Tuesday, May 18, 2021

Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt - (Trước và Sau 1975)

 

Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt
(Trước và Sau 1975)






Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt


Xin kể hầu quí vị một câu chuyện có thực, xảy ra cách nay không lâu tại ngay khu cư xá của người viết bài này:

Số là kẻ hèn này được một nhóm bạn phân công tổ chức tiệc họp mặt mừng “Ngày Nhà Giáo” năm đó. Địa điểm lại chính là cái nhà nho nhỏ của cha mẹ kẻ hèn này để lại trong một khu cư xá mênh mông được phân thành nhiều lô nhà và mỗi lô được đặt tên bằng một chữ cái trong bảng mẫu tự. Chuyện xảy ra cũng chỉ vì mấy cái tên mẫu tự này.

Trong số khách đến dự tiệc có người chưa từng ghé qua tệ xá nên mặc dù có địa chỉ in sẵn trên thiếp, vài vị vẫn không cách nào tìm được nhà. Vả lại, lúc đó trời cũng đã tắt nắng mà điều kiện an ninh khu xóm lại dưới mức an toàn, nghĩa là chả có đèn đường chi cả. Không cách nào đọc được bảng số trước cửa các căn nhà không chịu lên đèn do muốn tiết kiệm điện, một vị giáo sư đi lạc bèn áp dụng lời cha ông dạy “đường ở miệng mình chứ đâu”: thấy một đám thanh niên đang ngồi uống cà phê đầu một ngã tư, ông hỏi, đại loại là “Lô giê ở đâu?” Anh thanh niên không biết chữ “giê” là gì. Vị giáo sư chợt hiểu ra bèn hỏi lại “Lô gờ ấy mà.” Anh thanh niên dường như đã hiểu nhưng muốn chắc hơn nên hỏi lại “Gờ thì biết, nhưng mà gờ gà hay gờ gùa?”!!!

Vâng! Chữ “R” được dạy ở trong nước là “chữ Rờ”, và thanh thiếu niên ngày nay lại có khuynh hướng nhà quê hóa trong phát âm, họ cố gắng bắt chước cách phát âm [r] thành [g] của người miền Tây, “cái rổ” nói thành “cái gổ”, “xong rồi” nói thành “xong gồi” và thành quen miệng, không sửa được nữa. Hậu quả là “gờ” “gờ” như nhau. Thế nên anh nọ mới phải thêm gà với rùa (nói ngọng thành “gùa”) cho nó “gõ gàng”. Theo cái kiểu “Bê bò hay bê phở” ấy mà.

Đây là một vấn đề của các vị 'hàn lâm học sĩ' nước ta (sau 1975). Mà “nước ta” đã có Viện Hàn Lâm chưa ấy nhỉ? Nhưng dù chưa có hay có rồi đi nữa thì cũng đã xảy ra một kết cục: Cách gọi tên chữ cái của cha ông ta, vốn là “A, Bê, Xê, Dê...”, đã bị phủ nhận hoàn toàn. Các ngài hàn lâm học sĩ đã đặt lại bằng một loạt tên có cùng vần [ờ]: “A, Bờ, Cờ, Dờ...”, có lẽ với lý do dễ ghép vần. Mà đúng thế thật, “bờ a ba” nghe xuôi hơn là “bê a ba” chứ nhỉ. Nếu phải đánh vần “bê a” thì kết quả phải là “bêa” chứ sao lại là “ba” được.

Mới nghe thì thấy các ngài “Hàn Lâm Học Sĩ nước ta” quả là có lý. Nhưng thực tế thì các ngài đã đánh đồng bản chất với tên gọi. (Cái sai lầm về bản chất và tên gọi thì chỉ có học sinh cấp 1/tiểu học mới mắc phải, còn người nhà quê thì thường nhắc nhau “nó vậy mà không phải vậy”.) Không phải bất cứ ai tên là “Đại” cũng to lớn, bất cứ ai tên “Minh” cũng sáng láng đâu. Thế nên tên chữ là tên chữ, khi đánh vần ta có thể quên tên chữ đi mà chỉ cần nhớ âm của chúng là đủ. Với lại khi cần đọc chữ viết tắt mà dùng tên của các ngài đặt thì sẽ sinh lắm chuyện buồn cười. Chả lẽ lại nói “nờ đờ cờ pờ” khi phải đọc “NĐCP” hay “nờ quờ tờ ư đờ” khi đọc “NQTƯĐ”. Rối quá nên các phát thanh viên truyền hình khi phải đọc “WTO” cho hàng chục triệu khán thính giả nghe đã lúng túng và đọc đại “vê kép ti âu”! (Chuyện có thực, chả hiểu tại sao lại ra nông nỗi thế.) Rồi “NQĐHTWĐ” đọc là?

Bây giờ hãy thử bàn đến những sai lầm trong cách đặt tên của quí cụ hàn lâm viện sĩ Việt Nam.

Như ta biết, tất cả các chữ phụ âm của tiếng Việt đều được các ngài đặt tên bằng âm của nó ghép với vần “ờ” theo kiểu chữ nào mang âm nấy. Như chữ B tên là “bờ”, âm “bờ”, C là “cờ” âm “cờ”, vân vân... Cách đặt tên này có vẻ có qui luật và dễ nhớ. Tuy nhiên có thật quá khó trong việc nhớ tên khoảng 20 chữ phụ âm cho dù tên chúng không theo qui luật nào hết? Lại nữa, khi phải đọc một loạt chữ viết tắt có vần [ờ] thì quả thật không ai có thể nghe rõ được vì chúng là vần xuống giọng. (Có lẽ nên bỏ dấu huyền đi và sửa thành bơ, cơ, dơ, đơ... thì khi đọc chữ tắt nghe mới rõ ràng.) Thế nhưng cứ theo luật của các cụ thì chữ K tên là gì một khi C đã là “cờ” rồi? À, quí cụ gọi tên nó là “ca”, nhưng thế thì còn đâu qui luật “chữ nào âm nấy” nữa. Mà tên “ca” này lại càng lỏi ra khỏi thanh dấu huyền của toàn bộ (lẽ ra nên đặt là “cà”). Vậy tức là khi nào bí quá thì quí cụ lại theo cách gọi tên cũ của tổ tiên?!

Hai chữ S và X cũng được các cụ giữ lại tên cũ là “ét sờ” và “ích xì”. Các cụ sợ gì mà không đặt tên chúng là “sờ” và “xờ” cho đúng luật của các cụ. Các cụ bảo nếu gọi chúng là “sờ” và “xờ” thì e rằng học sinh tiểu học không phân biệt được.
Mà quả có thế thực, có một thời các giáo viên tiểu học xã hội chủ nghĩa phải dạy “S” tên là “sờ” và “X” tên là “xờ”, học sinh (chắc là miền Bắc, vì người Bắc không phân biệt được hai âm này) loạn cả lên, cứ sai chính tả hoài. Thế rồi có một cô giáo đã “phát huy sáng kiến”, gọi “s” là “sờ chim” vì có dạng viết tay giống hình con chim, và “x” là “sờ bướm” vì có bốn cánh giống hình con bướm. Rồi cô dặn học trò “Các con phải nhớ sung sướng là sờ chim, còn xót xa là sờ bướm!...”

Các cụ sợ chúng không phân biệt được “sờ” và “xờ” của S và X, thế thì các cụ tưởng rằng chúng phân biệt được “bờ” và “pờ” của chữ B và P chắc?  Các cụ cũng tưởng là chúng có thể phân biệt được “dờ” và “zờ” của chữ D và Z chắc? Các cụ hay tưởng quá!

Rồi chữ “gờ” của các cụ (G), vì thấy nó có âm [g] (gờ) các cụ bèn gọi nó là chữ “gờ”. Nếu quả thật nó chỉ có âm gờ thì các cụ cứ “gé” “zảng” đường mà “gi” chép “zúp” tôi, tôi chẳng “gẻ” lạnh “zì” các cụ đâu! Quả là “gê” tởm!

Một điều đặc biệt không thể chấp nhận được là các cụ gọi chữ Q là chữ “quờ”. Vâng, các cụ phải đổi tên nó thôi, vì nếu giữ tên cũ là “cu” thì sợ học sinh con gái đỏ mặt không học chính tả được. Ấy, các cụ lại tưởng ai cũng luôn nghĩ tục như mình rồi. Mà thôi, cứ cho rằng các cụ sợ đúng đi vì hồi đó các cụ bà hàn lâm viện sĩ cũng đã từng đỏ mặt khi học chữ này. Nhưng nếu nó tên là “quờ” và mang âm “quờ” thì cần gì phải ghép thêm chữ “u” vào sau nó nữa cho phiền, cứ tha hồ viết tên của sản phẩm ăn được của cây cối là “qả” (vì quờ = q, quờ a qua hỏi qả = [kwả]). Và viết thoải mái các câu sau, “qả qít có mùi thơm dịu hơn qả qất”, “gà vịt nhà em nó cứ qang qác qàng qạc qanh qẩn trong sân”, “hôm qa cụ qính qáng để qên cái qần ở Bà Qẹo”, có phải tiện hơn không? Các cụ không tài nào nhận ra “q” phải được gọi là “chữ cu” và khi ghép nó với “u” thành cặp “qu” thì được qui ước là một phụ âm ghép có âm [quờ] hay [kw].

Nhân tiện xin mở một dấu ngoặc để nói thêm về chuyện cái sai trên đây đã kéo theo một cái sai khác của các cụ: sai khi cho rằng viết “qui” là sai.

Các cụ nhận xét rằng “ui” là một vần, vần [ui], vậy ráp nó với “q” thành chữ “qui” thì sẽ đọc là “cui” trong “dùi cui”.

Các cụ quên rằng ở đây ta ráp “i” vào với “qu” chứ không phải “ui” vào với “q”. Chính vì “qu” mang âm “quờ” [kw] nên âm |i| đi sau nó muốn viết bằng “i” hay “y” cũng đều đúng do cả hai đều có âm nguyên |i|. bằng chữ “i” thì viết “qui” lại càng đúng hơn với các cụ chứ. Vì cái chuyện viết tất tần tật “i” chính là í của các cụ chứ có phải của ai khác đâu, mĩ thuật, kĩ sư chẳng hạn.

Thế rồi các cụ qui định nọ kia, bắt người ta viết “quỷ” chứ không cho viết “quỉ”, “quỳ” chứ không được “quì” v.v... Các cụ sai lầm và trở nên võ đoán quá. Thực ra kiểu các cụ cho là sai mới là kiểu đúng của nguyên tắc ngữ âm. Còn khi một số nhà văn nhà báo theo thói quen riêng đã ghép vần “úy” vào với một chữ Q thành “quý”, vần “ùy” ghép thành “quỳ” họ đã quên là không có một chữ “q” độc lập trong tiếng Việt. Nếu muốn ráp vần “uý” với phụ âm dạng “c, k, q” thì chỉ cần viết “cúy” chứ không cần đến “q”. Và nếu nhất định dùng “q” thì có ngay “quúy” hay “quùy”. Họ là “nhà” chứ không phải “sĩ” nên có sai cũng không sao, còn các cụ được giao nhiệm vụ tìm cái đúng lại hồ đồ chọn ngay cái sai thì “qả là qá qắt”!

Nói đến đây nghĩ lại thấy cần phải trân trọng xin lỗi các cụ viện sĩ viện hàn lâm Việt Nam (nếu có) rằng đã nói oan cho các cụ, thực ra các cụ đã có bao giờ đặt tên cho các chữ cái trong bộ chữ Việt đâu mà bảo các cụ đúng hay sai. Ủa! Mà nếu chưa đặt tên cho chúng thì các cụ đã và đang làm gì khi mà điều đầu tiên và căn bản ấy còn chưa làm, lại cứ phó mặc cho đám giáo viên tiểu học và mẫu giáo – mà đa số mới chỉ học qua lớp Năm, một số có qua Lớp Chín/Đệ Tứ, cộng với sáu tháng học phương pháp giảng dạy – tự tung tự tác từ bấy đến giờ, đến nỗi một số thanh niên thiện nguyện dạy Việt ngữ ở hải ngoại ngày nay cũng ra rả “đây là chữ bờ, đây là chữ cờ” vân vân. (Nhưng sau khi được tập huấn thì các em này đã nhận ngay ra sai lầm.)

Qua đây ta thấy một nguyên tắc phiên âm [k] của Việt ngữ:


  • Dùng “c” khi đi trước a, o, u (nguyên âm nhóm 1): con cá cứ cố công cắn càng con cua.

  • Dùng “k” khi đi trước e, i (nguyên âm nhóm 2): kín kẽ kể kỹ càng.

  • Dùng “qu” để diễn âm [kw] như “quả” [kwả], khác với “của” [kuẩ/kuở], “qui” [kwi] khác “cui” [kui]...

Riêng trong hai chữ “quốc” và “cuốc” thì tiền nhân đã có sự phân định như sau:


  • Nếu là gốc Hán thì viết “quốc”: quốc gia, tổ quốc, quốc thể, quốc tế... [kwốk] hay [kwớk], cũng có khi viết “quấc” (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị).

  • Nếu không phải gốc Hán thì viết “cuốc”: cây cuốc, chim cuốc, cuốc đất, cuốc xe, cuốc bộ... [kuốk].

Quả nhiên tiền nhân không sai khi phiên âm dùng “qu” hay “cu”. Đến đây xin được đóng ngoặc.

Còn về tên của các chữ cái thì quả thật kẻ hèn này cũng chưa từng nghe hay đọc thấy ai công bố chính thức gì cả, tìm trên Internet cũng không thấy có văn bản nào. Bèn liệt kê ra đây bộ tên chữ đã học hồi còn bé. Một số mẫu tự hồi đó ít dùng nhưng nay đã trở thành phổ biến trong sách vở tiếng Việt cũng nhân đây xin được đề nghị tên cho chúng. Các nguyên âm không kê ở đây vì chúng theo luật âm nào tên nấy, riêng i và y thì phân biệt là “i” và “i dài”.


