Saturday, September 10, 2016

Trung Úy Sơn

 

 photo Vigrave Dacircn Quyt Chin_zpscnsdkjrh.jpg

 

 




Trung Úy Sơn

Charles Kuralt

Charles Kuralt (1934-1997) là một thông tín viên nổi tiếng của đài truyền hình CBS. Các chương trình phóng sự của ông đã trúng được 10 giải Emmy Awards và ba giải Peabody Awards. Tên tuổi của ông dính liền với tên tuổi của các thông tín viên nổi tiếng khác của các đài truyền hình lớn trên nước Mỹ như Walter Cronkite, Tom Brokaw hay Harry Reasoner. Ông cho ra bảy quyển sách viết về những kỷ niệm trong sự nghiệp làm phóng sự của ông trong những lần ông đi làm tin trên khắp nước Mỹ hay trên toàn thế giới. Quyển hồi ký, "A Life on the Road", tạm dịch là "Một Đời Phiêu Du.", của ông xuất bản năm 1990, do Nhà Xuất Bản G. P. Putnam's Sons, New York, dày 253 trang với 26 chương. Thay vì viết về những nhân vật nổi tiếng trên khắp thế giới mà ông đã từng phỏng vấn như Tổng Thống Kennedy, Mẹ Teresa, hay Marlon Brando, như những quyển khác, quyển này ông viết về những người bình thường ông đã từng gặp, mà để lại cho ông những kỷ niệm khó quên. Chương 6 có một tựa đề vỏn vẹn là "Trung Úy Sơn." Trong chương này, ông kể về những kỷ niệm của ông trong chuyến đi đầu tiên của ông đến Sài Gòn vào năm 1961. Ông kể về Sài Gòn một cách trìu mến và kể một câu chuyện rất cảm động về sự chiến đấu anh dũng của Trung Úy Sơn và đồng đội của anh, các chiến sĩ Biệt Động Quân thuộc Đại Đội 150, khi đã phải chống trả với một lực lượng Việt Cộng đông gấp năm lần trong một cuộc hành quân gần Sài Gòn vào năm đó.

............................................
Chương 6: Trung Úy Sơn
............................................

Đoàn lính Biệt Động Quân VNCH đang hành quân.


Mùa xuân năm đó, Les Midgley, Sếp tôi, nói một điều khiến tôi suýt mất mạng trong đường tơ kẽ tóc. Anh nói: “Việt Nam.”

Đó là vào tháng 4 năm 1961. Tôi có ghi trong chuyến đi này là: “Có khoảng 500 cố vấn quân sự Hoa Kỳ tại quốc gia này.” Lúc đó, không một cơ quan truyền thông Hoa Kỳ nào xem cuộc chiến Việt Nam là quan trọng đến nỗi phải mở một văn phòng thường trực tại đây. Vì vậy cuộc thăm viếng của một toán truyền hình từ Hoa Kỳ đến đây được coi là đặc biệt đến nỗi khi anh quay phim Fred Dieterich, từ Los Angeles, và tôi đến Phi Cảng Sài Gòn thì chính quyền Nam Việt Nam đã cử một chiếc Citroen có tài xế lái ra đón chúng tôi và chở vào thành phố. Họ còn sắp xếp cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn với Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại Dinh Tổng Thống vào sáng hôm sau.

Ông kể rằng: ..."khi đất nước Việt Nam bị chia đôi vào năm 1954, có hơn 900.000 người Việt từ bắc di cư vào nam. Hầu hết các người này là những người tỵ nạn và chống cộng thật sự. Nhưng trong số này có khoảng 10.000 người là cán bộ cộng sản chính gốc. Họ được lệnh trà trộn vào nam để khủng bố các người tỵ nạn."...

Ông Diệm là một tổng thống được dân chúng bầu lên nhưng sau vì Việt cộng nằm vùng tăng sự phá rối. Ông Diệm trở nên cứng rắn hơn. Ông ra lệnh bắt giam hàng loạt những người gây rối và kiểm duyệt báo chí với lý do là để chống lại cộng sản. Quân đội của ông phải đối diện với một cuộc chiến rất tàn khốc tại rừng rậm và đồng ruộng, thiếu vũ khí, đạn dược để đối phó với Việt cộng. Và từ từ, những người lính đang trở nên mỏi mệt.

Trong cuộc phỏng vấn này, Tổng Thống Diệm nói thẳng cho tôi nghe về những vấn đề mà quốc gia ông đang phải đối phó. Ông không dùng những lời lẽ quanh co của các nhà ngoại giao như tôi tưởng. Ông nói thẳng ra là nước ông cần viện trợ quân sự từ phía chính phủ Hoa Kỳ.

Ông kể rằng: ..."khi đất nước Việt Nam bị chia đôi vào năm 1954, có hơn 900.000 người Việt từ bắc di cư vào nam. Hầu hết các người này là những người tỵ nạn và chống cộng thật sự. Nhưng trong số này có khoảng 10.000 người là cán bộ cộng sản chính gốc. Họ được lệnh trà trộn vào nam để khủng bố các người tỵ nạn."...

— "Giết trưởng làng."

Ông Diệm kể:

— "Giết các trưởng làng, người phụ tá của họ, đe dọa dân làng. Đó là thủ đoạn của Việt cộng. Và nay bọn Việt Cộng nằm vùng này lại được yểm trợ bởi quân chính quy từ Hà Nội. Đây là một cuộc xâm lăng thầm lặng, với sự yểm trợ của Trung Cộng và Nga Sô. Để đối phó lại, chúng tôi cần sự yểm trợ về quân sự từ phía chính phủ Hoa Kỳ."

Tôi đề nghị với ông: Vì Việt Nam là cựu thuộc địa của Pháp, chính phủ Nam Việt Nam nên kêu gọi sự giúp đỡ của nước Pháp.

— "Nước Pháp không có ý chí."

Tổng Thống Diệm trả lời thẳng ra như vậy!

— "Chỉ có nước Hoa Kỳ là có ý chí bảo vệ tự do cho thế giới. Nếu nước Hoa Kỳ mất ý chí này thì nước Việt Nam sẽ mất tự do."

Hôm đó, Tổng Thống Diệm đã dạy cho tôi một bài học lịch sử rất quý báu. Và ông đã cho tôi một lời tiên tri thật đúng.

Chẳng bao lâu, tôi khám phá ra rằng - Sài Gòn là một thành phố rất quyến rũ so với các thành phố khác trên thế giới. Lúc đó, cuộc chiến ở vùng quê chưa ảnh hưởng đến thành thị. Những người Việt tôi đã được gặp, từ những giáo chức, người làm báo, người hầu bàn, cho đến các tài xế chạy tắc xi, tất cả đều rất thân thiện và chu đáo lắm. Các phụ nữ thật là xinh đẹp, theo tôi nghĩ, họ thướt tha đi trong các tà áo dài. Trời mùa xuân tại đây thật đẹp và các quán cà phê trên vỉa hè thật tuyệt vời. Ban ngày, tôi lang thang đi dưới các tàng cây và tối đến, tôi lười biếng nằm một mình trên giường ở khách sạn Majestic, mắt nhìn lên chiếc quạt trần đang quay chầm chậm, tai lắng nghe những tiếng động dội lên từ mé sông gần đó. Cũng như đám phóng viên Tây Phương đổ tràn vào sau này, tôi bị Sài Gòn mê hoặc lúc nào không hay. “Thành phố này phải được bảo vệ," Tôi nghĩ thầm, "Nếu một Sài Gòn nắng ấm, nhộn nhịp này bị rơi vào tay cộng sản để trở thành một thành phố ảm đạm, tù túng thì nền văn minh của nhân loại không còn nữa."

Mỗi ngày tôi đều ghé vào văn phòng báo chí chính phủ để xin phép được đi theo một cuộc hành quân về vùng quê.

— "Nguy hiểm lắm!"

Một viên chức ở đây bảo tôi vậy. Thấy tôi cứ kèo nhèo mãi, không chịu rời, ông nói:

— "Ừ, có thể."

Và cuối cùng ông cho biết:

— "Mai sẽ có Trung Úy Sơn tới đón ông tại khách sạn vào lúc trưa. Hãy chuẩn bị cho một chuyến đi nhiều ngày."

Hôm sau, Fred Dieterich chất dụng cụ lên chiếc xe Jeep tới đón chúng tôi và leo lên ngồi phía sau. Tôi ngồi phía trước kế bên người lái xe là Trung Úy Sơn, một sĩ quan Biệt Động Quân trẻ đã từng được huấn luyện tại Hoa Kỳ. Tuy tiếng Pháp của tôi rất nghèo nàn và tiếng Anh của anh ta không khá lắm nhưng chúng tôi cũng nói chuyện được với nhau trong lúc xe đang rời thành phố.

— "Giết các trưởng làng, người phụ tá của họ, đe dọa dân làng. Đó là thủ đoạn của Việt cộng. Và nay bọn Việt Cộng nằm vùng này lại được yểm trợ bởi quân chính quy từ Hà Nội. Đây là một cuộc xâm lăng thầm lặng, với sự yểm trợ của Trung Cộng và Nga Sô. Để đối phó lại, chúng tôi cần sự yểm trợ về quân sự từ phía chính phủ Hoa Kỳ."

Tuy trẻ tuổi nhưng Trung Úy Sơn là cựu chiến binh của cuộc chiến trước. Anh cho biết gia đình anh là một gia đình quốc gia. Anh và hai người anh lớn đã từng gia nhập quân đội Việt Minh để chống Pháp. Và anh, lúc đó mới chỉ là một chú bé nhóc tỳ, đã từng có mặt trong những ngày cuối của trận chiến Điện Biên Phủ năm 1954.

— "Chúng tôi muốn có một đất nước tự do."

Anh nói:

— "Gia đình tôi không muốn chống Pháp, để rồi lại bị cai trị bởi Hồ Chí Minh."

Anh nhún vai và mỉm cười:

— "Vì vậy chúng tôi vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Ông sẽ thấy trường hợp của tôi cũng là trường hợp của nhiều chiến sĩ Biệt Động Quân khác."

Chúng tôi nghỉ đêm ở một nhà kho bỏ trống ở ngoại ô Bến Cát với Trung Úy Sơn và đơn vị Biệt Động Quân của anh, Đại Đội 150. Anh Sơn giới thiệu chúng tôi với những người lính của trung đội anh do anh chỉ huy. Tôi bắt tay họ trong lúc anh ta đang nói gì đó với họ.

— "Tôi nói họ hãy bảo vệ các anh cho an toàn ngày mai."

Sơn nháy mắt và nói với tôi sau đó.

Màn đêm buông xuống, Sơn mang thức ăn đến cho chúng tôi, cơm và thịt với một loại nước chấm hơi nặng mùi. Tôi hỏi anh:

— "Nước gì đây?"

— "Tôi không biết tiếng Anh gọi là gì."

Anh cười và nói thêm:

— "Cứ ăn đi, đừng thắc mắc."

Anh nhường cho Fred và tôi mỗi người một chiếc ghế bố để ngủ, còn anh và các người lính của anh thì nằm dưới đất. Tôi bảo anh ta:

— "Đối xử với chúng tôi như mọi người."

Anh Sơn nói:

— "Không sao, các anh là khách mà."

