hậu duệ quân nhân Việt Nam Cộng Hòa phục vụ quê hương thứ hai
5.1. Phục vụ quê hương thứ hai
Cộng đồng người Việt rất dễ hội nhập vào xã hội Mỹ. Họ không mang lại khó khăn, phiền phức và lo ngại cho quốc gia đã mở rộng vòng tay tiếp nhận họ. Không như một vài cộng đồng sắc tộc và tôn giáo đến tỵ nạn ở Mỹ đã tạo ra.
“Xin nhận nơi nầy làm quê hương”. Quê hương thứ hai, sau khi quê hương thứ nhất bị mất vào tay chế độ độc tài Cộng Sản.
Nhiều người Việt đã thực hiện lời cam kết khi tuyên thệ gia nhập quốc tịch Mỹ. Họ gia nhập quân đội để trực tiếp phục vụ và bảo vệ quê hương thứ hai. Đó là ân nghĩa, là đạo lý làm người.
Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh có nói, chúng ta nợ đất nước nầy rất nhiều, mặc dù họ không đòi nhưng chúng ta có bổn phận phải trả.
Hậu duệ của quân nhân VNCH nói chung, của Hải Quân VNCH nói riêng, đang làm điều đó.
5.2. Mười hai anh hùng liệt sĩ gốc Việt trong Quân Đội Hoa Kỳ
  https://www.tncvonline.com/cms/uploadedcontent/newsDocs/img/coHSTQLCLeNgocBinh.jpgThượng sĩ Lực lượng đặc biệt Nguyễn Mạnh Tùng. Hạ sĩ bộ binh Trần Quốc Bình.
     Hạ sĩ Lê Ngọc Bình*Thượng sĩ LLĐB Nguyễn Mạnh Tùng* Hạ sĩ Trần Quốc Bình
“Nước Mỹ rất may mắn có những công dân là di dân khắp năm châu trong đó có Việt Nam. Nước Mỹ vô cùng biết ơn con cái của những gia đình tỵ nạn Việt Nam như trường hợp của người lính trẻ Lê Ngọc Bình, đã hy sinh cho đồng đội và cho đất nước đang cưu mang họ.”
Đó là lời phát biểu của Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Paul Wolfowitz, trong tang lễ được tổ chức theo lễ nghi quân cách của Hạ sĩ TQLC Lê Ngọc Bình tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Arlington, Washington, D.C. .
Hạ sĩ TQLC Lê Ngọc Bình đã anh dũng đứng ra ngăn chặn một chiếc xe tải chứa đầy chất nổ của quân khủng bố, đang lao nhanh vào trại quân TQLC Hoa Kỳ ở Iraq. Hạ sĩ Bình đã bắn chết tên tài xế, chiếc xe lật ngang và phát nổ bên ngoài trại quân.
Sức công phá quá mạnh làm cho Hạ sĩ Bình bị trọng thương và từ trần sau đó.
Ngoài tử sĩ Lê Ngọc Bình còn có nhiều anh hùng gốc Việt đã hy sinh tánh mạng cho nước Mỹ.
Trung sĩ nhất Nguyễn Văn Thanh, tử trận ngày 22-12-1996. Hạ sĩ TQLC Alan Dinh Lâm, tử trận ngày 22-4-2003. Hạ sĩ TQLC Andrew S. Đang, hy sinh ngày 22-3-2004. Hạ sĩ Trần Quốc Bình, tử trận ngày 7-10-2004. Hạ sĩ TQLC Victor R. Lữ, hy sinh ngày 13-11-2004. Thượng sĩ Lực Lượng Đặc Biệt Nguyễn Mạnh Tùng, tử trận ngày 14-11-2006. Trung sĩ Nguyễn Ngọc Long, tử trận ngày 10-2-2007. Hạ sĩ Nguyễn Hồng Đan, hy sinh ngày 8-5-2007. Trung sĩ 1 bộ binh Tran Hai Du, tử trận ngày 20-6-2008. Binh nhất bộ binh Ngô Q. Tan, tử trận ngày 27-8-2008. Hạ sĩ TQLC Nguyen Lee Van Te, hy sinh ngày 28-12-2010.
Từ năm 1996 đến tháng 12 năm 2010 đã có 12 anh hùng gốc Việt hy sinh trên các mặt trận Iraq và Afghanistan.
6* Nguồn gốc bi đát của nữ Trung tá Hải Quân Hoa Kỳ
6.1. Đứa bé trong chiếc nón lá
  https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTxs_KyHvYaayR67WY1nrYyFB7HY4Zt3omtv16Omu9ref8htcn_ http://i1094.photobucket.com/albums/i449/thinhdangduytan/Album7/Album%208/c991f1ddf31045018f31e093b30aa886_zpsb4f86ab3.jpg
Trên Đại Lộ Kinh Hoàng tỉnh Quảng Trị năm 1972 của Mùa Hè Đỏ Lửa, trong hàng chục ngàn người chạy nạn Cộng Sản bị chết vô số dưới mưa đạn đại bác của Việt Cộng. Một đứa bé đang trườn trên bụng người mẹ đã chết, tìm vú để bú. Cảnh tượng thương tâm đó khiến cho người lính quân cụ không thể bỏ qua. Anh đặt đứa bé vào chiếc nón lá rồi thất thểu chạy theo dòng người chạy nạn.