Tên các phụ âm chữ Việt

 

B
C
D
Đ
đê
F
é-phờ
G
giê
H
hát
J
gi
K
ca
L
e-lờ1
M
e-mờ
N
e-nờ
P
Q
cu
R
e-rờ
S
e-sờ2
T
V
W
vê kép
X
ích-xì
Z
giét

1 Khi đọc nhanh "e-lờ" đã cho đúng hiệu quả.
2 Khi đọc nhanh "e-sờ" đã cho đúng hiệu quả.

 

Có một số điều cần bàn thêm cho rõ sau đây:

  • Mặc dầu PH là một phụ âm phổ biến nhưng lại không có một chữ Việt nào bắt đầu bằng phụ âm P đơn. Có dùng đến P thì nó phải có tên, gọi tên nó là “pê” và người Việt vẫn phát âm được bằng cách bật môi cứng và mạnh hơn B. (Có những sắc dân Việt dùng  âm này, họ nói “Sa-pa”, “Phan-xi-păng”.) Trong một số sách giáo khoa có viết “Pí po, pí po, em tập lái ô-tô...” Vì âm [p] xa lạ với người Việt nói chung nên chúng ta cần sửa lại là “bí bo...”

  • Người Việt cũng không dùng chữ “F” mặc dù người miền Bắc vẫn phát âm này trong các chữ “phải, phỏng, phùn...” ([fải, fỏN, fùn...]).

Có lẽ vì thực tế này mà có người đã viết “fương fáp, fì fèo”. Thiển nghĩ đây chỉ là những trò nghịch ngợm của con trẻ khi đi học, muốn viết cho nhanh, vì rõ ràng chữ “F” ít nét, viết đỡ mất thời gian hơn hai chữ “PH”. Còn những người khai sinh ra chữ cái cho dân ta thuở đầu đã nghe dân Nam Bộ phát âm các từ “phà, phu, phố...” bằng môi ([p]) có gió trượt ([h]) nên đã phiên âm bằng “ph”.[3] (Điều này rất hợp với hệ thống La-tinh: photo, physics, phone...) Trân trọng cuộc khai sinh này nên đến nay dân ta dù Nam hay Bắc vẫn thống nhất viết “ph” chứ không viết “f” (ngoại trừ khi viết một số từ vay mượn như “cà-fê” hay “fax”). Đây là một đặc tính đáng quí của con người, luôn biết tôn trọng những gì tạo ra mình, luôn biết trân trọng những vật phẩm người khác trao tặng cho mình, như chính ông bà ta đã dạy “uống nước nhớ nguồn”. Còn nếu như có ai đó muốn sửa lại một tí rồi bảo rằng chữ Việt đã do mình tu chỉnh tốt hơn hay thậm chí tuyên bố chữ Việt là sản phẩm của mình thì cứ việc, mặc mọi người “fỉ” báng hay “fê fán”.

Thế nhưng vì có viết “cà-fê”, phải dùng đến chữ “f” thì nó phải có tên.


  • Không thấy người Việt dùng chữ “J” trừ khi phải đánh số thứ tự bằng chữ cái. Tuy nhiên nó vẫn phải có tên kẻo người ta không hỏi tìm nhà được.

  • Cũng không chữ Việt nào có chữ “Z” ở đầu ngoại trừ một trường hợp duy nhất “Ziên Hồng” do ông Lê Bá Kông chế ra. Tuy nhiên ta vẫn thường gặp chữ “Dzũng”, và tên một thi sĩ là “Hồ Dzếnh”. Sau này còn gặp “dzỏm”. Và từ ngày người Việt bị buộc phải “ly tổ cầu an” những chữ “Dz” xuất hiện ngày càng nhiều để tránh người nước ngoài đọc sai tên của ai đó.

  • Một nhận xét nhỏ về cách gọi tên của các chữ K, H, Q, trong ba thứ tiếng Anh, Pháp và Việt: Nếu áp dụng cách đặt tên chữ Việt trên đây thì ta có bảng so sánh tuyệt vời sau (để ý phần nguyên âm của A, K và H y hệt như nhau, U và Q cũng vậy):

 

A
K
H
U
Q
Anh
[el]
[kel]
[eltS]
[jU]
[kjU]
Pháp
[a]
[ka]
[aS]
[ỹ]
[kỹ]
Việt
[a]
[ka]
[hat]
|u|
[ku]

Chữ A, K, Q, trong ba thứ tiếng Anh, Pháp, Việt

 

Câu chuyện gờ, gà, gờ, gùa... lẽ ra đã không xảy ra. Nhưng vừa rồi kẻ hèn này nghe loáng thoáng trong câu chuyện điện thoại của tiện nội có câu: “dê trên hay dê dưới ạ?”

Vâng, cái gì cũng có nhược điểm của nó. Tuy nhiên trong thực tế ở đời có những điều không cần phải cải sửa gì nữa, nếu có muốn sửa cũng chẳng được hoặc cũng chẳng hay ho gì hơn. Và cái bảng tên chữ cái tiếng Việt là một.

Hồng Đức
Ngày 13 tháng 11 năm 2007
California, USA
------------------------

Ghi chú
[1] Đọc “en-lờ” là sai. khi đọc nhanh “e-lờ” đã cho đúng hiệu quả.
[2] Đọc “ét-sờ” là sai; khi đọc nhanh “e-sờ” đã cho đúng hiệu quả.
[3] Người Nam không dùng âm răng môi ([f], [v]) như người Bắc.





 

**************************************************

 

- Thưa cô giáo: Sờ bướm hay sờ chim? s hay x?

- Thưa cô dê trên hay dê dưới ạ?

- gờ, gà, hay gờ, gùa, thưa cô giáo?

- Thưa cô giáo...

- Thưa cô giáo...

và nhiều câu hỏi thưa cô giáo... về Tên Mẫu Tự dưới thời việt cộng cai trị "cải cách tiếng Việt" thời 1979 - 1983 là vậy!

 

Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt - Trước 1975

1


2


3



---------------------------------

 






So sánh cách gọi tên của
Anh, Pháp, Việt


So sánh cách gọi tên của các chữ phần nguyên âm trong ba thứ tiếng Anh, Pháp, và Việt A, K, H, U và Q

 

A
K
H
U
Q
Anh
[el]
[kel]
[eltS]
[jU]
[kjU]
Pháp
[a]
[ka]
[aS]
[ỹ]
[kỹ]
Việt
[a]
[ka]
[hat]
|u|
[ku]

Chữ A, K, Q, trong ba thứ tiếng Anh, Pháp, Việt

 


 

**




Tên các phụ âm chữ Việt

B
C
D
Đ
đê
F
é-phờ
G
giê
H
hát
J
gi
K
ca
L
e-lờ1
M
e-mờ
N
e-nờ
P
Q
cu
R
e-rờ
S
e-sờ2
T
V
W
vê kép
X
ích-xì
Z
giét

1 Khi đọc nhanh "e-lờ" đã cho đúng hiệu quả.
2 Khi đọc nhanh "e-sờ" đã cho đúng hiệu quả.

 

 

■ Ráp vần và đánh vần sau khi bị Việt cộng đem ra "cải cách tiếng Việt"





Cách bỏ dấu, hay đánh dấu thanh của dấu giọng trong tiếng Việt

Cách bỏ dấu truyền thống, thì dấu giọng được bỏ trên mẫu tự nguyên âm áp chót nếu vần kết thúc bằng hai mẫu tự nguyên âm trở lên, kể cả “y” với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy.”
Cách đánh dấu theo truyền thống viết:
“hóa, xòe, súy”
.......................................
Sau 1975, Tiếng Việt bị Việt cộng đem ra làm "cải cách tiếng Việt" sửa đổi như sau:
Quy tắc 4. (quy tắc độc đoán) -- Với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh đặt vào chữ nguyên âm chót.
Ví dụ: Cải cách tiếng Việt của Việt cộng sau 1975 viết:
ho, hoè, hu, loà xoà, loé, suý, thu

Sau một thời gian,
Cuộc cải cách tiếng Việt của mấy trự Việt cộng là một “thành công, thành công, đại thành... gà bới”

Nay người ta có khuynh hướng trở lại bỏ dấu theo cách truyền thống là:
........................................
ha, hòa, hóa, ha,
hòe, hy, ty, ly,
thùy, thúy, thy, thy,
lòa xòa, lòe, xòe,
lóe, súy, y, úy.
........................................

 

================================

 

■ Ráp vần để tập đọc




Ráp vần để tập đọc

Trước kia, khi ráp vần để tập đọc* (xem phần Tên các phụ âm chữ Việt), chúng ta luôn dạy học trò bỏ dấu sau cùng, như:
Ráp vần và đánh dấu chữ "Lường":
“e lờ ư lư ơ lưa en giê Lương huyền Lường”

Chú ý:
Chữ "L" đọc là "en-lờ" hay "e-lờ" và
chữ "g" đọc là "giê"
và "n" đọc là "en nờ" ráp với chữ "g", đọc là "en giê".
Chữ "ng" được đọc là "en giê"

--------
Ráp vần và đánh dấu chữ "khoái":
“ca hắt o kho a khoa i khoai sắc khoái”

--------
Ráp vần và đánh dấu chữ "thoái":
“tê hắt o tho a thoa i thoai sắc thoái”



 

PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT






PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT

Muốn nói PHỤC HƯNG cho Việt Nam, thì trước hết phải PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT, văn chương, âm nhạc của người Việt Nam.

VNCH là thời đại hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam, thì chúng ta phải PHỤC HƯNG Việt Nam trở lại thời kỳ đó, rồi mới nói đến tiếp bước phát triển.

Trước tiên là PHỤC HƯNG QUỐC NGỮ.


 



Tiếng Việt theo VNCH



Cải Cách Tiếng Việt sau 1975





PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT


PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT
Muốn nói PHỤC HƯNG cho Việt Nam, thì trước hết phải PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT, văn chương, âm nhạc của người Việt Nam.

VNCH là thời đại hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam, thì chúng ta phải PHỤC HƯNG Việt Nam trở lại thời kỳ đó, rồi mới nói đến tiếp bước phát triển.

Trước tiên là PHỤC HƯNG QUỐC NGỮ.




 

******

 

 

Bấm vào Links để có bản gốc bài này của tác giả, và giữ lại tùy nghi xử dụng:

Link: http://www.fileden.com/files/2007/12/16/1647029/My%20Documents/SuyNghiChinhta_DocVXL.doc



Link: http://www.fileden.com/files/2007/12/16/1647029/TiengVietVoLong%284posting%29.doc



 

Đọc thêm:



Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs12082015vi.html

 

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/viet-cong-va-chu-viet-sau-1975-viec-sua.html

 

Chữ Nghĩa Việt Cộng
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chu-nghia-viet-cong.html

 

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/tieng-viet-va-tieng-vem-tieng-viet-va.html

 

Đánh Dấu Tiếng Việt trước và sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/anh-dau-tieng-viet.html

 

◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙

 

►► Cách Bỏ Dấu Tiếng Việt -- Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2019/04/cach-bo-dau-tieng-viet-tren-trang-web.html


►► Âm và Chữ --- Trong Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/am-va-chu-trong-tieng-viet-truoc-va-sau.html




►► Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/04/tieng-viet-ten-mau-tu-xin-ke-hau-qui-vi.html
>

►► Đánh Vần Tiếng Việt - Trước và sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2019/06/tieng-viet-vo-long-anh-van-aug-8-09.html


►► I và Y / i Ngắn và y Dài - Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/tieng-viet-i-va-y-hong-uc-ngay-sau-ngay.html


~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

Labels:


  Bảo tồn tiếng Việt - không dùng chữ Việt Cộng




Saturday, May 15, 2021

CUỘC CHIẾN HÁN-VIỆT Đầu Tiên tại TRẬN TRÁC LỘC, 2704 tr. CN

CUỘC CHIẾN HÁN-VIỆT Đầu Tiên tại TRẬN TRÁC LỘC, 2704 tr. CN

 

CUỘC CHIẾN HÁN-VIỆT Đầu Tiên TẠI TRÁC LỘC, 2704 tr. CN

Sơ đồ CUỘC CHIẾN TRANH HÁN-VIỆT TẠI TRẬN TRÁC LỘC, 2704 tr. CN
Trận Trác Lộc /Battle of Zhuolu (涿鹿之戰)






Hình 1: Trận Trác Lộc Trận chiến Hán - Việt năm 2704 - Vùng Trung Nguyên của Việt tộc lọt vào tay Hoa Hán du mục Hiên Viên, xưng đế rồi đặt tên bản địa mới là Hoa Hạ, đặt chủ thuyết 'dĩ Hoa vi trung' và thuyết "tứ di" Tây Nhung/hung, Bắc Địch, Đông di, Nam Man làm chư hầu... rồi tự ghép chung người Hán tộc du mục vào với Viêm Đế Thần Nông Việt tộc làm "Viêm Hoàng" triều đại và Tam Hoàng Ngũ Đế tự cho mình vào chức thiên tử thay vì "hậu" để chiếm địa vị thiên tử Viêm Đế thuyết



Thời tiền Việt (pre Yue - Viet) và trận đánh đầu tiên giữa bộ tộc du mục Hán tộc và bộ tộc Lúa nước Việt tộc.
Con cháu Đế Viêm (Việt tộc) Đế Lai và Đế Du Võng đối đầu/giao chiến với Hiên Viên Hoàng Đế (gốc Hán).