Tối hôm đó, các sĩ quan họp nhau ở một góc phòng, nghiên cứu tấm bản đồ dưới một bóng đèn điện heo hắt. Sáng hôm sau, ba trung đội Biệt Động Quân được lệnh tiến về một vùng đất tên là An Điền nằm giữa con sông Sài Gòn và một con kinh nhỏ để truy lùng một toán Việt Cộng tại đây. Trung đội của Trung Úy Sơn đi giữa.

— "Chúng tôi không đi trên lộ."

Anh Sơn bảo:

— "Vì thế các ông phải lội bùn nhé."

Trước tiên, chúng tôi được chở bằng xe cam nhông một đoạn đường ngắn trước khi mặt trời lên. Xe ngừng ở một bìa rừng thưa. Các người chiến binh lặng lẽ mang nón sắt lên đầu, mang ba lô lên vai, tay cầm súng tiến vào cánh rừng. Đạn pháo binh bắt đầu nổ từ phía sau chúng tôi. Những quả đạn 155 ly bay qua đầu chúng tôi và rớt về phía trước, nơi chúng tôi đang tiến đến.

— "Tiến đến đâu nhỉ?"

Tôi cũng chẳng biết,

— "Mặc kệ, đi tới đâu hay tới đó."

Khi mặt trời lên, chúng tôi đi băng qua vài căn nhà trống kế bên một góc rừng.

— "Không có ai ở cả. "

Anh Sơn nói:

— "Dân chúng họ sợ phe ta, họ sợ phe địch nên họ di tản đi hết rồi."

Đạn pháo binh ngừng nổ. Buổi sáng trở nên im lặng ngoại trừ những tiếng chân của khoảng 30 đôi giầy đang bước đi trên đất. Chúng tôi ra khỏi khu rừng này, leo qua một hàng rào kẽm gai và băng qua mấy thửa ruộng. Freddy Dieterich và tôi đi sau người dẫn đầu, chúng tôi ngó về phía sau và quay cảnh những người lính đang tiến tới. Mặt trời đã lên rồi, tôi nghĩ thầm, chắc không có chuyện gì sẽ xảy ra đâu. Ít ra mình cũng đã quay được cảnh các người lính đang bước đi.

Khi chúng tôi vừa tiến đến một bờ đê cao, có tiếng súng đại liên bắn ra từ phía bên kia con lạch nhỏ, cách chúng tôi chừng nửa dặm. Tiếng súng nổ vang lên càng lúc càng nhiều đến nỗi tôi nghe như một tiếng vang liên tục.

Trung Úy Sơn ra lệnh gì đó với lính của anh:

— "Phục kích!"

Anh nói với tôi:

— "Trung đội phía trước bị bao vây, họ cần tiếp viện."

Anh móc khẩu Colt .45 ra, vẫy về phía trước và xông lên. Những người lính của anh chạy theo, băng qua con lạch và tiến đến một cánh rừng khác. Anh Fred Dieterich và tôi vừa cố thâu cảnh những chiến sĩ anh dũng xông lên để đi cứu đồng đội, vừa cố thâu những tiếng súng nổ của trận chiến, và vừa cố chạy theo để khỏi bị bỏ rơi lại.

Khi chúng tôi tiến đến bìa rừng, các tiếng súng đã ngừng nổ ngoại trừ vài tiếng phát ra từ phía sâu trong rừng. Tôi thấy có vài xác người nằm, phần nhiều là xác của chiến sĩ Biệt Động Quân, nhưng cũng có hai xác mặc bộ đồ bà ba đen của Việt Cộng. Một xác Việt Cộng nằm kế bên một khẩu trung liên Browning. Còn xác Việt Cộng kia thì nằm kế bên một cây mã tấu.

Trung Úy Sơn ra lệnh lính anh dừng lại. Mỗi người móc ra một khăn tay và đeo lên cánh tay trái. Sơn đưa cho Fred và tôi mỗi người một khăn tay.

— "Để phe ta khỏi bắn nhầm lẫn nhau."

Anh giải thích:

— "Chúng ta tiến vào rừng chầm chậm thôi, các anh đi sau tôi."

Các người lính tỏa ra và theo lệnh của Sơn họ tiến vào rừng. Chúng tôi chầm chậm tiến vào được 200 mét, rồi 300 mét, mọi người chăm chú nhìn về phía trước, chuẩn bị đối phó với những cử động trước mặt. Tôi thấy thêm vài xác bạn. Tôi thấy một người lính Biệt Động Quân mặc dù đã bị thương nhưng không để ý đến vết thương của mình, anh đang băng bó cho bạn mình bị một vết thương nặng hơn ở ngực. Sơn ngừng lại hỏi anh vài câu và ra dấu cho mọi người tiếp tục tiến tới, bước những bước đi thận trọng và im lặng. Fred Dieterich thì thào nói với tôi,

— "Tình hình có vẻ ghê rợn nhỉ?"

Cuối cùng chúng tôi tiến đến một con đường đất dẫn đến một khoảng trống trong rừng. Ở giữa khoảng trống này là một căn miếu đổ nát và một căn nhà nhỏ mất nóc. Sơn ra dấu cho bốn người lính vào lục soát. Họ dùng báng súng đẩy tung cánh cửa miếu và xông vào, không có ai trong đó cả. Họ bao vây và xông vào căn nhà mất nóc, nhà trống. Mọi người tụ lại thành một hình vòng cung, chĩa súng và hướng ra, chăm chú nhìn về cánh rừng bao quanh mình phía trước. Không khí yên lặng một cách lạ thường.

Đột nhiên, súng nổ tứ tung. Cả cánh rừng đột nhiên như bừng sống lại. Chúng tôi bị bao vây tứ phía với những tiếng súng vang động khắp nơi. Tôi nhận ra rằng các tiếng súng này vang ra rất gần và nhắm vào chúng tôi. Tôi nhìn quanh tìm chỗ ẩn núp nhưng chẳng thấy có chỗ nào cả ngoại trừ một cái hố rất nông nằm giữa khu đất trống. Tôi và Fred nhào xuống cái hố này cùng một lượt. Tôi thấy nhiều bóng người trên các cành cây nổ súng về hướng chúng tôi. Anh Fred đưa máy quay phim lên, nhướng người về phía trước, chĩa máy quay phim về phía chúng và bấm máy như đang bắn trả lại.

— "Đừng làm vậy,"

Tôi la lên:

— "Cúi đầu xuống."

Fred Dieterich bình tĩnh trả lời:

— "Charlie ơi, tôi nghĩ chúng mình sắp đi rồi. Vì vậy chẳng thà tôi quay phim để mọi người thấy chuyện gì xảy ra cho chúng ta."

— "Mặc kệ,"

Tôi la lên:

— "Chưa phải lúc chúng ta đi đâu. Cúi xuống."

Vì tiến vào giải cứu trung đội đầu tiên bị phục kích, chúng tôi cũng bị phục kích luôn. Dù cúi xuống, tôi cũng nhìn được chung quanh và nhận thấy tình hình hơi nguy kịch. Nhiều người lính gục ngã quanh tôi trong đợt súng nổ đầu tiên, hoặc chết hoặc bị thương. Dù vậy, những quân nhân còn sống sót lại vẫn chống trả lại một cách anh dũng. Có người xông vào rừng, bắn trả lại cho đến khi anh bị trúng đạn và ngã gục.

Anh ngã xuống mà ngón tay vẫn ghìm chặt trên cò súng, nòng súng lúc đó đã chĩa lên trời và súng vẫn tiếp tục nhả đạn. Nhiều người tụ lại thành một vòng đai và đều đặn bắn trả lại. Trung Úy Sơn bị trúng một viên đạn ở cánh tay nhưng ông vẫn tiếp tục chỉ huy. Tôi thấy anh quỳ kế bên anh giữ máy truyền tin. Sơn thì đang quay điện cho máy chạy còn anh lính truyền tin thì đang gọi về bộ chỉ huy để kêu cứu viện. Fred Dieterich và tôi bò về phía họ và quay được cảnh này: Dù đạn bay tứ phía nhưng Sơn không đếm xỉa gì cả, anh bình tĩnh ngồi quay điện cho máy chạy. Nhưng vô ích, không có tiếng trả lời. Bộ chỉ huy ở xa tầm máy quá.

Đột nhiên người lính truyền tin này, một anh lính trẻ cỡ chừng 17 hay 18 tuổi gì đó, làm một hành động rất can đảm mà tôi chưa từng thấy. Chẳng nói gì, anh lục trong ba lô và lôi ra một cuộn dây điện. Anh nối một đầu dây điện vào cần ăng ten của máy truyền tin. Rồi anh chạy về phía một cây cao gần đó, vừa chạy vừa tháo cuộn dây điện ra. Miệng ngậm đầu dây kia, anh thoăn thoắt leo lên cây mặc kệ súng nổ tứ hướng nhắm vào anh. Anh cuốn đầu dây điện vào một cành cây, tuột xuống và chạy về chỗ cũ, chẳng hề hấn gì cả. Anh với tay quay máy liên tục, Trung Úy Sơn, nằm kế bên, nói vào máy và liên lạc được với bộ chỉ huy. Anh dùng bản đồ đọc cho bộ chỉ huy tọa độ của anh và trả máy lại cho anh lính truyền tin.

— "Cúi xuống!"

Anh nói với Fred và tôi:

— "Tình thế nguy ngập rồi. Họ sẽ gởi lính Nhảy Dù đến cứu viện."

Tiếng súng đã ngừng nổ. Tôi không thấy các bóng bọn Việt Cộng đâu nữa mặc dù vẫn còn nghe vài tiếng súng rời rạc phát ra từ trong rừng sâu. Tôi thấy hai người lính đang băng bó vết thương của Sơn và cả ba bò về phía những người bị thương khác để băng bó cho họ. Họ kéo những người lính bị thương nặng vào nằm kế bên bờ tường của căn miếu. Nhiều người đã tắt thở trong lúc chờ quân cứu viện đến.

Sơn đi tới đi lui, yểm trợ tinh thần những người bị thương nặng. Anh quỳ kế bên Fred và tôi và nói:

— "Chúng tôi gần hết đạn rồi, các anh nên biết vậy. Tôi không nghĩ chúng ta sẽ bị tấn công nữa, nhưng nếu chúng ta..."

Tự Do phải trả giá

Một tiếng súng vang lên từ phía sâu trong rừng. Viên đạn oan nghiệt đã trúng vào phía sau nón sắt của Sơn và trổ ra phía trước. Anh ngã chúi về phía tôi.

Vết đạn lúc xuyên vào trông nhỏ quá. Tôi ôm đầu anh vào ngực tôi. Tay tôi vơ vội những lá khô dưới đất, cố đắp vào vết thương của anh xem có cầm máu được không.

Tôi nhớ phát súng kết liễu đời Sơn là tiếng súng cuối cùng trong trận đánh ngày hôm ấy. Rồi lính Nhảy Dù đến cứu viện bằng xe cam nhông GMC nhà binh. Bọn Việt Cộng rút đi mang theo đồng bọn đã chết hay bị thương.

Chúng tôi rút về một trường học gần đó. Tôi thấy một tấm bảng nằm chơ vơ dưới đất. Tôi nhặt tấm bảng này lên và nhờ thông dịch. Tấm bảng này ghi là:

Không cung cấp gạo cho Việt Cộng.

Không cung cấp tin tức cho Việt Cộng.