Anh lính quân cụ giao đứa bé lại cho Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến VNCH tên Trần Khắc Báo, vì anh đã kiệt sức.
Thiếu úy Trần Khắc Báo đặt tên đứa bé là Trần Thị Ngọc Bích vào giao cho nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư đoàn TQLC. Cuối cùng đứa bé được giao cho các bà sơ ở Cô Nhi Viện Thánh Tâm, Đà Nẵng, chăm sóc.
Cũng trong năm 1972, Trung sĩ Không quân người Mỹ tên James Mitchell đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm xin em bé Ngọc Bích làm con nuôi và đưa về Mỹ sống ở trang trại tại Solon Springs, bang Wisconsin.
Kimberly Mitchell trở thành Trung tá Hải Quân làm việc ở Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.
  http://womenforwoundedwarriors.org/wp-content/uploads/Mitchell-480x453.jpg https://scontent-ord1-1.xx.fbcdn.net/hphotos-xfa1/v/t1.0-9/1044046_474106056007640_1596713292_n.jpg?oh=2ec5e335fab31754d24f13427e6c71cb&oe=57586D3A
   Nữ Trung tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt - Kimberly Mitchell  trong lần gặp Cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton trước đây
Phần Thiếu úy Trần Khắc Báo, ông bị bắt làm tù binh năm 1972 và được thả năm 1981. Sau khi ra tù, ông cố tìm tông tích của đứa bé ở Đại Lộ Kinh Hoàng năm xưa nhưng không có kết quả.
Tháng 9 năm 1994 Thiếu úy Báo cùng với vợ và con gái đến Hoa Kỳ theo diện HO và định cư ở thành phố Albuquerque, tiểu bang New Mexico.
6.2. Gặp lại ân nhân cứu mạng sau 40 năm
  https://daohieu.files.wordpress.com/2014/02/tran-khac-bao-02.jpg?w=593 http://www.vietboatpeoplemuseum.ca/wp-content/uploads/2015/03/sau-41-nam-02.jpg
Thiếu úy Trần Khắc Báo thuật lại: “Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích. Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.”
Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.
6.3. Giây phút cảm động
Sau khi được liên lạc với ông Trần Khắc Báo, cô Mitchell quyết định tổ chức một cuộc gặp mặt trước truyền thông Hoa Kỳ. Cô mời 7 đài truyền hình và những nhà báo tham dự. Không có việc tiếp đón ở phi trường hay khách sạn, mà cô muốn giây phút cảm xúc đầu tiên và thật sự trước mặt truyền thông Hoa Kỳ, tại cơ quan Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở tiểu bang New Mexico.
“Tôi muốn gặp ông Trần Khắc Báo”, cô Mitchell nói với ông Chủ tịch Cộng Đồng.
“Đây là ông Trần Khắc Báo”.
Lập tức Kimberly Mitchell, Trần Thị Ngọc Bích, tiến đến ôm lấy ông Báo, cả hai cùng khóc nức nở.
Giây phút cảm động được đưa lên truyền hình và báo chí Hoa Kỳ.
Cô Kimberly cho biết, cô có hai cái may, đó là được những người lính VNCH cứu mạng và được người cha nuôi nhận làm con và đưa về Mỹ nên mới có được như ngày nay.
Ông Trần Khắc Báo cho biết, ông được một cái may là tình cờ đọc được bài viết của tác giả Trúc Giang Minnesota. Tựa bài: “Cuộc chạy trốn Cộng Sản kinh hoàng trong lịch sử Việt Nam”. (Ngày 28-4-2012).
7* Kết luận
Những ngày tháng sôi động mà miền Trung bị đe dọa sắp mất vào tay Cộng Sản Bắc Việt, hai con tàu tình thương HQ 400 và HQ 401 trở lại làm nhiệm vụ vận tải, đưa số người tỵ nạn khổng lồ về Phú Quốc.
Đồng bào nói với nhau những câu chan chứa đầy ân tình: “Nếu không có Hải Quân ra đón thì số người chết ở Vùng 1, Vùng 2 gia tăng gấp bội, vì Việt Cộng nó có chừa ai đâu, dân hay quân gì thì chúng cũng nã pháo tiêu diệt”.
HQ 400 và HQ 401 trong đoàn 30 chiến hạm đưa 30,000 người từ Côn Sơn đi Philippines để vào Mỹ.
Đó là người tỵ nạn thuộc thế hệ thứ nhất mà con cái họ đã tạo ra những thành tích vẻ vang trong việc phục vụ nước Mỹ. Thứ Trưởng Quốc Phòng Paul Wolfowitz đã đại diện nước Mỹ đưa ra lời cám ơn: “Nước Mỹ vô cùng biết ơn con cái của những gia đình tỵ nạn Việt Nam như trường hợp người lính trẻ Lê Ngọc Bình đã hy sinh cho đồng đội và cho đất nước đang cưu mang họ”.
Trúc Giang
Minnesota
Nguồn:
http://vnchtoday.blogspot.com/2018/09/tu-quan-y-hai-quan-vnch-en-nhung-hau.html