CUỘC CHIẾN TRANH HÁN-VIỆT TẠI TRÁC LỘC, 2704 tr.CN

Trong khoảng thời gian 20 năm, kể từ năm 2720 đến năm 2700 tr.CN, Chiến tranh Trác Lộc 2704 tr. CN: được tổng hợp từ các tài liệu.

1. Xã hội Việt tộc cổ

4 A – Vị trí nước Xích Thần (Bắc Miêu) nằm vắt ngang sông Hoàng Hà, trải dài xuống phía bắc châu thổ sông Dương Tử, với hàng vạn bộ tộc nông nghiệp chuyên canh lúa nước, chăn nuôi gia súc như trâu, bò, lợn, chó, gà, vịt… trồng cây ăn trái, đánh bắt tôm, cá, mò nghêu, lượm sò…

Xã hội nước Xích Thần theo truyền thống mẫu hệ, thanh bình, trù phú và hầu như chưa hề biết chiến tranh. Vị vua đương thời là Đế Lai, con Đế Nghi, cháu nội Đế Minh, thuộc dòng dõi Thần Nông Đế Viêm. Kinh đô nước Xích Thần đặt tại Sơn Đông, tức là vùng đất thuộc nước Lỗ sau này.
Vào thời Chiến quốc, đất này sẽ là nơi sinh của đức Khổng Tử. Quý độc giả đọc sách Đông Châu Liệt quốc, chắc không quên, nước Lỗ là một nước có truyền thống luân lý và đạo đức nổi tiếng thời cổ.

Danh xưng vua của nước Xích Thần có ý nghĩa như đại tù trưởng, đại tiên chỉ. Sử gia Trung Hoa Tư Mã Thiên thì gọi vua nước Xích Thần là thiên Tử. Người Việt đời thượng cổ làm chủ vùng trung nguyên.

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên (ngoại kỷ quyển 1 tờ 9b) đã có thể bình luận tình trạng Lạc Việt đời thượng cổ như sau:

“Nước Nam về thời Lạc Hồng vua dân cùng cầy, cha con cùng tắm, người và giống vật cùng ở nhà sàn. Ruộng Lạc điền theo nước triều lên xuống. Dân đời ấy cùng nhau vui vẻ chơi đùa ở trong cõi đất không rét không nóng. Người già rồi thì chết, người trẻ đến lúc già không biết gì đến việc đánh nhau. Có thể gọi là đời chí đức, gọi là nước cực lạc. Vua thì yên vui như tượng Phật. Dân thì vẽ mình làm ăn, không phiền nhiễu gì đến sưu thuế, không việc gì canh phòng. Vua dân thân nhau, dẫu vài nghìn năm cũng không thay đổi…”

Xã hội Việt tộc cổ là như vậy, nếu so với uy quyền của các vua du mục Hán tộc sau này thì khác hẳn, quyền hành của các vị vua phong kiến hay chuyên chế của truyền thống du mục vốn rất bạo ngược, thuế má, sưu dịch nặng nề, chiến tranh chiếm đoạt liên miên lúc nào cũng sẵn sàng xảy ra…

4 B – Khoảng năm 2.720 tr.CN, có nhiều Hậu du mục Hán tộc (mỗi Hậu như một bộ lạc có từ một tới vài vạn người) với những đàn gia súc đông đảo từ vùng Tân Cương, Thanh Hải (đang bị sa mạc hóa) du cư về phía Đông Nam.
Các sử gia Tây phương gọi dân du mục trên thế giới là Savage, Barbarian tức là Rợ, có nghĩa là thành phần dã man, mọi rợ, chưa khai hóa.

Rợ Hán chiếm đất của nước Xích Thần vùng trung nguyên
Rợ Hán tộc tấn công chiếm đoạt đất đai của nước Xích Thần, bắt dân Miêu Bắc làm nô lệ, cướp đoạt tài sản. Những toán kỵ binh và bộ binh hùng mạnh của họ xông vào các khu cư ngụ Miêu tộc như vào chỗ không người. Nhiều tù trưởng Miêu tộc quật cường tổ chức chống cự nhưng đều bị đánh bại. Trước những đoàn quân thiện chiến, những đội kỵ binh hung hãn của rợ Hán tộc, các bộ tộc Bắc Miêu thuộc nước Xích Thần thua liên tiếp nhiều trận phải rút về phía Nam sông Hoàng Hà. Nhiều đoàn rợ Hán tộc nhân đà thắng lợi, họ vượt sông Hoàng Hà đánh tràn xuống phía Nam. Thế nước Xích Thần mỗi ngày một trở nên nguy ngập.

4 C – Để cứu nguy nước Xích Thần, vua Đế Lai đem công chúa Âu Cơ (một vị nữ tướng) về Nam, đến nước Xích Quỷ (Nam Miêu, Bách Việt) cầu viện binh đồng thời gả công chúa Âu Cơ cho vua Lạc Long Quân, con vua Kinh Dương Vương, cháu nội vua Đế Minh.

Tổ chức xã hội Xích Quỷ giống xã hội Xích Thần, tuy nhiên, đất nước Xích Quỷ thịnh vượng, dân cư đông đúc, giàu mạnh hơn. Lạc Long Quân họp dân quân 100 bộ tộc gọi là Liên Minh Xích Quỷ*, chia làm hai cánh, một cánh đặt dưới quyền chỉ huy của Long Quân, một cánh đặt dưới quyền chỉ huy của Công chúa Âu Cơ.

* Chúng ta đã biết hai nước nông nghiệp Bắc Miêu và Nam Miêu thanh bình lâu đời, không có quân đội thường trực. Khi hữu sự, các vua Miêu tộc thường góp dân quân từ các bộ tộc. Cuộc góp quân 100 bộ tộc nước Xích Quỷ năm 2704 Tr.CN là một cuộc tập họp đại quy mô khiến du mục Hán tộc rất lo sợ (con số 100 có ý nói rất nhiều bộ tộc có dạng như nói: trăm họ, muôn dân…).

Quân Liên Minh Xích Quỷ theo vua Đế Lai tiến lên phía bắc họp với tàn quân Xích Thần, lập thành một đạo binh rất lớn. Vua Đế Lai truyền ngôi cho Đế Du Võng, rồi dẫn đại binh tiến lên sông Hoàng Hà (sử Tàu ngạo mạn gọi cựu vương Đế Lai là Cổ Thiên tử Xi Vu). Thấy quân binh Miêu tộc được tiếp viện từ phương Nam tiến lên “đông vô số”, những Hậu du mục Hán tộc ở phía nam sông Hoàng Hà vội vã rút lui. Họ lập phòng tuyến tại Trác Lộc, cách bờ bắc Hoàng Hà vài trăm dặm và cầu cứu các rợ du mục Hán tộc khác.

4 D – Hội nghị các thủ lĩnh du mục họp ở Tân Trịnh, họ công kênh thủ lĩnh Hiên Viên họ Hữu Hùng Thị, một Hậu (bộ lạc) hùng mạnh nhất, lên làm cộng chủ các Hậu Hán tộc. Cộng chủ liền lãnh đạo quân các Hậu kéo về Trác Lộc tổ chức ngăn chặn Liên Minh Xích Quỷ.

4 E – Quân Liên minh Xích Quỷ sơn mặt đỏ, rất đông, có tài xử dụng búa. Nhân khi sương mù dày đặc, họ ào ạt tấn công vào phòng tuyến du mục Hán tộc rất dữ. Quân du mục bị đánh bất ngờ, hốt hoảng, hàng ngũ rối loạn, thoát chạy.

Trong nhất thời, quân du mục thua Liên minh Xích Quỷ. Tuy nhiên, nguyên lực quân sự của họ vẫn hùng mạnh. Chẳng bao lâu sau, cộng chủ Hiên Viên chế được “sa bàn” định được phương hướng, liền hội quân các Hậu (* Hậu là người tù trưởng của bộ lạc Hán tộc), tổ chức phản công.
Quân du mục vốn là những đạo quân chuyên nghiệp, được trang bị xa mã và kỵ binh. Họ có tài sử dụng cung và trường thương. Bộ binh thì to lớn, mặc áo da và đánh cận chiến bằng giáo dài và mã tấu.

than_nong_viem_de.jpg

Quân Liên Minh Xích Quỷ, chống nhau với quân du mục Hán tộc, liên minh Xích Quỷ thua lớn tại trận Trác Lộc. Vua Đế Lai liền lui quân về phía Đông, lập trại tại Phản Tuyền. Tại đây, hai bên lại đánh một trận lớn nữa, quân Xích Quỷ lại bị thiệt hại nặng. Vua Đế Lai tử trận. Liên minh Xích Quỷ hoàn toàn tan vỡ.

4 F – Lạc Long Quân dẫn tàn quân theo bờ bắc sông Hoàng Hà, chạy ra hướng đông. Có lẽ nhà vua định lên cao nguyên Sơn Đông, kinh đô nước Xích Thần, nơi chưa bị xâm chiếm để cố thủ. Thế nhưng, vì quân Hán tộc truy kích rất dữ, phải chạy ra biển Đông và mất tích*.

Bản đồ của Trận Trác Lộc và Bản Tuyền theo cái nhìn của sử Tây Phương

Zhoulu Battle/Trận Trác Lộc
than_nong_viem_de.jpg
Trận Trác Lộc = Zhoulu battle
Trận Phản Tuyền = Ban Quan battle
Bản đồ trận Phản Tuyền
Liên minh Xích Quỷ thua lớn tại trận Trác Lộc. Vua Đế Lai lui quân về phía Đông, lập trại tại Phản Tuyền. Tại đây, hai bên lại đánh một trận lớn nữa, quân Xích Quỷ lại bị thiệt hại nặng. Vua Đế Lai tử trận. Liên minh Xích Quỷ hoàn toàn tan vỡ.

Shennong Tribe = Thần Nông, Yan Di = Đế Viêm
(di = Đế ) (Yan = Viêm)
Huang Di = Hoàng Đế,
Youxiong Tribe= thị tộc Hữu Hùng (tribe thị tộc,
Youxiong = Hữu Hùng

Kể từ đấy, nước Xích Thần mất hẳn** vào tay du mục Hán tộc.
Vùng Trung Nguyên của người Việt cổ, tộc Việt làm chủ, bị mất vào tay Hán Tộc.
Trận Trác Lộc Thất thủ, Hiên Viên Hoàng Đế thâu tóm đất mới tạo nên đất Hoa Hạ và bộ tộc cũ phải đổi tên là người Hoa Hạ, hay người Hoa. Vùng Trung Nguyên của Shennong Tribe = thị tộc Thần Nông và Jiuli Tribe = thị tộc Cửu Lê, cùng Youxiong Tribe = thị tộc Hữu Hùng của Hiên Viên Hoàng Đế nay gộp lại thành làm thành đất Hoa Hạ của Hiên Viên Hoàng Đế Hán tộc.




Xích Thần
Triều đại của Đế Viêm (Thần Nông)
Chiyou = Xi Vưu, Jiuli Tribe = thị tộc Cửu Lê
Lai Yi = đất của dân Yi/Cửu Lê

Xích Thần của Đế Viêm (Thần Nông) tộc Việt cổ
Thần Nông


Trận Trác Lộc



Bản đồ của Trận Trác Lộc và Trận Bản Tuyền theo cái nhìn của Người H' Mong / Miao và người Triều Tiên/Đại Hàn

Hmong_diaspora




Nước Xích Thần của Đế Nghi




Sau trận Trác Lộc, Hiên Viên của Hán tộc đại thắng liền thâu gôm ba bộ tộc:

☛ Thị tộc Cửu Lê của Xi Vưu,
☛ Thị tộc Đế Viêm Thần Nông (Nước Xích Thần cùa Đế Nghi) Việt tộc cai quản đất của Đế Nghi Việt tộc,
☛ Thị tộc Hữu Hùng của Hiên Viên Hán du mục và

Hiên Viên Hoàng Đế được coi là thủy tổ của người Hán.

Ông rút về phía tây đánh nhau với thủ lĩnh Xi Vưu tại trận Trác Lộc (涿鹿). Thắng trận, Hiên Viên Hoàng Đế thâu gom lại và lập lên đất lập thành đất Hoa Hạ, và cho dân tự nhận họ là người Hoa [ý là loại người đẹp đẽ, sang trọng] không dùng chữ "Hãn" hay "Hán" hay "Hậu" hoặc Hung Nô mà là Hoa - để người dân cảm thấy mình không bị Hán cai trị. Hiên Viên Hoàng Đế 軒轅黃帝 là ông vua ngoại tộc, từ gốc Hung, Hung Nô, Hán hay Hoa cũng là cùng một gốc.

Người Hoa Hạ/người Hoa là loại tộc lai, tộc Hoa Hạ mang hai dòng máu của chủng tộc người Việt cổ và chủng tộc tạp chủng giữa Mông, Thổ, Hung, tạp chủng du mục hiếu chiến, luôn tạo chiến tranh.

Đừng nhầm lẫn người Hoa Hạ và người Nam Hoa. Người Nam Hoa là người gốc giống Bách Việt. Vì sau hai ngàn năm bị nhà Tần và Hán cai trị, họ bị nhồi sọ rằng họ là gốc người Hoa Hạ, người Hoa, thay vì là người Mân Việt, Dương Việt, của chủng Bách Việt văn minh lúa nước.

Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương
Thời Hồng Bàng - Văn Lang - thời đồ đồng


https://youtu.be/6cUAw9K3Ymg

 

Photo
Xích Quỷ Triều Đại Hồng Bàng của Bách Việt
than_nong_viem_de.jpg

Bản đồ của Trận Trác Lộc theo cái nhìn chiến sử của Việt tộc và Bách Việt
than_nong_viem_de.jpg

Triều Đại Hồng Bàng Hùng Vương của Lạc Việt và Bách Việt




*Chạy ra biển Đông và mất tích:
Theo cố học giả Bình Nguyên Lộc trong sách “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” (danh xưng Mã Lai xuất phát từ địa danh Hi-Malaya tức cao nguyên Hi Mã lạp sơn chứ không phải nước Mã Lai Á ngày nay). Với những dẫn chứng rất đáng tin cậy thì đoàn quân của Lạc Long Quân đã tản mát ra khắp nơi ở Biển Đông:
■ Đông-Bắc lục địa, kết hợp với dân địa phương lập ra nước Triều Tiên (Đại Hàn).
■ Phía Đông với giống Ai Nô lập nước Nhật, Đài Loan.
■ Đông Nam họ lên quần đảo Célèbre ở Indonésia, đảo Hải Nam.
■ Phía Nam họ đổ bộ lên đồng bằng sông Cả và sông Mã với đồng chủng tộc của họ.

Ông gọi sự kiện có hai cuộc di dân:

☛ Đạo binh Lạc Long Quân chạy ra biển đông là cuộc di dân đợt một của dân tộc Việt Nam.
☛ Còn cuộc di dân đợt hai xảy ra vào cuối Chu và Tần và Hán.


** Các Bộ tộc, Bộ lạc nước Xích Thần (bắc Miêu, Thần Nông bắc) sau khi bị Hán tộc xâm lược đã chuyển đổi thành “hàng vạn” nước chư hầu và nước phụ dung của vua chúa du mục Hán tộc. Họ dần dần trở thành người Hán gốc Miêu.

Cánh quân của công chúa Âu Cơ vượt sông Hoàng Hà chạy về phía nam. Bị quân Hiên Viên đuổi riết, bà lại vượt sông Dương Tử, lui về vùng núi Ngũ Lĩnh, trên Cánh Đồng Tương*quê hương chồng. Theo sách Lĩnh Nam Trích Quái của Trần Thế Pháp, thì Âu Cơ (vị nữ tướng) và các con (các đơn vị dân quân trong Liên Minh Xích Quỷ) đã về đến Tương Dạ. Bà ở lại đấy có ý đợi tin tức Long Quân.

4G - Sách Lĩnh Nam Trích Quái kể:

Chờ lâu không gặp chồng, bà lập đàn ở Tương Dạ* kêu khóc tha thiết:

— “Quân ở phương nào, làm cho mẹ con ta ngày đêm thương nhớ”.

Các con cũng khóc:

— “Bố ở phương nào mau về với chúng con”.

Thốt nhiên Long Quân về trên đàn, ông bàn với Âu Cơ: Nên chia các con ra trấn giữ các nơi. Long Quân dặn Âu Cơ, phong con trưởng họ Hồng Bàng Thị làm vua, gọi là Hùng Vương, đóng đô Phong Châu.

https://luocsutocviet.wordpress.com/2019/05/20/262-nuoc-xich-than-nuoc-xich-quy-va-coi-nguon-toc-viet/







Shang bị gọi là Sở! Còn một phần Shang khác đã bị Chu lấy đất

Phân tích và suy xét, sẽ thấy rằng -- Shang 商 vẫn tồn tại, và Shang bị gọi là Sở! Còn một phần Shang khác đã bị Chu lấy đất đó là một phần của Shang, như vậy có nghĩa là nước Shang bị đổi tên và tách ra, chia ra và Chu sợ rằng Shang còn tồn tại sẽ đòi đất, và cũng vì sợ dân chúng của Shang đã mất sẽ phục quốc, cho nên Chu phải thêu dệt tội ác cho vua tên "Trụ 受" còn gọi là Đế Tân - 帝辛... trở thành một ông vua dâm ô ác độc, và kết quả là... cứ lâu lâu thêm một thời gian thì "Trụ" vương lại có thêm một hình thức dâm ô ác độc để dân gian kể cho nhau nghe chơi... và rồi lâu dần thì đủ để thành một truyện "Phong Thần" rất hấp dẫn trong dân gian... khiến người dân oán ghét và khinh bỉ.

Đó là cách diễn giải lịch sử độc quyền của Chu để gạt hẳn văn hóa có sẵn của Văn-Lang hay Shang 商 qua một bên.

Tóm tắc:
Nước Shang 商 bị tách rời ra, chia đôi và rồi sau đó, bị đổi tên khác (Sở 楚).

*****************************

Hãy suy gẫm chuyện "Sự Tích Trầu Cau", thời vua Hùng Vương thứ Sáu: Hai anh em sinh đôi, giống nhau như đúc, người vợ một hôm lầm lẫn giữa người anh và người em và đưa đến cuộc thương tiếc, chết chóc, khóc than, quyện lẫn nhau giữa tình máu mủ huyết thống, tình sắt son vợ chồng luôn quấn quýt vào nhau. Đây cũng là lối ẩn dụ hàm ý nghĩa bóng và đen trong câu truyện truyền ra đời Hùng Vương thứ Sáu trong dân gian, một cách chép sử truyền miệng thời chưa có chữ viết.

 



>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>000<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<<

 

Chu là Sở, Sở là Việt tộc

 







Photo

Chu là Sở, Sở là Việt tộc, việc đó là điều hiển nhiên. Người Hán họ tôn thờ chủ thuyết nhà Chu và lịch sử do nhà Chu biên soạn, rồi kể từ đó, đến khi Đại Hán thành lập thì người Hán họ đã gom về hết chủ thuyết của nhà Chu và chữ viết của tộc Việt, vì thế Văn hóa Việt bị trở thành Hán; lúc đó tất cả mỗi dân tộc quanh đó đều bị áp lực của người Hán đã phải gọi là chữ Hán và nhận mình Hán tộc.












Thần Nông

https://static.wixstatic.com/media/06234b_a79dcab3e9f44b6cbfb6aec28bdf8bd9~mv2.jpeg/v1/fill/w_530,h_418,al_c,q_80,usm_0.66_1.00_0.01/06234b_a79dcab3e9f44b6cbfb6aec28bdf8bd9~mv2.jpe

* Vua Đế Lai truyền ngôi cho Đế Du Võng, rồi dẫn đại binh tiến lên sông Hoàng Hà (sử Tàu ngạo mạn gọi cựu vương Đế Lai là Cổ Thiên tử Xi Vưu).

** Vua Đế Lai lui quân về phía Đông, lập trại tại Phản Tuyền. Tại đây, hai bên lại đánh một trận lớn nữa, quân Xích Quỷ lại bị thiệt hại nặng. Vua Đế Lai tử trận.

*** Hậu là người tù trưởng của bộ lạc Hán tộc.

Trận Trác Lộc

https://scontent-sjc3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-9/90790680_10214758769346431_1883617130964844544_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_sid=730e14&_nc_ohc=Sh25Wl-MYoMAX9LeF1Z&_nc_ht=scontent-sjc3-1.xx&oh=45082248d9feac41bd402caaed4e5be3&oe=5F5760F9


Nước Xích Thần của Đế Nghi

https://static.wixstatic.com/media/06234b_fa994a8c0c58402499d7098b66025dc4~mv2.jpg/v1/fill/w_378,h_321,al_c,q_80,usm_0.66_1.00_0.01/06234b_fa994a8c0c58402499d7098b66025dc4~mv2.jpg


Nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương
Thời Hồng Bàng - Văn Lang

https://static.wixstatic.com/media/06234b_db4bad0f97ff42f59cf7328bb0b8a81b~mv2.jpg/v1/fill/w_372,h_342,al_c,q_80,usm_0.66_1.00_0.01/06234b_db4bad0f97ff42f59cf7328bb0b8a81b~mv2.jpg

 

Photo



“Viễn giao cận công" của Nhà Tần

Thời gian 230 - 221 trước công nguyên nhà Tần dùng sách lược "Viễn giao cận công" để diệt dần từng nước lân bang, lần lượt chiếm cả sáu nước.

“Viễn giao cận công" Ở xa thì giao thiệp, ở gần thì tấn công. Đây là kế thứ 23 trong ba mươi sáu kế.

Nguyên văn là:

形禁势格,
利从近取,
害以远隔。
上火下泽。

Tể tướng nước Tần là Phạm Thư đề ra kế viễn giao cận công, theo đó với các nước gần, Tần sẽ dùng vũ lực uy hiếp, chiếm thành chiếm đất, với các nước xa không đem quân đi được thì lại dùng ngoại giao dụ dỗ làm đồng minh. Cứ như vậy Tần nhanh chóng trở thành bá chủ của cả sáu nước chư hầu, tạo điều kiện cho Doanh Chính thâu tóm các nước sau đó.

Khi Tần vương Doanh Chính lên ngôi, nước Tần đã rất lớn mạnh, có ưu thế áp đảo so với sáu nước chư hầu còn lại. Đất Tần từ phía Tây đã mở mang về phía đông rất rộng, lấy từ các nước lân cận như Hàn, Triệu, Ngụy, Sở và nhà Chu (Nhà Chu bị diệt năm 249 Trước Công Nguyên).

Tần diệt Hàn
Trước tiên diệt Hàn, nước nhỏ yếu nhất ở cạnh Tần. Chỉ bằng cách dùng nội gián mà Tần buộc Hàn phải ra đầu hàng.
45 vạn quân nước Triệu đến giúp Hàn tuy đã ra đầu hàng nhưng vẫn bị giết hết. Vua Hàn Vương An bị xử tử theo hình phạt "Ngũ mã phanh thây". Sự tàn ác khủng khiếp của quân Tần khiến cho các nước lân bang kinh sợ.

Nước Triệu
Nước Triệu duy nhất đủ sức chống Tần, nhưng do sai lầm chiến thuật mà lụn bại dần.
Tần dùng kế ly gián khiến vua Triệu giết tướng giỏi Lý Mục, vì thế quân Triệu thua phải đầu hàng, và vua Triệu bị giam cho tới chết.

Nước Ngụy
Thấy Hàn, Triệu bị Tần diệt nhanh và tàn ác thế, nước Ngụy mất hết sức chiến đấu. Kinh đô Đại Lương của Ngụy ở vào chỗ trũng; tướng Tần Vương Bôn tháo nước sông cho ngập thành làm chết 10 vạn người nước Ngụy. Vua Ngụy đầu hàng rồi cũng bị giết.

Nước Sở
Vua Sở là Xương Bình Quân, thủa nhỏ cùng sống với Doanh Chính, thân nhau lắm. Sau khi bị bức tử, Lã Bất Vi chết, vua Tần chọn Xương làm Thừa Tướng. Nhưng khi Tần cử Lý Tín đem 20 vạn quân đánh Sở thì Xương Bình Quân vẫn trở về tổ quốc mình, Xương Bình Quân đánh cho Lý Tín đại bại. Về sau Tần Thủy Hoàng cử Vương Tiễn đem 60 vạn quân đánh Sở, thì lần này Sở thua, Xương Bình Quân chết.

Nước Yên
Yên là nước thứ năm bị nhà Tần đánh. Nước Yên nhỏ yếu nên biết chắc nếu bị đánh là thua. Vả lại vua Yên vốn có tư thù với Tần Thủy Hoàng: Thái tử Đan từng phái Kinh Kha đi Hàm Dương ám sát Tần Thủy Hoàng nhưng không thành. Vua Yên hèn nhát, dâng nhà Tần thủ cấp Thái tử Đan để Tần hoãn chiếm Yên bốn năm. Nhưng cuối cùng nhà Tần vẫn cứ chiếm nước Yên rồi giết vua Yên.

Nước Tề
Tề quốc là nước thứ sáu trong "Chiến quốc Thất hùng" bị Tần "chinh phục, thâu tóm". Sau khi diệt năm nước, nhà Tần rất mạnh, khiến quân Tề sợ hãi, rối loạn. Tần Thủy Hoàng phái người đến bảo vua Tề là -- nếu đầu hàng thì sẽ ban cho 500 dặm đất. Vua Tề cả tin nên nước mất nhà tan, bản thân bị bỏ vào rừng sâu rồi cho chết đói.

Giết vua của sáu nước, nhà Tần lại biệt đãi các cung phi của họ. Ai xinh đẹp đều được đưa về ở Cung A Phòng tráng lệ làm nô lệ tình dục cho hoàng đế.

Cả sáu nước lân bang của Tần hoàn toàn bị thôn tính.



Nhà Tần chỉ tồn tại đúng 15 năm sau khi Tần Thủy Hoàng thâu tóm lục địa Trung Hoa.

Năm 206 trước công nguyên, nhà Tần cũng bị diệt vong do Hán Cao Tổ Lưu Bang lãnh đạo.

Tây An là địa điểm chôn giấu đội quân đất nung của Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng chưa thỏa mãn: Năm 219 trước công nguyên, Nhà Tần lại sai Đồ Tuy và Triệu Đà đem 40 vạn quân vượt sông Trường Giang xuống phía nam đánh Bách Việt, chiếm vùng đất mênh mông. Khi đánh chiếm Lĩnh Nam, quân Tần gặp sự kháng cự mạnh mẽ của Lạc Việt. Đồ Tuy tử trận, Nhâm Hiêu lên thay.

Đến năm 214 trước công nguyên nhà Tần mới chiếm xong Lĩnh Nam. Người Lạc Việt chạy về vùng núi phía tây, sau này gọi là người Tráng, sắc tộc thiểu số đông người nhất Trung Quốc hiện nay.

Tự xưng Hoàng đế, độc tài khét tiếng tàn bạo. Năm 210 trước công nguyên Tần Thủy Hoàng chết sớm ở tuổi 49.

Sau Tần Thủy Hoàng, rồi lại đến phiên người Hán liên tục xâm chiếm các vùng xung quanh như: Lạc Việt (Quân Đông Hán đánh Hai Bà Trưng), Mông Cổ, Tây Tạng, Tân Cương.