Không cho Việt Cộng trú ẩn trong nhà.

Sở dĩ tấm bảng này nằm dưới đất vì tối hôm trước, bọn Việt Cộng đã lẻn vào và đập phá trường học này. Một đại tá Biệt Động Quân ghé đến trường bằng xe Jeep. Ông tập họp những người còn lại của Đại Đội 150 lại và nói với họ:

— "Đại Đội 150 thật anh dũng, các anh đã chống trả lại quân địch đông gấp năm lần các anh. Xin đừng nghĩ đến các đồng đội đã thiệt mạng. Các anh chiến đấu cho lý tưởng tự do và lý tưởng tự do sẽ chiến thắng.

Nhưng 19 người lính của đại đội không được nghe điều này. Họ đã bị thiệt mạng hôm đó. Trong số đó có hai sĩ quan, Trung Úy Sơn và vị chỉ huy của anh. Tôi đếm được ít nhất là 11 thương binh, hoặc hơn thế nữa.

Người đại tá này cử một chiếc xe bọc sắt chở Fred và tôi về Sài Gòn. Chúng tôi an toàn về lại thành phố khoảng một tiếng sau. Thành phố trông vẫn yên bình. Xe chúng tôi chạy dọc theo các con đường lớn. Xe cộ vẫn tấp nập quanh tôi. Các quán cà phê bên vỉa hè vẫn chật nức người ngồi.

Chúng tôi về đến khách sạn Majestic lúc màn đêm vừa buông xuống. Fred và tôi bước vào thang máy mang theo các dụng cụ quay phim. Mọi người nhìn chúng tôi như các con quái vật vì quần áo chúng tôi dính đầy bùn đất. Áo của tôi vẫn còn dính đầy máu của Trung Úy Sơn.

Tôi không thể nào quên được Trung Úy Sơn. Tôi luôn nhớ đến anh trong suốt cuộc chiến Việt Nam sau này.

Sau này, tôi có trở lại Việt Nam nhiều lần, đi về miền quê với nhiều toán quân, kỳ này là đi với các toán quân Hoa Kỳ, và được chứng kiến nhiều sự ngã gục của nhiều anh hùng trong trận địa. Với cuộc chiến tiếp tục tiếp diễn, và với con số tử vong của các quân nhân Hoa Kỳ càng ngày càng gia tăng, nhiều người tại Hoa Kỳ đã bảo rằng - những người trẻ Hoa Kỳ đã thiệt mạng một cách vô lý. Nhiều bạn tôi còn đồng ý với nhau cho rằng - đây là một cuộc chiến vô luân của "Đế Quốc Mỹ" chống lại "Người Dân Việt."

Tôi thì không nghĩ như vậy. Những người miền nam Việt Nam tôi đã từng gặp chẳng ham muốn chiến tranh gì cả. Họ chỉ muốn được để yên, được sống trong một cuộc sống thanh bình mà thôi. Họ bị xâm chiếm bởi một quân đội đến từ miền bắc, được gởi đến bởi một chính quyền mà họ quá chán ghét nên mới bỏ đi.

Chúng tôi muốn có một đất nước tự do.
Gia đình tôi không muốn chống Pháp, để rồi lại bị cai trị bởi Hồ Chí Minh.
Vì vậy chúng tôi vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Ông sẽ thấy trường hợp của tôi cũng là trường hợp của nhiều chiến sĩ Biệt Động Quân khác.

Tôi vẫn nghĩ đến Sơn, một người vì muốn có một nước Việt Nam được tự do nên anh vẫn tiếp tục chiến đấu, mặc dù anh đã từng chiến đấu để giành tự do cho Việt Nam rồi. Tôi vẫn nghĩ đến những người lính của Đại Đội 150, đến người lính ngã gục bên bìa rừng, ngón tay vẫn siết chặt trên cò súng, đến người lính truyền tin can đảm, miệng ngậm sợi dây điện leo lên cây, bất chấp những lằn đạn đang bắn về phía mình.

Tôi nghĩ, và tôi luôn nghĩ, lý tưởng yêu chuộng công lý và tự do vẫn luôn sống trong lòng của những người chiến binh anh dũng này. Tôi rất ghét khi sau này trở lại Việt Nam và nghe những người này bị gọi là "Gooks" bởi những người cùng xứ với tôi.

Những người còn sống sót lại sau cuộc chiến, mà đã là lính Biệt Động Quân thì còn có bao nhiêu người còn sống sót đâu? Thì hiện nay đang bị giam cầm ở các nơi gọi là "Trại Cải Tạo."

Một thành phố yêu kiều và từ tốn mang tên Sài Gòn nay đã bị đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh. Vết thương của cuộc chiến Việt Nam đang lành ở đất nước Hoa Kỳ này. Tại Hoa Kỳ này, nhiều người hiện nay không còn nhớ đến cuộc chiến Việt Nam, và nhiều người chẳng cần biết đến "Ý muốn của người Việt Nam." là gì.

Thỉnh thoảng khi có dịp ghé Washington DC tôi vẫn ghé thăm "Bức Tường Tưởng Nhớ Cuộc Chiến Việt Nam." Tôi lần đọc những tên được khắc trên bức tường đen này. Tôi nhớ đến họ. Lẽ dĩ nhiên tên của anh Sơn không có ở đây, nhưng tôi cũng nhớ về anh.

Tôi chỉ biết anh có một ngày. Tôi chẳng biết họ anh là gì.

(Bản dịch của Thiện Cao.)
Thiện Cao
4/25/2011

http://bdqvn.blogspot.com/2011/05/trung-uy-son.html

"...Những người miền nam Việt Nam tôi đã từng gặp chẳng ham muốn chiến tranh gì cả. Họ chỉ muốn được để yên, được sống trong một cuộc sống thanh bình mà thôi. Họ bị xâm chiếm bởi một quân đội đến từ miền bắc, được gởi đến bởi một chính quyền mà họ quá chán ghét nên mới bỏ đi."...

Charles Kuralt

A Life on the Road


 

Monday, September 5, 2016

huy hiệu Phi trường VNCH Cái học của thời trước 1975 VNCH

 

 2 photo huyhiu_1.jpg 1
 photo Huy hiu TVBQGVN.jpg

 

2
 photo 71635898-3afc-4f5d-a28b-7ca4c5453457.jpg

3
 photo TA515.jpg

4
Spring Flower Pictures, Images and Photos

5


6
 photo paper.jpg

7
 photo paper 2.jpg

 

Thy Th và Bin C

 

0000000000000000000000000

 

Cái học của thời trước 1975 VNCH

Cái học của thời trước 1975, chương trình Trung Học có ba cửa ải, muốn qua cửa ải nào cũng phải qua kỳ thi quốc gia:

- Bằng Trung Học (sau lớp 9 Đệ Tứ),
- Bằng Tú Tài I (sau lớp 11),
- Bằng Tú Tài II (sau lớp 12).

Đỗ kỳ thi viết còn phải thi vấn đáp mới thoát nạn, vì vậy không có chuyện may rủi được. Đó là lý do sinh viên Việt Nam qua Pháp qua Mỹ học lấy ăn.
Qua Mỹ, Pháp chỉ cần đưa ra cái bằng Tú Tài II là được ngay, khỏi cần thi SAT.

- Vì vậy thời VNCH, leo được vào Đại Học là oai lắm rồi, có bằng Cử Nhân thì là hàng hiếm, cử nhân Toán, cử nhân Vật Lý mỗi năm chỉ có 3-5% ra trường, vì vậy cái bằng VNCH sợ còn khó hơn học ở Mỹ nữa là đàng khác.

VNCH chỉ thua Mỹ ở trình độ Ph. D. mà thôi, vì VNCH không có research facility nên không thành lập chương trình Ph.D. tràn lan như nền giáo dục của VC.

- Bất cứ trình độ giáo dục nào của VNCH, qua Mỹ, Pháp đều học lấy ăn. Thời VNCH, sinh viên Việt Nam qua Mỹ du học graduate ở UC Berkeley đã gây ấn tượng tốt với các advisor. Họ nhà tôi có người là đệ tử ruột của professor Egor Popov ở UC.Berkeley. Ai học qua lớp Mechanics of Materials phải biết tới cuốn sách của Popov, một cuốn sách được gọi là bible/kinh điển của môn strength of Materials.

- Mấy ông già Tiến Sĩ của VC cũng chưa chắc bằng trình độ của một người đỗ Tú Tài II thời VNCH, lý do dễ hiểu thời trước năm 1975, chuơng trình tiểu học + trung học của Miền Bắc chỉ có 10 năm (VNCH 12 năm), học đủ 10 năm thì lên đại học, chẳng thi cử gì cả. Chỉ bao nhiêu đó thôi đủ chứng minh là các ông bà tiến sĩ của VC toàn là thứ dổm, dù có bằng tiến sĩ thiệt đi nữa.

PS. Nếu ai là sinh viên của chương trình VEF, đang học ở UCB, Univ of Illinois, University of Wisconsin, NYU cứ tìm hiểu những luận án cũ của sinh viên thời VNCH thì sẽ hiểu.

VC/Việt cộng sau khi cướp Miền Nam, đã gần 40 năm không làm đất nước tiến bộ được chỉ vì nền giáo dục dổm mà ra thôi.


Gần 40 năm qua đào tạo được ai tuơng đối có tiếng đâu? Đừng vơ Ngô Bảo Châu, và Đàm Thanh Sơn vào nhé, vì hai người này do Pháp, Nga đào tạo. Nhưng theo đánh giá, hai người này cũng vào loại trung bình thôi, chứ chẳng có gì gọi là xuất sắc cả, vì cả hai giáo sư này ra trường hơn 15 năm nay mà chẳng đào tạo được một Ph.D. nào vì không có được bài luận án nào, không viết được và không nộp được bài luận án.

Trong khi người của VNCH có vài người nổi tiếng cả thế giới như:

- Bùi Tường Phong (cha đẻ của môn Computer Graphic) Họa Đồ Điện Toán Học, cựu giáo sư ở Stanford Univ, đáng tiếc ông này chết non (32 tuổi).

- Dương Hồng Phong, đang làm giáo sư ở Columbia Univ (tốt nghiệp Ph.D. Toán năm 23 tuổi ở Princeton Univ), cho tới nay đã đào tạo tới mấy chục Ph.D.

- Đặng Đình Áng, có text book ở Graduate level, đang được bán ở Mỹ.

- Trịnh Xuân Thuận (khỏi kê khai , vì đang nổi tiếng)

- Hà Trần Trí (Tri T. Ha)(textbook về môn Digital Satellite Communications) đang dạy ở Naval Postgraduate School in California)

Còn hậu duệ VNCH thì khỏi nói khá nhiều, tôi chỉ nhớ có vài người như:Về sau này có tái tạo VNCH đi chăng nữa, cái tinh hoa, tinh túy bị mất đi rất nhiều. Vì miền bắc 80 năm cộng sản, miền nam 40 năm cộng sản, cái dầu nó bị hư đi nhiều lắm, ngay cả hậu duệ VNCH ở trong nước Việt Nam cũng bị nhiễm nặng lối suy nghĩ, cách phán đoán của vẹm.
Tiếc nuối vô bờ bến cho một thế hệ cực kỳ giỏi đã vĩnh viễn qua đi, sau này không còn có thể lập lại được nữa.

- Trần Duy Trác đang dạy ở Johns Hopkins, đào tạo được cả chục Ph.D.

- Nguyễn Quang Trường đang dạy ở UCSD.

- Clark Nguyễn đang dạy ở UC Berkeley.

---------------------------

Vài điều cho các bạn hiểu thêm vì các việc thực tế trong giới khoa học ở Mỹ.

Một full professor lương chừng 300 ngàn đô là cao, trung bình chỉ 150 ngàn. Các người làm academics chỉ có cái DANH, chứ về tiền bạc hay thoải mái tinh thần thì họ thua xa các khoa học gia làm riêng.

Về dạy học, một full professor Khoa Học họ còn thua xa các Adjunct Professors, vì các người này có kinh nghiệm thực tế, có quan hệ và giao thiệp rộng. Mỗi khi dạy học, luôn đem vào lớp các kinh nghiệm THỰC TẾ bên ngoài vào nên các sinh viên đều rất hứng thú.

Nhiều khoa học gia ra làm riêng, ít người biết tiếng tăm, nhưng họ rất giàu. Nhiều công ty làm cho họ không trả bằng đô la vì khoa học gia ra làm riêng này chỉ nhận trả bằng stocks.

Đừng tưởng ai đó có chức "Assistant Professor" hay "Full Professor" mà ham. Họ rất khổ tâm đấyvì các tay "pro" này mà không xuất bản công trình khoa học gì quan trọng thì sống không bằng chết, nếu họ còn biết danh dự, xấu hổ là gì.

________________ Học PhD ở Pháp rất khác ở Mỹ, Ở Mỹ rất nhiều cửa ải chứ không phải ai muốn học là học được, nhất là những trường có Graduate program nổi tiếng, ví dụ như những cửa ải phải có là:

- Điểm GPA của bốn năm học ở bậc undergraduate (bậc cử nhân). Muốn học Ph.D về ngành Engineering ở trường nổi tiếng như: MIT, Caltech, Stanford, UCBerkeley. Điểm phải có ít nhất là 3.7/4.0 trở lên.

- 3 lá thư giới thiệu của 3 ông thầy mà đã dạy mình ở bậc của nhân.

- Điểm GRE phải cao, thời tôi (mỗi thứ phải 725/800) còn bị MIT chê.

Muốn học toán ở những trường có program lừng danh như Princeton, Berkeley còn phải bị bắt buộc biết thêm hai trong ba ngoại ngữ: Pháp, Đức, Nga.

Những trường cũng nổi tiếng nhưng kém hơn thì sự đòi hỏi giảm đi ít hoặc nhiều. Ví dụ như trường của thằng con Ba Dũng học George Washington Univ, rất dễ vô, GPA chỉ cần 3.0 thì ok ngay.

- Khi vào được program Ph.D rồi thì chuyện được ông thầy đỡ đầu (adviser) thường rất quan trọng, thầy mà ghét thì từ chết đến bị thuơng.

- Bọn phái nữ học PhD cũng dễ hơn đám nam sinh viên, vì tâm lý chung các ông thầy thường hảo ngọt, được ông thầy giúp đỡ thì công việc học hành rất dễ thở. Chưa hẳn vì ổng có tính dê, nhưng tâm lý chung các cô cứ ỏn ẻn thì ông thầy thấy thương, không nỡ giết. (Có nên tin tài nghệ của các bà/cô Ph.D không.)

Chỉ của ải GPA thôi là không qua lọt rồi.
Nên nhớ, học 4 năm đầu ở một trường có tiếng, ví dụ như UCLA, được 3.0/4.0 cũng được gọi là sinh viên khá rồi.
Học ở UC Berkeley 4 năm đầu, mà kiếm được 3.5 thôi cũng được gọi là super rồi, ấy thế mà vẫn chưa chắc được lọt vào Ph.D program ở các trường top 5 (five) về Engineering (có vài sinh viên than thở như vậy), cuối cùng họ đành phải chọn những trường ngoài top 5, ngoài sự ao ước.

- Vì vậy các sinh viên VEF từ Việt Nam qua quả thật là may mắn hơn các sinh Việt Nam ở Mỹ nhiều.

Về sau này có tái tạo VNCH đi chăng nữa, cái tinh hoa, tinh túy bị mất đi rất nhiều. Vì miền bắc 80 năm cộng sản, miền nam 40 năm cộng sản, cái dầu nó bị hư đi nhiều lắm, Ngay cả hậu duệ VNCH ở trong nước Việt Nam cũng bị nhiễm nặng lối suy nghĩ và cách phán đoán của vẹm, như Vẹ.


Tiếc nuối vô bờ bến cho một thế hệ cực kỳ giỏi đã vĩnh viễn qua đi, sau này không còn có thể lập lại được nữa.

------------------------------

Các bạn hậu duệ VNCH ở Việt Nam ơi,
Các bạn hãy vào các đài You Tube nghe nhạc hải ngoại hát những bài nhạc trước 1975 nhé, nhạc Vàng đó, tập nghe cho quen tai, để hiểu những câu nói nhìều khi rất đơn giản nhưng ý cao, tình đẹp, và có khi bóng bảy cùng thâm thúy chứa trong đó. Những kỹ thuật hòa âm phối khí và nhạc thuật rất cao...

Hãy tìm đọc những tác phẩm trước 1975 như Dung Sài Gòn, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, những văn sĩ di cư thời 1954 khi họ chưa nhiễm chất cộng sản. Các bạn tìm đọc những nhà văn của Tự Lực Văn Đoàn nhé. Chúng tôi một thời đã phải học thuộc lòng những đoạn văn trong chuyện Hồn Bướm Mơ Tiên (đoạn tả ngôi chùa). Lúc đó không hiểu tại sao phải học thuộc lòng những bài văn xuôi, văn vần, và nhạc nữa (như bài hát Bạch Đằng Giang, Đêm Mê Linh)...

Thời ấy VNCH mang ba nguồn văn hóa: Việt, Pháp, Mỹ (có người biết cả tiếng Tàu chữ nho, đọc chuyện chữ Tàu Tam Quốc Chí nữa).

Các bạn trẻ hãy nghe cách nói chuyện của MC Nam Lộc và Nguyễn Ngọc Ngạn vì họ còn giữ được cách nói chuyện và dùng chữ của thời VNCH, tiếng Việt của họ rất vững (riêng Thúy Nga những cuốn DVD về sau này từ số 99, 100, 101, 102.... thì mang đầy tính cách Việt cộng, Thúy Nga bán cho nhà quản lý Việt cộng nên DVD chương trình có chứa thứ chất gì đó nghe rợn người (như giọng nói thé và nhanh Hà Lội từ những ca sĩ mới qua) trang sức nhảy nhót rẻ rúng, tục tĩu, toàn dùng chữ nghĩa Việt cộng).

Sau một năm làm những việc này (nghe nhạc và đọc sách trước 1975 và không cộng sản, các bạn nghe lại nhạc VC các bạn thấy ngay ra cái hay cái dở liền, và nhận ra chữ nghĩa của những báo lề phải của chúng ngay vì cách nói, cách dùng chữ, cách che đậy dối trá những sự kiện (giải phóng mặt bằng = cướp đất dân, công an gọi đi làm việc = công an gọi đi thẩm vấn, hoặc điều tra....). Họ có khuynh hướng dùng hình ảnh đao to búa lớn (các chuyện những tấm gương vượt khó để thành công) tỉ dụ như... từ một chú nhỏ 12 tuổi vào rừng cầm cây AK, nay trở thành thủ tướng.... Lối dùng chữ lộng ngôn (siêu, cực, khủng, choáng...).

Lúc đó bạn mới thấy được cái thanh nhã, nhẹ nhàng, nghe như có âm nhạc trong những đoạn văn trong những tác phẩm xưa của Tự Lực Văn Đoàn.

 

Nguồn: Học HÀNH tại Mỹ

http://thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=7672&page=1620

Một nền giáo dục muốn đào tạo được người tài, ngoài chuơng trình học có đẳng cấp ra, thì phải tạo ra nền giáo dục có môi trường có sự cạnh tranh, càng khốc liệt càng tốt. Thời VNCH, cụ TT Diệm đã lập ra chuơng trình đào tạo có đẳng cấp, thi cử cũng gọi là khó; Muốn trở thành một sinh viên không dễ phải qua 3 cửa ải: Bằng Trung Học đệ nhất cấp (lớp 9), bằng Tú Tài I (lớp 11) và bằng Tú Tài II (lớp 12). Ở trường công không nói làm gì, vì phải qua của ải thi tuyển ngay từ lớp 6, nên một học sinh được gọi là có khả năng, nên tỉ số đỗ xong Tú Tài II cao hơn là một học sinh trường tư (có tiền đóng học phí là học) nhưng thi thì cùng cửa ải (đề thi do bộ quốc gia giáo dục ra đề cho cả nước), cho nên tỉ số đỗ Tú Tài II có lẽ không tới 10%. Đa số gãy gánh giữa đường, trai thì đi Binh Nhì, Trung Sĩ, gái thì học nghề may vá, trở thành dân lao động. Vì vậy đỗ Tú Tài II, được trở thành một SV ĐH là người tuơng đối có trình độ văn hóa ở "mức độ coi được rồi". Ngay cả các văn sĩ, nhà báo, nghệ sĩ VN thời trước 1975 có mấy người có nỗi văn bằng Tú Tài II.

- Mới nhớ lại nên cũng muốn viết thêm vài điều để bạn đọc hiểu rõ hơn về trình độ học vấn của nhạc sĩ, ca sĩ thời VNCH:

Ca sĩ tôi chỉ biết có Thanh Lan (học chung với bà chị họ của tôi ở Marie Curie), ca sĩ Hoàng Oanh là có bằng Tú Tài II.
Nam ca sĩ đa số thi rớt, đa số đi lính tâm lý chiến với chức binh nhì, nhưng đa số xấu hổ nên vờ vịt chẳng dám khai ra (ca sĩ Duy Quang đi binh nhì Không Quân (lính kiếng) là một ví dụ). Nhạc sĩ Vũ Thành An, Từ Công Phụng cũng có học ĐH luật khoa, nhưng có lẽ cũng dở dang (chỉ ghi tên chứ chẳng đỗ được chứng chỉ nào). Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên là SV ĐH, nhưng cũng học lang thang (có nghĩa là một người nhờ có bằng Tú Tài II có quyền ghi danh từ ĐH này đến ĐH nọ); tốt nghiệp không nổi (ông đã tự khai trong một trang web tôi đọc được, một trong ít người có tính thành thật).

- Nhạc sĩ Cung Tiến (tên thật là Cung Thúc Tiến) có lẽ là người có trình độ học vấn cao nhất trong các nhạc sĩ ViệtNam thời trước 1975: Ông đã du học ở Úc về kinh tế (du học Cao Học kinh tế sau đó ở Anh, có bằng cấp MA hay không, không rõ lắm). Nhạc sĩ Cung Tiến cũng có chức vụ gì đó ở một bộ nào đó của VNCH. Không sống bằng nghề nhạc sĩ.