==============================

 

Tần đánh chiếm Bách Việt
Năm 214 TCN Tần Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân đánh Bách Việt vào các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông.
Thua trận, An Dương Vương thần phục nhà Tần. Tần chia đất Bách Việt và Âu Lạc làm ba quận đó là:

1- Nam Hải (Quảng Đông),
2- Quế Lâm (Quảng Tây), và
3- Tượng Quận (Âu Lạc, Bắc Việt).



7. Nếu Văn Lang ở tít miền Bắc Việt thì làm sao Việt Vương Câu Tiễn lại sai sứ sang mời vua Hùng liên kết để cùng mưu bá đồ vương tranh hùng với Trung Nguyên được?

 

Ngữ vựng tiếng Việt



Chỉ cần nắm rõ căn bản ngữ vựng của tiếng VIỆT ngày nay là có thể học và hiểu ngay những tiếng VIỆT khác trong BÁCH VIỆT.

 



Trận Trác Lộc Thất thủ, Hiên Viên Hoàng Đế thâu tóm đất mới tạo nên đất Hoa Hạ và bộ tộc cũ phải đổi tên là người Hoa Hạ, hay người Hoa trung tâm bản địa đẹp, tốt, ai khác văn hóa, ngoài vùng cái trung tâm "hoa quốc" đều là rợ.

Vùng Trung Nguyên của Viêm Đế
→ Shennong Tribe = thị tộc Thần Nông
→ Jiuli Tribe = thị tộc Cửu Lê,
→ Youxiong Tribe = thị tộc Hữu Hùng của Hiên Viên Hoàng Đế
Gộp lại thành làm thành đất Hoa Hạ do Hiên Viên Hoàng Đế Hán tộc gốc du mục thâu tóm tạo nên.

Kể từ đấy, nước Xích Thần mất hẳn** vào tay du mục Hán tộc.
Vùng Trung Nguyên của người Việt cổ, tộc Việt làm chủ, bị mất vào tay Hán Tộc.
Người Hoa Hạ/người Hoa là loại tộc lai, tộc Hoa Hạ mang dòng máu của chủng tộc người Việt cổ và tạp chủng của các tộc Mông, Thổ, Hung. Tạp chủng du mục hiếu chiến, luôn tạo chiến tranh.

Tóm tắc:
«Vua Đế Minh cháu bốn đời vua Thần-Nông, nhân đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ-lĩnh, kết hôn với một nàng tiên hạ sinh một con trai tên Lộc-Tục. Vua lập đài, tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc-Tục làm vua phương Nam. Ngài dạy hai thái tử rằng:

« Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới. Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu hòa mà ở với nhau. Tuyệt đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trái lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn».

Xét triều đại Thần-Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây thì chia làm hai:

1. Triều đại Thần-Nông Bắc.

Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)
Vua Lai (2843-2794 trước Tây lịch)
Vua Ly (2795-2751 trưước Tây-lịch)
Vua Du-Võng (2752-2696 trước Tây-lịch).

Ðến đây triều đại Thần-Nông Bắc chấm dứt.

Đổi sang triều đại Hoàng-đế từ năm giáp Tý (2697 trước Tây-lịch).

Các nhà chép sử Trung-quốc lấy thời đại Hoàng-đế làm kỷ nguyên.

Trong bộ Sử-ký, Tư-mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ-đế bản kỷ, coi Hoàng-đế là Quốc-tổ Trung-quốc, mà không chép về thời đại Thần-Nông.

2. Triều đại Thần-Nông Nam.

Thái-tử Lộc-Tục lên làm vua năm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch) hiệu là Kinh-Dương, lúc mười tuổi. Sau người Việt lấy năm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho đến nay (1991) là 4870 năm, vì vậy người Việt tự hào rằng đã có năm nghìn năm văn hiến. (1)

즉 2879+1991은 4870 (...)

...........................................

Đọc thêm:

Nước Xích Quỷ
Chu, Sở là Việt tộc



Hoa Hạ là Việt hay Hán?
https://youtu.be/4iUKBLSFRc0

 

Ngày Quân Lực VNCH
https://youtu.be/ROQu1V6fJBI


******************************************

 

Tham Dự LỄ TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN THÁNG TƯ ĐEN - 2020
https://youtu.be/s-UM4HsSol4

Lần đầu tiên thế hệ con lai đại diện cho quê cha và đất mẹ, đứng ra làm LỄ TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN. Được thế hệ con Lai mang hai dòng máu Việt-Mỹ đảm nhiệm online lần đầu tiên, ưu ái dành cho đất mẹ Việt Nam và đại diện cho 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ và đồng minh đã hy sinh tại miền nam Việt Nam để bảo vệ tiền đồn tự do Đông Nam Á.

 

Chiêu Hồn Tử Sĩ
https://youtu.be/ZvcoNxTeIec


Phút Mặc Niệm
https://youtu.be/rwjDt14SVnc


 

 

Friday, May 14, 2021

TRẬN ĐÁNH THÁNG 3/75 QUÂN KHU I

TRẬN ĐÁNH THÁNG 3/75 QUÂN KHU I





(Mũ Xanh Phạm Vũ Bằng)

Sau mấy tháng làm Địa Phương Quân “trấn thủ lưu đồn” tại xã Triệu Phong, Đông-Bắc tỉnh Quảng Trị, TĐ9/TQLC di chuyển tới làng Gia Đẳng-Quảng Trị để dưỡng quân. Gia Đẳng là một làng đánh cá ven biển vì vậy khí hậu ấm áp khô ráo khiến chúng tôi thoải mái hơn là tại Triệu Phong, tuy nhiên một tuần lễ sau, khoảng đầu tháng 3/1975 tôi nhận lệnh thuyên chuyển về Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn TQLC và bàn giao chức Trung Đội Trưởng QY TĐ9/TQLC cho một bác sĩ mới ra trường.

Vì không thích về Bệnh Viện Dã Chiến Sư Đoàn TQLC và hơn nữa vì cảm nhận được tình hình chiến trận đã đến lúc căng thẳng, tôi tình nguyện về Đại Đội Quân Y Lữ Đoàn 258/TQLC và tôi được tạm thời bổ nhiệm làm y sĩ điều trị tại Lữ Đoàn này vào ngày 08/3/1975 mà không ngờ tôi sắp bước vào một cuộc gió tanh mưa máu đang ập đến toàn thể Quân Đoàn I.

Ngày 8/3/1975 tôi trình diện Đại Đội Quân Y Lữ Đoàn 258/TQLC, đại đội này đóng chung với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 258/TQLC tại làng Mỹ Thủy- Quảng Trị. Làng Mỹ Thủy tọa lạc tại phía Nam Gia Đẳng mấy cây số, cũng giống như tất cả các làng đánh cá ven biển tỉnh Quảng Trị, làng này có những hàng dương liễu yểu điệu trong gió, cát trắng, biển xanh hiền hòa, nước trong nhìn tận đáy, nếu không có chiến tranh thì nơi đây sẽ là một điểm du lịch nên thơ, chỉ huy Đại Đội Quân Y là Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Lê Minh, dưới quyền ông là BS Nhi và BS Duy. Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 258/TQLC là Đại Tá Nguyễn Năng Bảo, Lữ Đoàn Phó Trung Tá Huỳnh Văn Lượm, nguyên Tiểu Đoàn Trưởng TĐ9/TQLC của tôi.

Phòng thủ tỉnh Quảng Trị lúc đó thì:

– Phía Bắc có Lữ Đoàn 369/TQLC.
– Phía Tây có Lữ Đoàn 147/TQLC.
– Phía Đông là Lữ Đoàn 258/TQLC.

Ngày 8/3/1975 Trung Đoàn Bình Trị Thiên Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tấn công một vị trí của của Tiểu Đoàn 4 TQLC- Đồi 51 phía Tây Bắc Sông Bồ, đồng thời một lực lượng Việt Cộng (VC) khác uy hiếp ấp Hiền Lương khoảng 2 cây số Tây Bắc Mỹ Chánh, sáng hôm sau, ngày9/3/1975, Tiểu Đoàn 4 TQLC và Thiết Kỵ phản công, chỉ trong một buổi sáng, hai lực lượng CSBV bị đẩy lụi,chạy trốn về phía núi để lại hơn 100 xác chết cùng vũ khí, phe ta có 10 TQLC hy sinh. Chúng tôi đứng tại cổng Lữ Đoàn 258/TQLC xem Thiết Kỵ xuất quân buổi sáng, cứ tưởng sẽ có một trận đánh gây cấn không ngờ buổi trưa đã thấy họ đi về.

Ngày 13/3/1975, được tin Ban Mê Thuột thất thủ, tôi buồn bực đi lên BCH/LĐ thì gặp Trung Tá Lượm, ông mời tôi ăn trưa và tâm sự:

- “Cái” chiến lược đem hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị ra Quân Khu I để giữ đất không khá được, VC gom quân để đánh chỗ này, chỗ khác... mà Tổng Trừ Bị lại bị giam tại Quân Khu I, cho nên ta mất Phước Long và Ban Mê Thuột, đất QK I có mất một phần mà quân còn thì mình chiếm lại được, quân mất thì làm sao giữ đất!

Trầm ngâm Tr/Tá Lượm giải thích thêm:
- Hai Sư Đoàn Dù và TQLC có hậu cứ tại Saigon và Thủ Đức nơi gần phi trường và hải cảng, nếu Việt cộng tập trung quân đánh ở bất cứ nơi nào tại Miền Nam thì chỉ vài ngày đến một tuần là cả hai sư đoàn có thể tăng viện cho vùng đó.

- Từ sau năm 1972 cả hai Sư Đoàn Dù và TQLC bị giam tại Quân Khu I vì vậy khi Vìệt cộng đánh Phước Long tháng 12/74 và Ban Mê Thuộc 3/10/75 mình không có quân Tổng Trừ Bị tiếp viện cho nên mất hai nơi này.

Ông tiếp:

- Sử dụng Tổng Trừ Bị như Địa Phương Quân làm tinh thần chiến đấu binh sĩ sa sút, hơn nữa Tổng Trừ Bị đang ở thế chủ động trên chiến trường, nay trở thành thế bị động trên những cứ điểm mà địch biết rõ, và khi một đạo quân đã căng ra để giữ đất muốn rút đi tiếp viện một chỗ khác thì rất khó vì địch sẽ truy kích, cản đường... nhiều khi không rút được, mình đã bị trúng kế “điệu hổ ly sơn” rồi!

Trung Tá Lượm còn nói về nhiều vấn đề khác nhưng không liên quan đến bài viết này, riêng câu “mình bị trúng kế điệu hổ ly sơn rồi” làm tôi suy nghĩ suốt 40 năm qua, không biết ai là kẻ tung kế này? (Tự làm mồi cho địch sơi tái mình).

Trong những năm 1966, 1967, 1968 CSBV mỗi năm đều tung quân ra quấy phá Quân Khu I, chúng đã bị các đơn vị Tổng Trừ Bị Dù và TQLC từ hậu cứ tại Saigon và Thủ Đức tới Quân Khu I trong thế chủ động đánh đuổi chúng vào rừng núi, sau chiến thắng Tổng Trừ Bị rút về hậu cứ để nghỉ - bổ xung quân số và sẵn sàng cho những trận chiến khác.

Năm 1968 (Mậu Thân) chúng đánh lớn và thua lớn, thiệt hại nặng nề. Theo wikia.org thì -- trong năm 1968 có 181.149 tên VC (Việt cộng) và CSBV (Cộng Sản Bắc Việt) bị giết, khiến chúng phải dưỡng quân ba năm. Đến năm 1972 CSBV gom góp đám thanh niên mới lớn tại Miền Bắc rồi nướng trên 100.000 quân trong trận 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa tại Miền Nam.

Tóm lại, từ 1966 đến 1972 với chiến pháp Tổng Trừ Bị sẵn sàng tại hậu cứ chờ quân CSBV xuất đầu lộ diện bất cứ nơi nào tại Miền Nam VN thì ta mang quân Tổng Trừ Bị khỏe mạnh, trong thế chủ động đến tiêu diệt quân CSBV đang mệt mỏi, đã lộ diện và ở thế bị động, chiến pháp này đã thành công, VNCH đã chiến thắng CSBV tại khắp mặt trận. Vì vậy muốn chiếm Miền Nam thì phải bó tay hai Sư Đoàn Dù và TQLC, điều này người “bạn đồng minh” Mỹ biết rất rõ.

Năm 1971, tên Kissinger bí mật đến Tầu, dọn đường cho năm 1972, Kissinger và Nixon qua thăm Trung Cộng chính thức, không biết chúng ăn bả gì của Tầu mà sau đó ngoài mặt Mỹ vẫn là đồng minh của VNCH nhưng sau lưng họ đã bí mật liên kết với Tầu Cộng và tay sai là CSBV để triệt hạ Miền Nam VN, sự phản bội này đã dần dần được giải mã.Theo Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng trong chương “Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Saigon” của cuốn sách “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” thì từ năm 1971, sau khi qua Trung Cộng tên Kissinger đã xui Nixon bán đứng VNCH cho Trung Cộng và tay sai là CSBV, khi Nixon sợ mất mặt nước Mỹ, tên Kissinger đã hiến kế: “Cứ đổ cho VNCH là bất lực và yếu kém (incompetence)”, từ đó chúng đã thực hiện dần dần kế hoạch làm suy yếu VNCH!