- Ca sĩ Trung Chỉnh, bác sĩ tốt nghiệp ĐH Y Khoa Sài Gòn (qua chuơng trình sinh viên Quân Y); Có lẽ không nên tính đến; Vì ông ta chỉ là ca sĩ amateur thôi. Vào được trường ĐH Y Khoa cũng phải qua cửa ải lớn, vài ngàn SV dự thi, trường Y Khoa chỉ tuyển chọn khoảng 200 SV thôi, như vậy cũng kể là người giỏi rồi. (Qua Mỹ sau 1975, ca sĩ Trung Chỉnh phải qua của ải là thi lại để được hành nghề ở Mỹ, như vậy chứng tỏ là một bác sĩ có khả năng thật sự).

Viết thêm: Ca sĩ Duy Trác (Khuất Duy Trác) cũng là luật sư (có bằng cấp hẵn hỏi) cũng chỉ ca ở Đài Phát Thanh mà thôi, không kiếm sống bằng nghề ca hát.

Bài viết này để độc giả thế hệ sau hiểu được rằng những người tương đối là có trình độ văn hóa cao do VNCH đào tạo đã rời khỏi thiên đường chó má của tụi VC từ lâu rồi. Chỉ những loại bất tài, thi rớt, bằng cấp tự xưng sạo ke mới ở lại với VC thôi như: Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Hữu Thái. Tôi đố hai tên này dám trưng ra bằng cấp thời VNCH cấp cho chúng.
- Tôi cũng đang tìm dữ liệu xem thằng già chó chết Hoàng Phủ Ngọc Tường có tốt nghiệp Đại Học Sư Pham Sài Gòn hay không.

Tôi có hỏi bố tôi hôm qua, nhưng bố tôi bảo không biết tiểu sử về tên già này. Ông Nội, ông ngoại tôi cả hai là nhà giáo có lẽ biết nhiều về chuyện thực hư này nhưng hai cụ đã quá vãng ở Mỹ từ 20 năm trước.

- Tôi cũng mới tìm được website của cựu SV trường ĐHSP Sài Gòn, nhưng không tìm thấy tên của lão này. Tôi mới viết email cho một cựu sinh viên ban Viêt Hán, gần với niên khóa lão này khai đã học, để hỏi xem có biết lão đại gian ác này không.

http://daihocsuphamsaigon.org/index... achcuusinhvien

Thì hỏi cho chắc ăn thôi, chứ quân gian trá thì dối trá đủ thứ kể cả chuyện học hành.

Nếu một sinh viên tốt nghiệp Tú Tài II hạng Bình đến hạng Ưu là có thể xin được học bổng du học hoặc Pháp hoặc Mỹ, và học trên cơ tụi Mỹ, có người tốt nghiệp PhD một cách dễ dàng.
Nền giáo dục VNCH có tầm cỡ, có đẳng cấp, vì vậy dân VNCH đang tiến bộ theo từng năm thì bọn man di mọi rợ, thất học Việt cộng mang súng đạn Nga, Tàu cướp chính quyền VNCH và đã làm người dân Việt Nam có trình trạng ngu dốt, gian dối như ngày nay.

Vì vậy con người của chính thể Việt cộng bây giờ và con người của VNCH khác trình độ, khác đẳng cấp.

Nền giáo dục Việt cộng thì chỉ chạy theo thành tích... mục tiêu là xóa nạn mù chữ. Khởi nguồn từ mô hình bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ, Việt cộng chúng nghĩ rằng xóa mù chữ thì có thể phổ cập tri thức đảng cấp/thứ xịn cho toàn dân chúng bằng phương pháp giảm sự cạnh tranh trong giáo dụ.

Tương ứng với Trung học đệ nhất cấp thì VC có Trung học cơ sở. Trước 2006 thì học sinh học hết lớp 9 phải thi để có bằng tốt nghiệp THCS nhưng do tỉ lệ đỗ Trung Học Cộng Sản (nhồi sọ chủ thuyết) của xứ Việt cộng là 99.99% + dân chúng kêu phí phạm tiền bạc cho 1 kỳ thi mà chỉ loại được 0.01% học sinh nên Việt cộng đã bãi bỏ kỳ thi này.

Bằng Tú tài Việt cộng thì cũng có tỉ lệ học sinh đậu cao gần bằng bằng tốt nghiệp Trung Học Cộng Sản. Thường con số này sẽ dao động trên 95%. Vậy nên ai cầm bằng Tú tài Việt cộng chỉ có thể bị bắt đi lính hoặc lao động chân tay.

Còn bằng Đại học (học đại) Việt cộng thì chán thôi rồi. Đến gần 1/4 số tín chỉ bắt buộc là dành cho việc tẩy não. Thầy cô, giảng viên dạy sinh viên cũng không có trình độ cao. Những sinh viên bị rớt lại lớp phần lớn là do... không chịu đến lớp. Nhiều trường đại học còn bị lạm phát điểm A nên phẩm chất sinh viên ra trường rất thấp.

Sau khi lật đổ Việt cộng xong chắc phải nhập cảng giáo viên nước ngoài về dạy lại cả chục triệu dân xứ này quá.

 

000000000000000000000000000000000000

 

CẮT GIẢM VIỆN TRỢ KHÔNG QUÂN



Những nhà hàng xóm có đất trống đã cất lên những dãy nhà lá tạm bợ, liền vách nhau, để cho vợ con của lính mướn cư ngụ.

sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973 và có hiệu lực vào 8 giờ sáng ngày 28-1-1973, mức quân viện của Hoa Kỳ dành cho VNCH bị giảm lần. Suốt trong những tháng đầu năm 1973, Bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH và Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (gọi tắt là DAO) đưa ra đề nghị số tiền quân viện là 1,600 triệu Mỹ kim. Tổng thống Nixon chuyển sang Quốc hội đề nghị này nhưng với con số sửa đổi là 1,474 triệu Mỹ kim, nhưng Tổng thống Nixon xin thêm 1 khoản 474 triệu đô phụ cho tài khóa 1974 để trang trải các khoản kinh phí về hành quân mở rộng và thay thế các quân cụ bị hư hỏng cùng với 266 triệu Mỹ kim khác để đắp vào khoản thâm hụt do tài khóa năm trước còn thiếu.

Khu căn cứ Biệt Động Quân này thì cứ vài tuần lễ lại có nghe một trận khóc la kinh khiếp mỗi khi có đoàn xe nhà binh GMC chở đầy lính hành quân trở về căn cứ sau những ngày đi đánh trận, và mang tin về ai chết ai sống.
Tháng Tư năm 1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử Đại tướng Cao Văn Viên với tư cách Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu sang Hoa Kỳ để vận động sự ủng hộ đề nghị viện trợ vừa nói. Các viên chức của bộ Quốc phòng Mỹ bày tỏ một lòng hậu thuẫn Đại tướng Viên nhưng Quốc hội Hoa Kỳ lại bác bỏ yêu cầu viện trợ phụ trội mà chỉ cho phép tối đa cho năm 1975 là 1 tỉ Mỹ kim và trong đó 700 triệu Mỹ kim sẽ bao gồm mọi phí khoản. Trong số này thì tiền chi tiêu cho hoạt động của cơ quan DAO chiếm hết 46 triệu đô.

*Mức cắt giảm của quân viện Hoa Kỳ đối với hoạt động của Không quân VNCH từ 1973-1975

Cắt giảm quân viện của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị VNCH, nhất là Không quân và Hải quân.
Sau đây là phần tổng lược về những khó khăn của Không quân VNCH do sự cắt giảm mức quân viện của Hoa Kỳ.

Nữ Thượng Sĩ Hồ Thị Quế bà không phải là lính nhưng cũng đi theo chồng đánh trận và chỉ huy giỏi, bà rất thương yêu, giúp đỡ vợ con của lính, cùng các chiến sĩ Biệt Động Quân của Tiểu Đoàn Cọp Đen 44 lừng danh vùng châu thổ Cần Thơ vào những năm 60.

Ông tôi bắt cha tôi làm rào ngăn cách với hàng xóm nguyên nhân là vì sau mấy ngày đầu tiên đi học về đến nhà thì ông tôi bắt gặp em trai tôi cứ lẩm bẩm một mình gì đó trong miệng. Ông cố ý nghe được, thì ra em tôi bắt chước tụi bạn trong lớp học lẩm bẩm hai tiếng chửi thế, vì hai tiếng này lạ lẫm mà em tôi chưa bao giờ nghe trong nhà. Ông sợ chúng tôi giao tiếp với các bạn xấu, bà tôi cải lại ông, vì tôi hay kể cho bà nghe về những bạn rất tốt ở trong khu gia binh như là con Thủy, con Phượng v. v... ba của tụi nó đều là lính Biệt Động Quân. Nhà nghèo lắm nhưng tụi nó học rất giỏi và tánh tình đàng hoàng.

Ông tôi bản tính mô phạm, mực thước không thích sự xô bồ của khu nhà bị ảnh hưởng của trại lính ồn áo, náo nhiệt, có cả rượu chè, cờ bạc, bắn nhau...

Không lâu sau ba của con Hương, con Thủy đều tử trận, mẹ nó dọn về quê đi mất, tôi thương và nhớ tụi bạn lắm nhưng chẳng bao giờ gặp nữa trong đời.

VML

Hai vợ chồng Thiếu Tá Lê Văn Dần và Thượng Sĩ Hồ Thị Quế.
19 Jun 1965 --- serves as a combat master sergeant under the command of her husband, Major Le Van Dan (rear, with glasses), in the crack 44th South Vietnamese Ranger Battalion. The unit has never lost a battle or a gun- to the Red Viet Cong Guerrillas. The major and his fighting wife have seven children. ---
Image by © Bettmann/CORBIS

Ở xóm nhà gần khu căn cứ Biệt Động Quân này thì cứ vài tuần lễ lại có nghe một trận khóc la kinh khiếp mỗi khi có đoàn xe nhà binh GMC chở đầy lính hành quân trở về căn cứ sau những ngày đi đánh trận, và mang tin về ai chết ai sống... Cho nên vợ con người chết trận kêu khóc thảm thương. Mỗi lần như vậy tôi còn nhớ có bà Thiếu Tá Dần đến thăm, an ủi mấy người có chồng chết. Bà đi tới đâu con nít, người lớn bu theo rần rần. Tôi nhớ tên bà Dần là vì bà rất nổi tiếng, nghe nói bà không phải là lính nhưng cũng đi theo đánh trận và chỉ huy giỏi nữa, và rất thương yêu, giúp đỡ vợ con của lính.

Dì tôi còn trẻ mở một cái quán café có nhạc. Dì đẹp lắm, nhiều lính đến uống café. Có mấy vị sĩ quan đeo đuổi dì, vậy mà cuối cùng dì lấy một người lính bình thường. Chú ấy lính Biệt Động Quân mà mặt mày hiền khô, những ngày không đi hành quân. Chú hay đến uống trà nói chuyện với bố tôi. Thỉnh thoảng sau này tôi thấy đôi lúc dì đóng cửa quán thì chú ngồi ôm đàn hát cho Dì và tôi nghe. Tôi thấy một bức tranh của Dì do chú vẽ rất đẹp treo trên tường. Dì tôi kể bạn của Chú nói với Dì rằng chú ở nhà hiền vậy nhưng ra trận chú đánh giặc rất là "chì", anh em ai cũng thương mến, nễ vì..

 photo N h tng Thng S H Th Qu.jpeg

Tấm thẻ bài

Sau đám cưới không lâu dì trở nên góa phụ, tôi cũng khóc với dì biết bao nhiêu nước mắt. Bên gia đình chồng thương, kêu dì dẫn con về Sài Gòn sinh sống. Rồi ông tôi mất, bố tôi bán cả nhà và khu vườn, dời về thành phố cư ngụ cho tiện lợi gần nơi bố làm việc và cũng là lúc tôi vào lớp Đệ Thất.