Năm 1971, Sau khi qua Trung Cộng, tên Kissinger đã xui Nixon bán đứng VNCH cho Trung Cộng và tay sai là CSBV, khi Nixon sợ mất mặt nước Mỹ, tên Kissinger đã hiến kế:
“Cứ đổ cho VNCH là bất lực và yếu kém (incompetence), từ đó chúng đã thực hiện dần dần kế hoạch làm suy yếu VNCH!”. Rồi họ 'giam" hai Sư Đoàn Dù và TQLC tại Quân Khu I, Tổng Trừ Bị VNCH đang ở thế chủ động biến thành bị động.

Bước đầu tiên là “giam” hai Sư Đoàn Dù và TQLC tại Quân Khu I, Tổng Trừ Bị VNCH đang ở thế chủ động nay biến thành thế bị động giữ đất trong các cứ điểm đã lộ rõ. Thật vậy, sau chiến thắng của VNCH trong Mùa Hè Đỏ Lửa, CSBV bị kiệt quệ, chúng đã phải ký Hiệp Định Paris 1973, Quân Khu I yên tĩnh, cớ sao lại phải giữ hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị tại đây? Tổng Thống Thiệu, người có thẩm quyền điều động Tổng Trừ Bị và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân Khu I) người nhận và có thể cũng là người đã yêu cầu giữ Tổng Trừ Bị tại Quân Khu I, là hai người có liên quan, không biết trong bóng tối Người Mỹ có dính dáng gì đến quyết định này không?

Sử dụng Tổng Trừ Bị như Địa Phương thì Quân Tổng Trừ Bị đang ở thế chủ động trên chiến trường trở thành thế bị động, vì trên những cứ điểm mà địch biết rõ, và khi một đạo quân đã căng ra để giữ đất, thì khi muốn rút đi tiếp viện một chỗ khác, rất khó vì địch sẽ truy kích, cản đường, thế là bị trúng kế “diệu hổ ly sơn” rồi! Đó là kế hoạch làm suy yếu VNCH.
Sau khi mất Phước Long và Ban Mê Thuột, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu họp với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I ngày 13/3 và 19/3/1975 tại Saigon để tái phối trí lực lượng. Không ai biết rõ nội dung hai buổi họp này! Đã có nhiều bài viết về các buổi họp, nhưng không sát với thực tế, nên tôi đã lấy tin tức từ Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải là người gần với Tướng Trưởng nhất và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch và Cố Vấn của Tổng Thống Thiệu, cả hai đều viết giống nhau, và theo hai nhân chứng này thì Quân Khu I (QKI) đã được tái phối trí như sau:

1. QKI trả Sư Đoàn Nhẩy Dù lại cho Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH.

2. QKI giữ lại Sư Đoàn TQLC để cùng với ba Sư Đoàn Bộ Binh cơ hữu 1, 2, 3 và Biệt Động Quân - Thiết Kỵ co cụm tử thủ ba cứ điểm: Huế, Đà Nẵng, Chu Lai, nếu vì lý do gì không giữ được cả ba cứ điểm trên thì bằng mọi giá phải giữ Đà Nẵng.

Hồi ký của Đại Tướng Cao Văn Viên TTMT/QL/VNCH viết về phiên họp ngày 19/3/1975 giữa Tổng Thống Thiệu và Trung Tướng Trưởng như sau:

Tướng Trưởng trình bày kế hoạch với hai giải pháp:

Kế hoạch thứ nhất:

Nếu Quốc Lộ 1 (QL1) còn sử dụng được, quân ông sẽ rút từ Huế về Đà Nẵng và từ Chu Lai về Đà Nẵng.

Kế hoạch thứ hai:

Nếu QL1 bị cắt, các lực lượng sẽ rút vào ba cứ điểm là Chu Lai, Huế, và Đà Nẵng, nhưng Huế và Chu Lai chỉ là hai nơi tập trung quân để cuối cùng thì rút về Đà Nẵng bằng đường biển. Đà Nẵng sẽ là điểm phòng thủ chính do bốn Sư Đoàn Bộ Binh và bốn Liên Đoàn BĐQ đảm nhận.

Trong tinh thần trên, Sư Đoàn Nhẩy Dù rời Quân Khu I vào hạ tuần tháng 3/1975.

Ngày 16/3/1975 LĐ369/TQLC rời Quảng Trị đến Thượng Đức Quảng Nam để thay thế Nhẩy Dù.

Ngày 18/3/1975 LĐ258/TQLC (trong đó có tôi) rời Mỹ Thủy - Quảng Trị đến Nam Thừa Thiên để bảo vệ Quốc Lộ 1 Huế-Đà Nẵng.

PHÒNG THỦ CỨ ĐIỂM THỪA THIÊN- HUẾ:

Để viết phần này, tôi dựa vào tài liệu từ phỏng vấn và hồi ký của:

- Đại Tá TQLC Nguyễn Thành Trí - Tư Lệnh Lực Lượng Tây Bắc Huế.
- Wipekida Sư Đoàn 1 Bộ Binh VNCH.
– Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Ngọc Đỉnh Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh.
– Và phỏng vấn những người liên quan khác.

Lưu ý: Tôi chỉ kể quân chính quy của hai bên, không nói đến các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát của VNCH, các lực lượng Du Kích, Đặc Công của CSBV.

Lực Lượng VNCH Tại Thừa Thiên-Huế:

1- Tây Bắc: LĐ147/TQLC, LĐT là Đại Tá Nguyễn Thế Lương, gồm:

bốn Tiểu Đoàn 3, 4, 5, 7/TQLC,
một Đại Đội Viễn Thám, TĐ 2 Pháo Binh TQLC,

Liên Đoàn 14 BĐQ gồm:

ba tiểu đoàn và
một Đại Đội Viễn Thám.

Tất cả các lực lượng trên được chỉ huy bởi Đại Tá TQLC Nguyễn Thành Trí.

2- Tây Nam: SĐ1BB gồm 4 trung đoàn và 1 Đại Đội Hắc Báo, 1 Đại Đội Trinh Sát, các thành phần yểm trợ như 3 tiểu đoàn pháo binh 105 ly, 1 tiểu đoàn pháo binh 155 ly, Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh.

3- Yểm Trợ:Yểm trợ cho toàn mặt trận Thừa Thiên-Huế là Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh gồm Thiết Đoàn 20 Chiến Xa có 51 chiến xa M48 mới tinh, (nên nhớ chiến xa M48 là khắc tinh của chiến xa CSBV T54), Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh gồm khoảng 100 chiếc M113 và M41, các Tiểu Đoàn Pháo Binh 155 Ly.

Các lực lượng kể trên được gọi là Quân Đoàn I Tiền Phương và được chỉ huy bởi Trung Tướng Lâm Quang Thi, ông cũng là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I. Đây là 1 đạo quân thiện chiến hàng đầu của Quân Lực VNCH, đạo quân này sẽ đánh bại bất cứ lực lượng CSBV nào.

4- Nam Thừa Thiên và Quốc Lộ 1:

- Liên Đoàn 15 BĐQ gồm các Tiểu Đoàn 60, 61, 94 BĐQ. Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 15 BĐQ đóng tại Phú Bài. Liên đoàn này trải quân sâu về phía Tây cách Quốc Lộ 1 khoảng 5 cây số.

- Lữ Đoàn 258/TQLC gồm TĐ1 và TĐ8 ém quân ven QL1 từ Bắc Cầu Truồi đến Cầu Đá Bạc- Phú Lộc. BCH LĐ258 đóng tại phía Bắc Sông Truồi cùng với Đại Đội B Viễn Thám, Tiểu Đoàn trừ 1 Pháo Binh 105 Ly.

Lực Lượng CSBV Tại Thừa Thiên-Huế:

Lưu ý: Tôi chỉ kể quân chính quy, không kể du kích địa phương, đặc công.

Theo tài liệu Wikipedia CSBV thì lực lượng Chính Quy CSBV tấn công vùng Huế-Thừa Thiên gồm:

- Sư Đoàn 324 với ba trung đoàn, Sư Đoàn 325 với hai trung đoàn, một trung đoàn đã tăng phái cho mặt trận Ban Mê Thuột và yểm trợ cho cả ba mũi tấn công Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam có Lữ Đoàn Xe Tăng 203, Lữ Đoàn Pháo 164, Sư Đoàn Phòng Không 673.

TƯƠNG QUAN QUÂN SỐ CỦA HAI BÊN TẠI CHIẾN TRƯỜNG HUẾ THỪA THIÊN:

Tôi chỉ kể những tiểu đoàn chính quy tác chiến. Nên nhớ 1 tiểu đoàn Bộ Binh quân số khoảng 500-600 binh sĩ. Tiểu Đoàn TQLC có quân số khoảng 700. 1 tiểu đoàn CSBV quân số khoảng 300-400 binh sĩ.

- VNCH: Tổng cộng 24 Tiểu Đoàn Tác Chiến gồm:.

LĐ147/TQLC (4 tiểu đoàn).
Liên Đoàn 14BĐQ 3 tiểu đoàn.
SĐ1BB gồm

4 trung đoàn mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn như vậy là 12 tiểu đoàn.
LĐ258/TQLC có 2 tiểu đoàn.
Liên Đoàn 15BĐQ 3 tiểu đoàn.


- CSBV: Tổng cộng 15 tiểu đoàn gồm Sư Đoàn 324 có 3 trung đoàn mỗi trung đoàn 3 tiểu đoàn, Sư Đoàn 325 có 2 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn.

TRẬN ĐÁNH TRÊN QUỐC LỘ 1 HUẾ - ĐÀ NẴNG - NAM THỪA THIÊN.

(Từ phần này đến những đoạn sau, tôi viết dựa theo kinh nghiệm của chính tôi, phỏng vấn những quân nhân tham dự trận chiến thuộc Lữ Đoàn 258 TQLC và Liên Đoàn 15 BĐQ, riêng với Thiếu Tá Đỗ Thanh Quang - Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 61BĐQ và Đại Tá TQLC Nguyễn Năng Bảo-LĐT/LĐ258/TQLC lúc đó. Tôi đã phỏng vấn họ 10 năm trước, khi tôi viết bài “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”.

Phía CSBV tôi dựa theo hồi ký của tên Thiếu Tướng Nguyễn Đức Huy lúc đó là Phó Tư Lệnh-Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 325 CSBV, điều cần phải nêu ra là hồi ký của tất cả bọn cán binh CSBV đều được viết theo đơn đặt hàng của Ban Chính Huấn CSVN, nên có nhiều khoác lác bịa đặt, tôi chỉ lấy ra những phần hợp lý)

Ngày 18/3/1975, LĐ258/TQLC rời Mỹ Thủy- Quảng Trị, đoàn xe dài đưa chúng tôi ra QL1, khi qua cầu Mỹ Chánh thì “được” CSBV chào đón bằng mấy trái cối 82 ly, nhưng không có thiệt hại. Chúng tôi qua Huế mà lòng bồi hồi thương tiếc vì linh cảm rằng đây là lần cuối cùng. Địa điểm đóng quân mới của LĐ258 tại phía Nam Tỉnh Thừa Thiên, từ phía Bắc Cầu Truồi đến Phú Lộc.

Tr/Tá Huỳnh Văn Lượm - Lữ Đoàn Phó cho biết Lữ Doàn có nhiệm vụ:
- Bảo vệ giao thông và tiếp tế trên Quốc Lộ 1 phía Nam Thừa Thiên.
- Làm thành phần cản hậu nếu Quân Đoàn I Tiền Phương rút về Đà Nẵng.
Cùng nhiệm vụ với LĐ258/TQLC có Liên Đoàn 15BĐQ, bộ chỉ huy đóng tại Phú Bài các tiểu đoàn đóng sâu trong núi phía Tây còn, TQLC thì ém quân ven Quốc Lộ 1, tuyến phòng thủ từ Bắc Sông Truồi đến Phú Lộc.
Tuyến phòng thủ của Lữ Đoàn 258/TQLC

Quân rút thì dân cũng chạy theo, người dân Quảng Trị-Huế đã có quá nhiều kỷ niệm đau thương với CSBV, năm Mậu Thân 1968 CSBV đã chôn sống trên 5.000 người dân Huế bao gồm cả đàn bà và học sinh. Năm 1972 CSBV đã xả súng tàn sát mấy ngàn dân Quảng Trị gồm thường dân, đàn bà trẻ em khi họ bỏ trốn khỏi vùng giao tranh trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, chiến pháp của CSBV là “Tam Dân”.

- Dùng dân lành làm bia đỡ đạn,
- Dùng dân để lấy lương thực,
- Dùng dân để lấy tin tình báo,

Vì vậy khi dân chạy trốn thì bị chúng khủng bố và tàn sát dã man.

Từ ngày 18/3/1975 đến ngày 21/3/1975 người dân Quảng Trị-Huế đã bỏ nhà cửa ruộng vườn, theo Quốc Lộ 1 chạy về Đà Nẵng, họ dùng tất cả phương tiện xe hơi, xe gắn máy, xe đạp và đi bộ để chạy giặc đầy trên Quốc Lộ 1, bất kể ngày đêm. CSBV không bỏ lỡ cơ hội này nên các dàn đại pháo 130ly của chúng đã xả đạn không thương tiếc vào đoàn người, nhiều người trúng đạn ngã gục nhưng những người phía sau vẫn hoảng loạn đạp lên những người xấu số để đi, chính quyền địa phương Quân Đoàn I hầu như bỏ rơi họ, tôi không thấy các toán y tế săn sóc sức khỏe cho dân, tôi cũng không thấy các toán an ninh cảnh sát thanh lọc lũ đặc công CSBV đang trà trộn trong dânđể lọt vào Đà Nẵng, Lữ Đoàn 258TQLC đã tự động làm công tác “dân sự vụ”, các toán Quân Y săn sóc sức khỏe, cứu thương, cung cấp lương thực cho dân, các binh sĩ thì mai tang những người xấu số.