Ngày nghỉ tôi rủ chúng bạn đạp xe lên Bình Thủy về thăm xóm cũ, thì thấy vắng tênh vì nghe nói lính Biệt Động Quân đã đổi đi hết về miền Trung. Bản tính con gái tôi không thích mấy ông lính trông dữ dằn quá, nhưng bây giờ vắng bóng họ tự dưng tôi thấy một nỗi buồn mênh mang!..

VML

Biệt Động Quân chiến sĩ của RỪNG NÚI SÌNH LẦY

Thời gian trôi, tôi vào sư phạm Vĩnh long với ước mơ đơn sơ trở thành cô giáo. Tại đây tôi quen với Thự, anh lớn hơn tôi, học trước tôi, vì cùng quê Cần Thơ nên anh dễ dàng thân thiết với tôi. Thự cao ráo, đẹp trai, lưu loát, bay bướm.. với vóc dáng của một nghệ sĩ hơn là nhà mô phạm, nhưng trông có vẻ yếu đuối, nếu không nói là có tướng yểu mệnh! Tôi biết Thự yêu tôi, nhưng chẳng biết sao tôi rất quý mến Thự mà tình yêu thì chưa thấy đến, và có lúc tôi thấy Thự thiếu cái nét, cái chất hùng mạnh của những người lính, dẫu rằng tôi không thích lính, con gái mâu thuẫn như vậy, và nhớ đến những đau khổ của dì tôi. Tôi bỗng sợ yêu phải anh lính hào hoa nào đó như dì!

Thự hay đem đến cho tôi xem những bức thư của một người bạn rất thân thiết với anh từ thuở bé. Anh ấy đang thụ huấn ở quân trường Sĩ Quan Đại Học Chiến Tranh Chính trị Đà lạt. Thự nói rằng thể chất anh yếu đuối, anh muôn trở thành thầy giáo mang văn hóa về quê hương đen tối của anh. Còn bạn anh thì ôm mộng chinh nhân ngang dọc chiến trường... Nhìn những tấm ảnh một thanh niên rắn rỏi, hiên ngang và những bức thư bạn của Thự kể về những khổ nhọc ở quân trường Đà Lạt và những bài thơ hào khí của "người ấy", quả là xấu hổ cho tôi khi thú thật với lòng rằng nó đã làm tôi bâng khuâng với một hình bóng mà tôi không hề quen biết! Thự không hề biết là anh yêu tôi, nhưng đã "dại dột" đưa tôi rời xa anh hơn...

Bạc Màu Áo Trận – Trường Vũ
http://www.youtube.com/v/JE7tHk9AAZw

Những ngày gần kề 30/4/75 thư của bạn Thự gửi về liên tục kể lại những chuyển biến quân sự đen tối ở miền Trung và có những lời lẽ như trối trăn với Thự nhờ chăm sóc cho mẹ anh, nếu như anh có mệnh hệ nào trên chiến trường.

Không dưng lúc đó tôi lại tự hứa với lòng là sẽ làm công việc ấy cho anh. Con gái "yêu" thì lạ quá nhỉ! Mắc cỡ ghê, dẫu không ai biết!

Chiến sự sôi động tới Sài Gòn. Các trường học miền Tây đều đóng cửa, trường sư phạm Vĩnh Long cùng chung số phận. Thự và tôi thu xếp hành trang về quê. Tôi còn nấn ná lại cùng đi thăm nhà một số bạn bè tại Vĩnh Long, vì chúng tôi e rằng tạm đóng cửa lần này sẽ là vĩnh viễn, khó còn cơ hội đến chơi với nhau. Thật là bàng hoàng khi sau đó tôi nghe được tin khủng khiếp rằng chuyến xe đò từ Vĩnh Long về Cần thơ đã bị tai nạn dọc đường, đâm đầu xuống con sông và Thự đã chết!

Những người vợ lính, trong khu gia binh đôi khi cũng tham dự chiến trường nhưng không có cấp bậc, không có tiền lương.
Vốn là dân sinh ra, lớn lên trên sông rạch anh bơi lội rất giỏi. Khi xe bị tai nạn các nhân chứng thuật lại đã chính mắt nhìn thấy anh lặn hụp để cố gắng kéo những hành khách khác ra khỏi chiếc xe, nhưng theo sự đồ đoán của nhiều người thì cho rằng chính vì những nạn nhân không biết lội trong lúc quá hốt hoảng đã bấu víu vào anh quá sức khiến anh chìm lĩm.. Tôi đau đớn vô cùng trước sự trớ trêu của số mệnh. Ngày tang lễ của anh, không hiểu trước đây anh đã nói những gì với gia đình về tôi mà mọi người đều tỏ ra quý mến tôi vô hạn giống như một "con dâu" của gia đình. Tôi cũng lẳng lặng chấp nhận tình cảm ấy như một lời tạ lỗi của tôi đến linh hồn Thự khi tôi đã hờ hững trước tình yêu của anh. Tôi tiếp tục thăm viếng gia đình Thự như sự an ủi cho gia đình anh. Cái chết của Thự đã làm cho tôi có nhiều biến chuyển lớn trong tâm hồn.

Những khu gia binh, nơi mà biết bao người phụ nữ Việt Nam đã gắn bó đời mình với cuộc đời của những chàng trai chiến sĩ, chỉ mong một ngày quê hương được thanh bình, vợ chồng sẽ về khu vườn xưa, cày sâu cuốc bẩm... à ơi! tiếng hát ru con.
Rồi ngày 30/4/75 đổ ập đến với những biến động kinh hoàng trong đời người. Tôi và gia đình dời đi nơi khác. Cho đến một hôm có một người khách lạ đến nhà hỏi thăm tôi. Anh chàng trông mặt rất quen, dáng dấp phong sương gió bụi, nhưng tôi phải định thần khá lâu mới chợt nhớ lại đó chính là người Sinh viên sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, là người bạn của Thự mà tôi đã thường nhìn thấy trong ảnh trước kia Thự hay đưa cho tôi xem. Bỗng dưng hai má tôi đỏ bừng hổ thẹn tưởng chừng như người đang đứng trước mặt kia thấy rõ cả những cảm tình thầm lặng trong lòng mình.

Anh đã trở về bình an sau cơn lửa đạn, tìm đến thăm Thự và đau buồn biết tin Thự mất. Gia đình Thự chỉ cho anh tìm đến tôi thì sẽ biết nhiều kỷ niệm về Thự. Đó là lý do mà anh đến nhà tôi. Anh xúc động khi biết tôi còn giữ những thư từ hình ảnh của anh gửi về cho Thự và các bạn cũng thừa thông minh để hiểu rằng sau đó thì tình yêu của chúng tôi đã bùng cháy dữ dội như thế nào, trong lúc đất nước ngã nghiêng, biến loạn sau khi cộng sản chiếm chính quyền miền Nam.

 photo biet-dong-quan-sat.jpg

Đoàn lính Biệt Động Quân VNCH và đồng minh Hoa Kỳ đanh hành quân.

Tôi kể với anh, tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh của những người lính Thiết Giáp, lính Sư Đoàn 9, Sư Đoàn 21 Bộ Binh trong những ngày kề cận cuối cùng cuộc chiến họ vẫn chiến đấu anh dũng, tôi gặp họ đóng quân dài theo quốc lộ Vĩnh Long về Cần Thơ, trên ba lô thỉnh thoảng có treo cả những nồi niêu soong chảo, hình ảnh gợi nhớ về những trại gia binh, về những nỗi khổ nhọc của người chiến binh VNCH. Và người yêu của tôi còn vạch ra cho tôi biết thêm đó chính là nét rất bình thường mà hết sức NHÂN BẢN của người lính QUỐC GIA. Họ mang theo trên vai trách nhiệm với TỔ QUỐC mà hình ảnh đơn sơ nhất là vợ con và những khu gia binh. Không ai trong họ muốn cầm vũ khí nếu không có sự xâm lăng từ những con người vô thần, vô gia đình, vô tôn giáo... và tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc.


Những khu gia binh mà đã bị cộng sản pháo kích bừa bãi vào đó để cố ý làm hỗn loạn tinh thần của những người lính VNCH vốn đặt nặng tinh thần yêu thương gia đình. Một căn cứ quân sự có thể chịu đựng trăm ngàn đạn pháo, nhưng một khu gia binh bị pháo kích thì rung động tinh thần chiến sĩ gấp trăm nghìn lần.


Tôi bỗng như cảm thấy có lỗi khi lúc còn bé với những ý nghĩ không mấy đẹp về những khu gia binh trước kia, khi tôi chợt nhận ra rằng những khu gia binh ấy có sự liên hệ với sự an lành của toàn thể miền Nam trong bao nhiêu năm qua. Cũng như trước kia tôi khá vô tình, không hề thấy có sự liên hệ giữa những cái chết của người lính với sự an lành của tôi khi được tung tăng đến trường. Những khu gia binh mà đã bị cộng sản pháo kích bừa bãi vào đó để cố ý làm hỗn loạn tinh thần của những người lính VNCH vốn đặt nặng tinh thần yêu thương gia đình. Một căn cứ quân sự có thể chịu đựng trăm ngàn đạn pháo, nhưng một khu gia binh bị pháo kích thì rung động tinh thần chiến sĩ gấp trăm nghìn lần. Và chỉ có những kẻ bất nhân nhất như cộng sản thì mới không từ nan thực hiện điều tồi tệ đó.

Những khu gia binh, nơi mà biết bao người phụ nữ Việt Nam đã gắn bó đời mình với cuộc đời của những chàng trai chiến sĩ, chỉ mong một ngày quê hương được thanh bình, vợ chồng sẽ về khu vườn xưa, cày sâu cuốc bẩm... à ơi! tiếng hát ru con... nhưng ngày ấy đã không bao giờ đến.

Khi Việt cộng tràn vào thành phố biết bao gia đình sinh sống trong các khu gia binh, nhất là các Làng Phế Binh đã bị những kẻ chiến thắng cướp đoạt, đuổi xô ra khỏi nhà, đày ải đi các vùng kinh tế mới...

Hội viên trại gia binh hải ngoại
Tôi may mắn cùng chồng trốn thoát khỏi hỏa ngục CSVN. Nơi xứ người tôi lại nhớ về những khu gia binh, dù tôi chưa một lần sinh sống nơi đó. Và thưa các bạn tôi càng thêm yêu thương chồng tôi, anh ấy không còn là sĩ quan Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, nhưng trong mọi mặt của đời sống anh vẫn mang tính cách của người lính VNCH đầy nhân bản, đã được đào tạo từ ngôi trường nổi tiếng của miền Nam: Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.

Người lính NHÂN BẢN VNCH ấy tiếp tục mang trên vai "khu gia binh". Đó là tôi và các con tôi. Xin cảm ơn những người lính VNCH! đã và đang tiếp tục mang trên vai, những "khu gia binh" của Tổ Quốc Việt Nam.

Bích Hoa
(nàng dâu NT6 Trương Hồng Sơn) Wichita.

http://tdhctct.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1519:khu-gia-binh-&catid=84:th&Itemid=159

 

Friday, September 2, 2016

Chiến Sĩ Áo-Đen

Chiến Sĩ Áo-Đen
Phần 1




Nhân Dân Tự Vệ VNCH - Nghĩa Quân - Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn

 

 

 



Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Hành Khúc


Nhạc: Cục chính huấn


Vì đất nước ta quên mình,
Vì nhân dân ta hy sinh,
Cùng nhau tay nắm tay lên đường.

Mau quay về nông lâm,
Vui ra đi trong niềm tin mới,
Xây quê hương dù bằng xương máu,
Quyết chiến đấu!

Bao mến yêu non sông kiêu hùng,
Ta chống quân xâm lăng hồn quật cường,
Cùng tài trai bốn phương.

Cùng về đây, hãy quên mình,
Nào cùng đi, anh em ơi!
Cùng đi ta phá tan đau buồn...

Nông dân đang mong chờ tay ta,
Đem sức trai bảo vệ sông núi,
Cho nhân dân tràn niềm vui sống,
Non nước tin yêu.

Non nước ta mai đây hòa bình,
Dân nước ta mai đây yên bình,
Đưa Việt Nam vinh quang.



 photo T242_hh_qlvnch_XayDungNongThon_000_242x242_zpsak6ejjzz.png

 

 

 


Những người chiến sĩ áo đen trong trận đánh An Lộc - Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

 

Video clip of Republic of Vietnam People's Self Defense Force female personnel receiving firearms training, August 10, 1968, Associated Press.

Nữ Nhân Dân Tự Vệ VNCH trong buổi huấn luyện

 

 

 

Khóa Huấn Luyện Điều Chỉnh Tác Xạ của Nhân Dân Tự Vệ Tây Ninh ngày 12/1/1974

 

 

Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn họp mặt, Vũng Tàu 1969  photo 25640606204_3c54da055c_o_zpsgfrsyrgf.jpg

 

Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn


Từ Quốc Sách Ấp Chiến Lược đến Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn

 

Khi thành lập công cụ xâm lược mang tên Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTGPMN) vào tháng 12 năm 1960. Cộng Sản Hà Nội quyết tâm thực hiện giai đoạn khởi đầu trong sách lược thôn tính miền Nam qua mặt trận du kích chiến, trọng tâm của mặt trận này là “lấy nông thôn bao vây thành thị” nói cách khác là chúng muốn kiểm soát địa bàn nông thôn, tranh thủ nhân tâm người dân nông thôn để lợi dụng lòng yêu nước của họ ngõ hầu buộc họ phải cộng tác, nuôi dưỡng, che chở cho du kích quân cộng sản. Kế tiếp là chúng sẽ dùng nông thôn làm bàn đạp để tấn công, tiến chiếm các thành phố để cướp chính quyền. Thoạt tiên kế hoạch xâm lược miền Nam của cộng sản Hà Nội là như vậy, chúng mong muốn thôn tính miền Nam chỉ cần sử dụng mặt trận du kích chiến mà thôi, không cần sử dụng đến các mặt trận khác như 'trận địa chiến' hay 'vận động chiến' v. v...

Nắm vững được sách lược của địch. Mùa Xuân năm 1962, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược, đây quả là một đối sách đúng đắn và vô cùng lợi hại của chính quyền lúc bấy giờ, việc thi hành đối sách này đã làm cho từ bọn đầu sỏ chóp bu ở Hà Nội đến bọn công cụ tay sai MTGP ở miền Nam phải điêu đứng, hoang mang. Bởi vì mục tiêu căn bản của Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt.

Tất cả các Ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố bao quanh, các cổng chính ra vào được canh gác đúng mức tùy theo địa thế, mỗi Ấp đều có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, ban ngày người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ mặt muốn vào Ấp phải qua thủ tục kiểm soát chặt chẽ, ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại, tuy nhiên các trường hợp cấp thiết của dân chúng vẫn được giải quyết. Ngoài ra, các Ấp Chiến Lược đều có thiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp vào Ấp. Việc điều hành Ấp do một Ban Trị Sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng Vệ Dân Sự phối hợp với các đơn vị Thanh Niên, Thanh Nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách. Ấp Chiến Lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển.

Quốc Sách Ấp Chiến Lược thực hiện rất hiệu quả công việc tát nước để bắt cá, mặt trận du kích chiến của cộng sản bị ngưng trệ, du kích quân và hạ tầng cơ sở của chúng gần như không chốn dung thân, chủ trương bám dựa vào người dân bị bẻ gãy từ trứng nước. Tóm lại, Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà thăng tiến và tỏ ra hữu hiệu thì bất ngờ bị hủy bỏ bởi chính những người có quyền cao chức trọng trong chính thể VNCH. Thật đáng tiếc vô cùng!

Đầu năm 1965, nhận thấy sai lầm tai hại của quyết định hủy bỏ Quốc Sách Ấp Chiến Lược, trước hiện trạng nông thôn hoàn toàn bị bỏ ngõ, tạo điều kiện thuận lợi cho du kích quân cộng sản hoạt động và phát triển cơ sở hạ tầng. Chính phủ Phan Huy Quát đã thành lập chương trình Ấp Tân Sinh đồng thời tạo một đội ngũ Cán Bộ để thực thi chương trình này. Tiếc thay lúc này tình hình an ninh tại các Ấp đã trở nên tồi tệ, việc phối trí Cán Bộ Ấp Tân Sinh đến các Ấp đã gặp khó khăn, trở ngại đủ điều. Anh chị em phải hoạt động trong điều kiện không được bảo đảm an ninh, thiếu sự hợp tác cần thiết của chính quyền địa phương cũng như các đơn vị cơ quan bạn. Rất nhiều Ấp chỉ có một Cán Bộ lẻ loi trước một khối công việc nặng nề, không kham nổi. Tóm lại với tình trạng vừa nêu trên, chương trình Ấp Tân Sinh không hiệu quả cũng là điều dễ hiểu.

Trước tình hình khẩn trương của đất nước nói chung và của nông thôn miền Nam Việt Nam nói riêng. Mùa Xuân năm 1966, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Nội Các Chiến Tranh quyết định thiết lập Chương Trình XÂY DỰNG NÔNG THÔN, người trực tiếp phụ trách thực hiện Chương Trình này tại trung ương là Thiếu Tướng Nguyễn Đức Thắng, Tổng Ủy Viên Xây Dựng kiêm Tổng Thư ký Hội Đồng Xây Dựng Nông Thôn Trung Ương.

Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn có nội dung gồm: bốn Tư Tưởng Chỉ Đạo, năm Kỷ Thuật Phát Triển, 11 Mục Tiêu và 98 Công Tác (năm 1968 rút gọn còn 36 Công Tác), được thực hiện qua 12 giai đoạn, còn gọi là 12 bước Công tác. Trọng tâm của Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn là xây dựng thành công các ẤP ĐỜI MỚI để biến Đời Cũ Tối Tâm thành Đời Mới Sáng Sủa cho nông thôn trong tinh thần tự túc, tự cường và tự vệ, thời gian cần thiết để xây dựng trở thành một ẤP ĐỜI MỚI là sáu tháng. Thời điểm bây giờ trên toàn lãnh thổ VNCH có trên 12 ngàn Ấp và được phân loại thành năm hạng từ A đến E, trên toàn quốc có khoảng 700 Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn 59 người. Do đó, công việc phối trí các Đoàn 59 CB/XDNT được thực hiện như sau:

*Ưu tiên 1: các Ấp loại E, D
*Ưu tiên 2: các Ấp loại C, B
*Ưu tiên 3: các Ấp loại A.

Trong 11 mục tiêu xây dựng ẤP ĐỜI MỚI thì Mục tiệu 1: Tận diệt cộng sản nằm vùng và Mục tiêu 4: Đoàn ngũ hóa nhân dân, mà then chốt là thành lập Ấp Đội Dân Quân Tự Vệ, được xem là hai mục tiêu quan trọng hàng đầu. Từ sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã áp dụng Mục Tiêu 4 này làm căn bản cho chương trình Nhân Dân Tự Vệ.

Bên cạnh các Hội Đồng XDNT Tỉnh, Quận mà các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng làm Chủ Tịch là các Tỉnh Đoàn, Liên Đoàn CB/XDNT (từ 1971 đổi thành Quận Đoàn). Là thành phần nồng cốt để thực hiện Chương Trình XDNT nên người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn được huấn luyện và đào tạo tương đối tốt để có khả năng hoàn thành nhiệm vụ... Ngoại trừ số Cán Bộ cải tuyển từ các ngành mà môi trường hoạt động là địa bàn nông thôn, tất cả Cán Bộ tân tuyển điều phải trải qua bốn tuần thử thách tại một trong số những Đoàn Cán Bộ thuộc Tỉnh, sau đó đến Vũng Tàu để thụ huấn khóa sơ cấp tại Trung Tâm Huấn Luyện CB/XDNT Trung Ương trong ba tháng, trong đó sáu tuần đầu được huấn luyện về căn bản quân sự, sáu tuần cuối được học tập về chính trị, trong 12 tuần thụ huấn này là những bài học về chuyên môn.

Sau khi tốt nghiệp và trở về đơn vị Tỉnh, các tân Cán Bộ phải dự một tuần huấn luyện bổ túc, thường được tổ chức tại trung tâm tu nghiệp công chức Tỉnh, do đại diện các Ty, Sở, Phòng có liên quan đến Chương Trình XDNT hướng dẫn trước khi được điều động đến công tác tại các Đoàn CB/XDNT trong Tỉnh.

Chương Trình XDNT là một đối sách lợi hại đã làm cho bọn đầu sỏ cộng sản ở Hà Nội và bọn tay sai của chúng ở miền Nam (MTGPMN) phải rúng động và căm hận tột cùng. Đầu năm 1967, Trung ương cục miền Nam (Cục R) đã ra một nghị quyết trong đó chỉ thị các đội võ trang công tác chính trị (du kích quân), các đơn vị cơ động Tỉnh và các đơn vị chủ lực Miền hãy tập trung nổ lực Tìm Diệt các “Đoàn Bình Định ác ôn” đồng thời chúng đề ra khẩu hiệu: “Diệt một tên Bình Định ác ôn bằng tiêu diệt ba tên giặc Mỹ xâm lược”.

Mặc dù tồn tại một số hạn chế và thiếu sót không tránh được. Tuy nhiên nhìn tổng thể từ nhiều góc cạnh, điển hình nhất là bộ mặt nông thôn VNCH vào đầu năm 1975 so sánh với đầu năm 1966 đã hoàn toàn thay đổi, trong đó sự thay đổi rõ nét nhất là về lãnh vực an ninh và lãnh vực phát triển. Do đó, có thể kết luận Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn tương đối thành công, đồng thời người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn cũng cảm thấy hãnh diện vì đã đóng góp công lao cùng xương máu cho sự nghiệp thiêng liêng của toàn dân, toàn quân ta là chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ miền Nam thân yêu trong nhiều năm dài miệt mài, gian lao nhưng đầy nghĩa khí.

Trần An Phương Nam
Gia Đình CB/XDNT Bắc Cali



 

 



Nông Thôn Quật Khởi


Đã bao năm nông thôn ta đau khổ vô cùng,
Đã bao năm mang trên vai hai kẻ thù chung.
Bọn cường hào ác bá,
Nó dùng bạo quyền áp bức,
Làm người dân lầm than sống trong âm thầm.