MX Phạm Vũ Bằng


-----------------------------------------------------------------




Bờ Biển Thuận An: Pháp Trường Cát! Phạm Vũ Bằng

Ngày 18 tháng 3, 1975, Lữ Đoàn 258/TQLC di chuyển từ Quảng Trị về đèo Phước Tường, nằm trên QL.1, phía Bắc đèo Hải Vân để bảo vệ an toàn đoạn trục lộ nguy hiểm này hầu cho các đơn vị QLVNCH từ QT và Huế rút về Đà Nẵng. Trong thời gian này LĐ.258 đã giao tranh nhiều lần với địch nhưng vẫn giữ vững vị trí, bảo toàn trục lộ đèo Phước Tường để chờ các đơn vị bạn từ phía Bắc rút qua, nhưng cho đến sáng ngày 25 tháng 3 chúng tôi được lệnh rút khỏi đèo Phước Tường.
Lệnh này làm chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên, bởi QL.1 đoạn chạy qua đèo PT là con đường bộ duy nhất tương đối an toàn để triệt thoái các đơn vị bạn phía Bắc về ĐN, nếu bỏ đoạn đường này đi chẳng khác chi là “khai tử” họ!

Hay là thượng cấp đã có kế hoạch khác, đổi hướng ra biển Đông chăng? Tuy kinh ngạc nhưng là thuộc cấp, là y sĩ của LĐ và là đơn vị chuyên môn nên chúng tôi không có quyền, không có thời gian để thắc mắc, việc trước mắt là thương binh.

Tôi được lệnh mang các thương binh về Tổng Y Viện Duy Tân (ĐN) bằng đường bộ vì trực thăng không thể đáp được. Thương binh được chở trên 3 xe GMC có một Trung Đội TQLC bảo vệ, rời đèo PT vào lúc 6 giờ sáng ngày 25 tháng 3, 1975, vì đường đi khó khăn nên đến mãi 8 giờ tối mới về được đến Đà Nẵng.


Bác sĩ Phạm Văn Lương (Hình)

Chúng tôi đến Tổng Y Viện Duy Tân vào lúc 9 giờ tối, cả một vùng trời đất tối đen, trừ phòng nhận bệnh phía sau cổng chính vẫn còn ánh đèn hắt ra, một số y tá đang săn sóc thương binh, tôi nhận ra trong số đó có Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Văn Lương, người hùng ôm lựu đạn chống tham nhũng năm xưa và nay tuy là trưởng khu giải phẫu của TYV nhưng vì thiếu y sĩ nên anh tham gia công tác nhận và lựa thương. Anh hứa sẽ săn sóc các thương binh TQLC thật chu đáo để tôi trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu (anh Lương đã bị Việt cộng bắt và sau đó anh tự tử trong tù).

Sau khi công tác tải thương về Tổng Y Viện Duy Tân vừa hoàn tất vào lúc 9 giờ 30 đêm 25 tháng 3 năm 1975 thì qua máy truyền tin C.25 tôi nhận được lệnh phải trình diện Tiểu Đoàn Quân Y/TQLC ngay lập tức.

Đến 10 giờ đêm tôi mới về đến cổng căn cứ nằm trong phi trường Non Nước. Không như những nơi khác, ở đây, cổng căn cứ được canh gác cẩn mật, đèn rực sáng, nhiều lớp hàng rào kẽm gai kéo chặn ngang cửa, những quân cảnh TQLC trang bị khí giới đầy đủ, ngoài ra còn có 2 xe jeep gắn súng đại liên, tất cả trong tư thế sẵn sàng.

Bệnh viện dã chiến của SĐ/TQLC là một cái “hangar” lớn nằm phía tay phải sau cổng căn cứ. Tại đây đèn đuốc còn sáng, người ra kẻ vào tấp nập. Tôi gặp hầu hết các anh em y sĩ của bệnh viện Lê Hữu Sanh, Thủ Đức, họ chào hỏi tôi vui vẻ và cho biết vì sư đoàn không có đủ phương tiện tải thương về căn cứ Sóng Thần, Thủ Đức, nên anh em phải ra Đà Nẵng để săn sóc thương binh tại chỗ.

Tôi nhìn vào dẫy hangar rộng lớn kê đầy giường bệnh, có đến 5, 6 trăm giường đầy ắp thương binh, đó đây các toán y sĩ và y tá đang chăm chú làm nhiệm vụ săn sóc anh em. Dù đã quá quen với nhiệm vụ cấp cứu nơi chiến trường, nhưng trước tình trạng quá tải, lại thiếu thốn y cụ và phương tiện tải thương về bệnh viện những trường hợp quá nặng khiến anh em y sĩ căng thẳng, phải miệt mài, tiết kiệm từng giây từng phút chiến đấu với tử thần hầu cứu lấy đồng đội.

Tôi trình diện Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Thế, tiểu đoàn trưởng TĐ/QY. Trong khi tôi đứng nghiêm chào anh thì anh lại chăm chú quan sát chiếc áo giáp loang lổ vết máu mà tôi đang mặc. Sau khi biết chắc đó là máu thương binh chứ không phải tôi bị thương, anh không bắt tay như thường lệ mà nhẹ nhàng vỗ vai tôi, đôi mắt mệt mỏi nhưng cảm động nhìn “thằng em” vừa thoát chết trở về. Anh nhẹ nhàng bảo tôi để nón sắt lên bàn anh và ngồi xuống ghế đối diện rồi chậm rãi nói:

- “Hiện giờ Lữ Đoàn 147/TQLC đang bị kẹt tại cửa Thuận An, không biết vì lý do gì mà tàu HQ không vào đón. Ngày mai SĐ/TQLC sẽ mở một cuộc hành quân về phía Bắc đèo Hải Vân để giải tỏa cho LĐ/147. Nhiệm vụ của Bằng là chỉ huy một đơn vị QY/TQLC và 5 xe tải thương của Liên Đoàn 71/QY tăng phái để yểm trợ cho đơn vị tấn công. Mọi tiếp liệu về thuốc men, y cụ, lương thực thì Đại Úy Sanh, sĩ quan trợ y tiểu đoàn đã lo sẵn.”

Tôi nhận nhiệm vụ anh Thế giao cho với một tâm trạng nửa mừng nửa lo. Mừng vì tôi sẽ được tham dự vào cuộc hành quân giải cứu đơn vị bạn; Lo vì tôi biết đơn vị tấn công sẽ gặp rất nhiều khó khăn với địa thế phía Bắc đèo Hải Vân và chắc chắn họ sẽ chịu nhiều tổn thất nên không biết một mình tôi có thể săn sóc cấp cứu cho một số lớn thương binh không.

Đúng 6 giờ sáng ngày 26 tháng 3, 1975, các y tá TQLC đã sẵn sàng trình diện tôi với đầy đủ lương thực, thuốc men và y cụ cứu thương. Tôi rất yên tâm và phân chia họ thành 3 toán với nhiệm vụ cụ thể rõ ràng; Toán thâu lượm thương, toán cấp cứu, toán tải thương và không quên nhắc lại cho họ biết truyền thống của Quân Y nói chung và của TQLC nói riêng là không bỏ sót bất cứ một thương binh nào. Tôi cũng lưu ý họ phải kiểm soát, lau chùi vũ khí cá nhân và hết sức thận trọng yểm trợ cho nhau khi tiến lên cấp cứu thương binh vì địch quân thường nhắm bắn sẻ các toán quân y tá hầu làm giảm tinh thần chiến đấu của các anh em khác.

Toán xe tải thương tăng phái cũng đã có mặt, tôi kiểm soát xe và xăng nhớt thấy đầy đủ nhưng trang bị cá nhân của họ thì quá sơ sài, không nón sắt áo giáp! Tải thương trên đường đèo Hải Vân mà tài xế bị thương thì hậu quả khôn lường nên tôi yêu cầu Đại Úy Sanh cung cấp cho họ nón sắt và áo giáp.

Toán Quân Y của chúng tôi đã sẵn sàng tại chỗ để lên đường hành quân. Đến 11 giờ sáng thì lệnh hành quân được hủy bỏ mà tôi không được biết lý do nhưng toán Quân Y của chúng tôi lại nhận nhiệm vụ khác. Chúng tôi được lệnh đến ngay bến tầu Quân Vận ĐN (tôi không nhớ tên) để đón anh em thương binh Lữ Đoàn 147/TQLC vào lúc 1 giờ.

Khoảng 2 giờ chiều, một chiếc LCM từ từ cập bến, khi tấm bửng tầu mở ra, tôi rất mừng ứa nước mắt thấy lại những chiếc áo rằn ri quen thuộc nhưng cũng buồn ứa nước mắt khi thấy 3 tử sĩ được anh em khiêng ra trước tiên. Họ được bọc poncho cẩn thận và được đặt ngay ngắn trên cầu tầu. Nhìn các tử sĩ này mà lòng tôi buồn tê tái! Một trong 3 tử sĩ này là Thiếu Tá Nguyễn Trí Nam, tiểu đoàn phó TĐ.4/TQLC, còn 2 người kia vì lâu ngày nên tôi không còn nhớ tên (nhưng chắc chắn không có tên Đại Úy Tô Thanh Chiêu, một đại đội trưởng thuộc TĐ.4 tử trận cùng lúc với Thiếu Tá Nam). Các anh sẽ được đưa vào nhà xác Đà Nẵng.

Theo sau 3 poncho “bọc thây” là các thương binh, đầu tiên là Đại Tá Nguyễn Thế Lương, lữ đoàn trưởng LĐ.147 được các y tá dìu xuồng cầu tầu, ông bị thương ở chân nên di chuyển rất khó khăn. Sau ông là 2 bác sĩ Rậu và Khoa cùng các y tá đi cùng với các anh em bị thương, người được đồng đội dìu, người được khiêng cáng, có tất cả khoảng hơn 100 thương binh. Tôi nhanh chóng phân loại và đưa anh em lên đoàn xe tải thương để chuyển về bệnh viện dã chiến TQLC trong căn cứ Non Nước. Sau hết là mấy trăm binh sĩ thuộc đủ mọi tiểu đoàn đã bị “kẹt” tại bờ biển Thuận An. Trông các anh mệt mỏi bơ phờ nhưng ánh mắt rực lên sự tức giận.


Thủy Quân Lục Chiến tại biển Thuận An, Huế (Hình)

Tất cả mọi thành phần trên chiếc LCM này được chở về căn cứ Non Nước và tôi được biết đây là chiếc tàu duy nhất chở anh em TQLC bị kẹt tại bờ biển Thuận An trở về Đà Nẵng. Cảm khái trước sự hy sinh cao cả của 3 đồng đội tôi đã gặp trên cầu tầu, mà trong thâm tâm, tôi nghĩ sự hy sinh của anh em có phần oan uổng nên tôi làm một bài thơ để kính tặng các anh:

“Anh nằm đây vô tư không mộng mị,
Nợ non sông anh mới trả hôm qua.
Anh ra đi khi nước nhà nghiêng ngả,
Chúng tôi còn, mang nặng hận núi sông,
Tôi với anh, những người chưa quen biết,
Đưa tay chào lòng đau mãi khôn nguôi!”


Chiến tranh như một cơn bão lửa tàn phá tất cả, nhưng rồi lửa cũng phải tàn, cuộc binh đao rồi cũng qua đi, nhưng những mất mát đau thương do chiến tranh gây ra sẽ còn tồn tại mãi theo dòng lịch sử. Chiến đấu bảo vệ quê hương của quân nhân là việc hệ trọng, đó không phải là một “ván cờ” mà binh sĩ không phải là những quân cờ để người chỉ huy, người chơi cờ thí tốt bắt xe! Bắt xe không được thì xóa bàn làm lại!

Gần đây trong hồi ký của một vị tướng, ông đã dùng câu văn của một tác giả người Ý để ám chỉ chiến tranh Việt Nam như ván cờ mà ông quên chính ông là người cũng có phần trách nhiệm không nhỏ đối với những “con tốt” đã bị thí oan uổng!

Một người lính nằm xuống sẽ kéo theo tang tóc cho hằng trăm người liên hệ. Trong 20 năm của cuộc chiến VN, chỉ tính riêng quân đội của cả 2 bên Nam Bắc đã có tới gần 2 triệu tử sĩ! Hậu quả của cuộc chiến vẫn còn đến bây giờ và sẽ còn tồn tại vài thế hệ nữa. Một ngàn năm sau, nếu nước Việt vẫn còn, chưa bị Trung Cộng tiêu diệt thì người Việt Nam sẽ nhỏ lệ đau buồn khi đọc đến những trang sử của cuộc chiến này.

Phải chăng chúng ta mất nước chỉ vì có những cấp, tuy mang danh chỉ huy, lãnh đạo, nhưng lại mải mê “chơi cờ” mà quên đi lời dạy của Đức Trần Hưng Đạo: “Nếu có giặc đến thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được giáp giặc? Mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu?”

Ngày nay, khi đã “bình chân như vại” tại hải ngoại, đọc lại hồi ký của những Mũ Xanh còn sống sót tại bãi biển Thuận An năm xưa, hồi tưởng lại những gì mà các anh em thương binh mà tôi đã đón và săn sóc ngày 26 tháng 3, 1975 thuật lại và kết hợp với những gì mắt thấy tai nghe khi tôi còn phục vụ ở Đại Đội Quân Y LĐ.258 trên đèo Phước Tường, tôi có vài thắc mắc nêu lên với mục đích hoàn toàn mong ước lịch sử được sáng tỏ mà không hề có ý phỉ báng hay chỉ trích một cá nhân nào.

Tại sao Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I không rút quân theo đội hình từ Huế về đèo Hải Vân (ĐN) trên QL1? Vào thời điểm của cuộc rút quân, đoạn đường này còn được bảo vệ bởi Liên Đoàn 5/BĐQ, Lữ Đoàn 258/TQLC và LĐ 468/TQLC? Cả đoạn đường dài vẫn an toàn ngoại trừ một vài cái chốt nhỏ cấp Trung đội như tại địa điểm cầu Đá Bạc. Những chốt này không đáng quan tâm đối với TQLC và LĐ.1 Kỵ Binh.

Nếu giới chức có thẩm quyền BTL/QĐ/TP rút quân theo đội hình trên QL.1 thì quý vị ấy chắc chắn đã mang về Đà Nẵng, không những LĐ147/ TQLC mà còn có SĐ.1/BB, LĐ.1/KB, LĐ 14-15/BĐQ và các tiểu đoàn Pháo Binh. Đây là những đơn vị hàng đầu của QLVNCH và nếu được như thế thì hẳn cuộc chiến tại QK I sẽ thay đổi hay cũng tránh được thiệt hại lớn, nhất là đối với các TQLC dọc theo bờ biển Thuận An.

Tối 24 tháng 3, 1975, Bộ Tư Lệnh TP/QĐI ra lệnh cho LĐ.147, trang bị nhẹ, đoạn chiến với những Sư đoàn của CSBV để di chuyển về tập trung tại cửa biển Thuận An, nhưng QĐ đã không chuẩn bị và sử dụng những phương tiện có sẵn trong tay như Quân Vận, Công Binh và Hải Quân để yểm trợ cho LĐ.147/TQLC. Quân Đoàn có nghĩ đến khả năng truy kích của những Sư đoàn CSBV không?

Vùng bãi biển Thuận An là một bãi cát trống trải bao quanh tứ bề là nước và nước! Phía trước là biển Đông, phía sau là Phá Tam Giang, đầm Thanh Lâm, đầm Hà Trung, phía Bắc là cửa Thuận An, phía Nam là cửa Tư Hiền. Vùng biển nước này được bảo vệ bởi 2 duyên đoàn và một giang đoàn, những đơn vị này đã rút đi trước khi LĐ.147 tới cửa Thuận An. Ai đã ra lệnh cho họ rút đi? Bởi vì nếu các đơn vị này còn hiện diện tại vùng trách nhiệm thì quân truy kích của CSBV không thể nào vượt qua được Phá Tam Giang và cửa Thuận An để bao vây và tấn công LĐ 147/TQLC.

Sáng 25 tháng 3, 1975, trong khi LĐ.147 dừng quân tại bãi biển, trật tự an ninh còn tốt vì quân truy kích CS chưa tới trong khi đó thì ngoài khơi có chiếc LST 801 và một đoàn 5 chiếc LCM nhưng không có một chiếc tầu nào vào đón TQLC! Lý do?

Chỉ huy là tiên liệu, nếu nói rằng LST 801 không vào sát bờ được để đón TQLC thì tại sao lại không dùng những tàu nhỏ hơn có khả năng vào sát bờ? Và còn những LCM thì sao? Rồi sau đó thì ai ra lệnh cho những tầu này bỏ đi, xuôi Nam? Theo nguyên tắc chỉ huy thì những đơn vị này chỉ nhận lệnh trực tiếp từ BTL Hải Quân vùng I Duyên Hải hoặc BTL/QĐI mà thôi.

Đêm tối 25 tháng 3, 1975, quân truy kích của CSBV đã tới, phía Bắc chúng vượt qua cửa Thuận An, phía Tây qua bến phà Tân Mỹ, vượt phá Tam Giang, chiếm các đồi cao, bao vây LĐ.147/TQLC. Chúng được trang bị hùng hậu, đủ mọi loại vũ khí từ đại bác không giật 75 ly, súng cối 61 và 82 ly, hỏa tiễn tầm nhiệt AT.3, v.v… Trong khi anh em TQLC chỉ còn súng cá nhân M.16 trong tình trạng thiếu đạn, thiếu nước thiếu lương thực, thiếu tất cả để chống trả và chuyện gì đã xẩy ra chắc không cần phải nói thêm làm chi cho đau lòng. Cuộc “tàn sát” kéo dài từ chiếu tối 25 tháng 3 cho tới rạng sáng 27 tháng 3 thì toàn bộ Lữ Đoàn 147 còn lại bị chúng bắt!

Điều đặc biệt khó hiểu là suốt trong thời gian chiến đấu trong tuyệt vọng này, anh em TQLC không hề được tiếp tế đạn dược và lương thực! Không hề được yểm trợ hỏa lực nào của hải pháo và không yểm? Trong khi đó thì “tầu cỡi ngựa xem hoa” ngoài khơi và trực thăng, A.37, thì… đã bay về trời! Đã bay đi trước khi địch đến.

Nên nhớ rằng vào thời điểm này HQ và KQ vẫn còn nguyên vẹn và người có thẩm quyền ra lệnh cho các đơn vị này thi hành nhiệm vụ là giới chức cao cấp BTL Quân Đoàn, là của tư lệnh HQ Vùng I Duyên Hải, là của tư lệnh SĐ.1 KQ chứ không phải các cấp chỉ huy của TQLC, một lực lượng tăng phái. Xin quý tư lệnh Tiền Phương, Không Quân, Hải Quân Vùng I giải thích sự kiện kỳ cục này.

Sau khi Đại Tá Nguyễn Thế Lương, LĐT/LĐ.147, bị thương, Thiếu Tá Phạm Cang TĐT/TĐ7được đề cử xử lý thường vụ LĐT/LĐ.147 (và sau cùng Th/Tá Cang bị VC bắt) đã ghi lại chi tiết mọi diễn biến trong thời gian LĐ kẹt trên bãi biển Thuận An, xin trích:

“Đây là một trận chiến vô cùng phức tạp chưa từng thấy trong chiến tranh. Không phòng tuyến rõ ràng, số người dân và các đơn vị bạn di chuyển theo TQLC quá đông, không phân biệt được ai là bạn ai là địch, mỗi khi nghe súng nổ thì họ chạy hỗn loạn, gây khó khăn cho TQLC. Một khu vực chưa đầy một cây số vuông nhưng hơn 3,000 người trong đó. Khi TĐ.7 đưa M.113 lên tấn công thì địch pháo kích, tôi bị thương vì mảnh 82, tuy nhiên TĐ.7 đã chiếm được một số cao điểm nhằm giữ an toàn cho phía mặt biển để Lữ Đoàn dùng làm bãi đáp hầu thực hiện kế hoạch Alpha, rút quân bằng Hải Quân VN vào lúc 12 giờ đêm.
Kế hoạch xuống tàu theo thứ tự như sau: BCH/LĐ + TĐ.2PB, TĐ.4, TĐ.3, TĐ.5 và cuối cùng là TĐ.7.

Đêm 14 âm lịch, trăng sáng vằng vặc, không gian đắm chìm trong không khí vô cùng ngột ngạt, mọi người đang chờ đợi, không nghe một tiếng động hay chỉ vì tiếng sóng gầm thét át tiếng người.

Như kế hoạch Alpha đã vạch ra, 12 giờ đêm đã điểm, rồi 1 giờ, 3 giờ sáng… các con tàu vẫn không vào bờ (!). Xa xa ngoài khơi ánh đèn tàu vẫn còn đó nhưng mọi vật như bất động. Trong đêm, địch đã vượt cửa Thuận An, tăng cường quân số quyết tấn công LĐ.147 và ngăn không cho xuống tàu. Vì thế vào lúc 8 giờ sáng 26 tháng 3, một LCM vào đón thương binh và BCH/LĐ thì địch đã sử dụng hỏa tiễn tầm nhiệt và đại bác 12.7 tác xạ vào điểm tập trung và tàu HQ nên tàu phải rút ra, đem theo được một số thương binh. Đây là chiếc tàu duy nhất bất ngờ cập bờ và cũng vội vàng xa bờ!

Nếu đêm qua (25 tháng 3) kế hoạch Alpha được thi hành thì ít nhất một nửa Lữ Đoàn có thể thoát khỏi khu vực này để lên tàu. Nhưng không rõ vì LÝ DO gì mà không thực hiện được?” (MX Pham Cang, Tuyển tập 21 năm chiến trận của TQLC).

Một thiếu tá tiểu đoàn trưởng mà còn “không rõ vì lý do gì” mà tàu HQ không vào đón như kế hoạch Alpha đã đề ra thì một người lính chuyên môn như tôi làm sao hiểu nổi lý do! Nhưng với một căn bản quân sự sơ đăng tôi hiểu rằng nếu chờ tới sáng, mục tiêu rõ ràng và địch quân đã được tăng cường, đã “thế bắn nằm thủ thế,” hướng hỏa tiễn vào tàu thì coi như “vô kế khả thi,” rút đi là phải, để lại pháp trường cát!

Ngày 27 tháng 3, 1975 là ngày kết thúc LĐ.147/TQLC một cách đau thương! Số phận của SĐ.1/BB, LĐ.1 Thiết Kỵ, LĐ.14/ BĐQ và các lực lượng ĐPQ+NQ phía Bắc đèo Hải Vân chắc chắn cũng không khá hơn!

Như vậy chỉ trong vòng hai ngày, cả một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất Quân Khu I đã bị tan rã một cách vô lý khó hiểu.

Pháp trường cát, theo định nghĩa, là nơi người bị bắn bị trói tay, bịt miệng bịt mắt để toán hành quyết bắn mà những người đứng xem không có một hành động can thiệp nào. Cái pháp trường cát này, năm xưa ông Tướng NCK đã lập ra tại trung tâm thành phố Sài Gòn để xử bắn một tên gian thương làm hại đất nước. Cái pháp trường cát đó cả nước đều biết nhưng rất nhiều người Miền Nam Tự Do đã không biết có một pháp trường cát thứ hai tại một bãi cát xa xăm vùng địa đầu giới tuyến vào tháng 3 năm 1975 mang tên “Bãi Biển Thuận An.”

Trong những ngày cuối cùng của “Tháng Ba Gãy Súng” đau buồn ấy, người bị đưa ra pháp trường cát đẫm máu này không phải là tội phạm mà trái lại, lại là những đứa con ngoan của mẹ Việt Nam. Những đứa con này đã bỏ gia đình, bỏ tuổi thanh xuân đầy mộng đẹp, bỏ ăn bỏ ngủ để ngày đêm chiến đấu bảo vệ Miền Nam Tự Do trong suốt 20 năm dài. Những người này là hằng ngàn TQLC của Lữ Đoàn 147/TQLC thuộc các TĐ 3, 4, 5, 7 và TĐ.2/PB.
Ai là người đã đem họ ra pháp trường cát này?

Bến Tân-Mỹ phà xưa không trở lại,
Đầm Hà-Trung lặng lẽ tiễn anh qua.
Phá Tam-Giang sao muôn đời sầu thảm,
Máu Thủy-Thần nhuộm đỏ sóng Thuận An!


Tôi viết đoạn hồi ký này để kính tặng các đồng đội TQLC cũng như các anh BB, các anh hùng đơn vị bạn đã bị hy sinh oan uổng trên bờ biển Thuận An. Ước mong linh hồn các anh được thanh thản nơi cửa Phật hoặc đất Chúa.

Người xưa có nói “nhất tướng công thành vạn cốt khô”! Vậy thì những ông… không thành công thì cần bao nhiêu vạn cốt khô?

Để kết thúc những ngổn ngang tâm sự, những câu hỏi không, chưa có người trả lời, tôi xin ghi lại, cũng tâm sự của một người lính mũ xanh, hiện còn ở trong nước, tháng 3 năm xưa đã cùng đồng đội ngồi lại trên bãi cát bên bờ biển Đông để cùng rút chốt, chia nhau một trái lựu đạn! Nhưng anh đã kém may mắn hơn đồng đội, đành lê kiếp sống tàn tạ như người xa lạ trên chính quê hương mình. MX Đoàn Văn Tuấn viết:

“Một mùa đại giỗ nữa của gia đình anh em Mũ Xanh lại đến. Đã trên bao năm trôi qua mà sao vẫn nhớ mãi cái cảnh những người lớn chơi trò trẻ con! Họ ngồi quây quần bên nhau, úp lá khoai môn lên trái mãng cầu. Những lời bình thản:

- “Ê, từ từ đã mày, chờ thằng Toàn đang chạy đến tham gia kia kìa.”

Rồi sau đó… “bùm”!!!

Trời ơi! Đó là thực tế của bạn bè anh em chúng tôi, những người lính Mũ Xanh kiêu hùng nhưng họ đã phải đi nhặt những viên đạn để chống trả với quân thù! Dùng hàm răng làm vũ khí và sau cùng thì đành trở về với tuổi thơ, ngồi xúm lại trên bãi cát trắng bờ biển Thuận An miền Trung thơ mộng. Trời vẫn xanh, biển vẫn rì rào lời mời gọi. Đường về! Ôi quá xa.

- “Bùm,”...
Những thân người đổ vật ra! Anh em ta đã về nhà, về với đất mẹ thân yêu. Một thực tế mà trên thế giới ít một nước nào có. Sự tự sát tập thể không khác gì với những huyền thoại của những người võ sĩ đạo của xứ Phù-Tang. Tinh thần bất khuất ấy vẫn sống mãi trong ký ức những người còn lại.

Hôm nay ngồi đây, tôi viết những dòng này gửi đến các anh, đến bạn bè, những người lính MX năm xưa để chúng ta cùng cúi đầu dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ những người đã nằm xuống tháng 3, tháng gió lớn của gia đình Mũ Xanh.

https://hung-viet.org/images/file/YTUJEjVj0wgBALpw/bacsiphamvanluong.jpg

MX Phạm Vũ Bằng

Nguồn: https://hung-viet.org/p19a20765/bo-bien-thuan-an-phap-truong-cat



https://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/marine%20.jpg