Bọn cộng sản nằm vùng,
Nó khủng bố người dân lành,
Làm thôn làng kinh hoàng,
dân làng đời sống gian nan.

Quyết không dung quân gian tham quân giặc vô thần!
Quyết nung sôi trong tim gan uất hận thù chung!

Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Ta quyết tâm xây dựng nông thôn.

Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Dân với anh cán bộ lên đường.

Cùng tận diệt lũ giặc hại dân,
Cùng rào làng xây ấp dựng thôn,
Cùng tạo lập nên đời sống mới vẻ vang.

Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Ta quyết tâm xây dựng nông thôn.

Nào vùng lên!
Nào vùng lên!
Ta bước trên tiến bộ huy hoàng.

Ruộng đồng vàng cho gạo đầy sân,
Trường học làng vui đám trẻ con,
Ngày hòa bình tin rằng sẽ hết lầm than.

Cán bộ với dân tuy hai là một,
Cán bộ với dân trong một thành hai.
Dân tin yêu mến thương cán bộ,
Vui bên nhau góp phần tranh đấu,
Cùng đắp xây Việt Nam.


 photo T242_hh_qlvnch_XayDungNongThon_000_242x242_zpsak6ejjzz.png

*

 

 



Ban Chính Huấn

 



Nhân Dân Tự Vệ Hành Khúc

Từng khu phố đứng lên!
Từng thôn ấp vùng lên!
Canh gác đêm ngày,
Đừng cho phiến cộng về đây.

Từ cháu nhỏ còn xanh màu mắt,
Đến mẹ quê mái tóc bạc phơ,
Góp công hăng say giữ yên quê nhà,

Từ những nàng mùa xuân vừa chớm, Đến cậu trai nhựa sống trào dâng,
Quyết tâm người người chống lũ xâm lăng!

Nhân Dân Tự Vệ vang lên lời thề:
- Không để quân thù tàn phá quê nhà ta...






 photo chin s aacuteo en_zps7bcmenmh.jpg
Nhân Dân Tự Vệ với kiểu nón Django


 photo My tho 1968 - 3 cowboy Vietnam_zpsccxdqhmt.jpg
Nhân Dân Tự Vệ tại Mỹ Tho năm 1968


 





||| Người Lính Không Số Quân




Tiếng điện thoại reo lúc 10 giờ tối. Tôi đang lim dim, chợt bừng tỉnh ngồi dậy bắt điện thoại:

— A-lô, xin lỗi ai đầu dây?

Tiếng người bên kia đầu dây:

— Dạ, em đây! Anh còn nhớ em không?

Tôi ngập ngừng vì chưa nhận ra người gọi:

— Em là ai mà gọi anh giờ này?

Tiếng cười lanh lãnh bên kia đầu dây:

— Dạ, em là Bình đây, Bình “Nhân Dân Tự Vệ” ở ấp Phú Cường đó. Anh nhớ chưa?

Tôi ồ lên một tiếng vì hình ảnh cậu “Nhân Dân Tự Vệ” tên Bình ngày xưa hiện rõ mồn một trước mặt. Không giấu vẻ ngạc nhiên, tôi hỏi:

— Ủa Bình! Em đang ở đâu mà sao biết số điện thoại anh?

Trong câu chuyện trao đổi với Bình, cậu NDTV gợi lại trong tôi bao kỷ niệm u hoài ray rức mà cho đến bây giờ, sau bao thăng trầm vẫn còn dằn vặt.

Lúc ấy, cậu bé Bình mới độ tuổi 15 nhưng có vóc dáng to cao như một chàng thanh niên cường tráng. Tình hình chiến sự leo thang, cấp độ phòng thủ an ninh xã ấp rất là nghiêm ngặt. Bọn du kích Việt cộng đột nhập về thôn xóm thường xuyên. Cậu bé Bình đã thân lên tận Quận xin được vào gặp tôi. Lý do là cậu ta xin tình nguyện nhận khẩu Trung Liên BAR, vũ khí liên thanh cả trung Đội NDTV chỉ có một khẩu. Tôi ngập ngừng suy nghĩ vì Bình chưa đủ tuổi để được cấp phát loại vũ khí này. Với vai trò Chỉ Huy Trưởng NDTV, tôi giải thích với Bình loại vũ khí này có tầm sát hại nhanh, tôi ngại là em xử dụng không cẩn trọng có thể đưa đến cái chết cho rất nhiều dân thường.

Đêm nào có Việt cộng về ấp, nơi nào có tiếng súng nổ, là Bình có mặt

Bình vừa khóc vừa kể lể về cái chết bi thương của cha cậu là một Xã Trưởng bị Việt cộng sát hại. Tiếng khóc của Bình khiến tôi não lòng xao xuyến, bồi hồi nhớ lại một kỷ niệm đau lòng mà trong đó tôi là người có dự phần trách nhiệm.

Ông Xã Trưởng Hòa cha của Bình là một cán bộ xã ấp ưu tú, có thành tích xuất sắc ngăn chận du kích Việt đột nhập vào đốt phá sập trụ sở xã ấp. Tình hình an ninh ở xã của ông đặt trong tình trạng báo động đỏ. Trước ông, đã có hai ông xã trưởng và một ấp trưởng bị Việt cộng sát hại thế nên ngoài ông ra không có cán bộ nào dám nhận lãnh vai trò xã trưởng. Là một xã trưởng có tinh thần chống Cộng cao độ, ông Hòa có sáng kiến “Dĩ độc trị độc”. Cứ đêm đến, ông cho tập trung những thân nhân của bọn Việt cộng thoát ly vào ngủ trong trụ sở xã ấp rồi rào lại bên ngoài. Kể từ đó, bọn du kích Việt cộng không dám mò về đặt chất nổ giựt sập trụ sở xã ấp nữa. Những lần “mũi công tác Việt cộng cơ sở” mò về xóm đều bị toán NDTV do ông chỉ huy chặn đánh phải rút lui bỏ lại vài ba xác chết. Chịu nhiều thiệt hại và không hoạt động được, Việt cộng đã rãi truyền đơn lên “Án Tử Hình” ông xã trưởng Hòa.



Lúc này, nhận chức hành xử quyền chỉ huy tôi phải tự mình quyết định mà không có vị thầy bên cạnh để tham vấn khi gặp khó khăn. Lúc bấy giờ tôi mới thấy thực tế trường đời có những điều khó khăn phức tạp mà mái trường Hành Chánh không cung cấp đủ hành trang để tôi có thể ứng phó với thực tế.

Trước đe dọa cho an nguy bản thân, ông Xã Hòa đã lên Quận gặp tôi xin phép được cho nghĩ việc. Là một cấp chỉ huy, tôi bị đặt trong tình thế khó xử. Làm thế nào có thể lấy một quyết định đúng giữa một bên là trách nhiệm giữ gìn an ninh xã ấp một bên là sự an nguy của một cấp thừa hành mà tôi rất trân trọng kính mến? Tôi phân vân không biết lấy quyết định nào. kiểm điểm lại những năm tháng học ở nhà trường, không có môn học nào dạy tôi phải lấy một quyết định khó khăn đến thế. Lúc này, nhận chức hành xử quyền chỉ huy tôi phải tự mình quyết định mà không có vị thầy bên cạnh để tham vấn khi gặp khó khăn. Lúc bấy giờ tôi mới thấy thực tế trường đời có những điều khó khăn phức tạp mà mái trường Hành Chánh không cung cấp đủ hành trang để tôi có thể ứng phó với thực tế.

Thấy tôi suy tư do dự, ông Xã Trưởng Hòa tiếp một đòn tâm lý:

— “Ông P. thương giùm hoàn cảnh của tôi với chín đứa con nhỏ. Nhỡ tôi có bề gì thì tội nghiệp cho bầy con nhỏ dại...”

Vốn là người giàu tình cảm dễ cảm xúc, tôi lại càng nao núng. Cuối cùng tôi kỳ hẹn với ông ta là trong vòng ba ngày, tôi sẽ cho ông biết quyết định sau khi tôi tham khảo với ông Trung Tá Quận Trưởng. Hiện thời tôi yêu cầu ông ráng nhận trách nhiệm thêm ba ngày nữa.

Ông Xã Hòa bắt tay tôi cám ơn và quay lưng bước ra khỏi văn phòng Quận. Nhìn từ phía sau lưng, dáng đi của Ông Xã Hòa, tôi chợt bị ám ảnh của khoa Tướng Mệnh Học mà từ nhỏ đã được đọc trong tủ sách của ông chú. Ông Xã Hòa vóc người mập mạp chắc nịch rắn rõi nhưng nếu nhìn từ phía sau lưng ta có cảm tưởng cái đầu ông gắn lên giữa đôi vai mà không có cổ. Đây là điểm kỵ khắc tướng trong Khoa Tướng Mệnh có thể đưa đến cái chết bất đắc kỳ tử. Ý nghĩ này khiến tôi đâm ra lo ngại cho sự an nguy của ông ta.

Hai ngày sau, tin ông Xã Hòa tử nạn trong đêm Việt cộng tấn công vào xã sau khi đã dũng cảm chỉ huy anh em NDTV chống cự. Ông đã bị một quả mìn Claymore Việt cộng gài nổ ngay cổng trụ sở với cái chết không toàn thây. Tôi và ông Quận Trưởng hôm sau đến tận nhà đang khâm liệm viếng tang. Vừa bước vào với một nhà khăn tang trắng, tiếng khóc của vợ con ông Xã Hòa não nề, lòng tôi như chết lặng. Tay run run đặt lên quyển Thánh Kinh trước quan tài người quá cố, nước mắt tôi tuôn rơi không thể nói được một lời nào phân ưu với gia đình. Oan nghiệt thay! Quyết định của tôi đã đưa tới cái chết đau thương không những của một chiến hữu đáng kính mà còn gây đau khổ cho cả một gia đình với bầy con chín đứa nheo nhóc! Tôi tự trách mình đã làm một quyết định sai lầm đưa đến cái chết oan nghiệt của một người cộng sự mà tôi mến thương nhất. Nỗi niềm ân hận này cứ dày vò dằn vặt đeo đuổi theo tôi cho mãi cho tới tận bây giờ...

Nghĩ tới đây, tôi mới hiểu lý do mà Bình, với tuổi đời 15 đã tự nguyện xin nhận lãnh khẩu Trung Liên BAR. Tôi đồng ý sau khi cậu ta nài nĩ nhưng lại đâm lo. Cha cậu đã hy sinh vì chính nghĩa giữ gìn an nguy làng xóm. Bây giờ giao súng liên thanh nhỡ cậu ta có mệnh hệ nào thì sao?

Nghĩ tới đây, tôi mới hiểu lý do mà Bình, với tuổi đời 15 đã tự nguyện xin nhận lãnh khẩu Trung Liên BAR. Tôi đồng ý sau khi cậu ta nài nĩ nhưng lại đâm lo. Cha cậu đã hy sinh vì chính nghĩa giữ gìn an nguy làng xóm. Bây giờ giao súng liên thanh nhỡ cậu ta có mệnh hệ nào thì sao? Tôi lại phải chọn một quyết định khó khăn nữa trong vai trò chỉ huy và không biết chắc rằng quyết định lần này đúng hay sai. Với khẩu trung liên BAR trong tay, đêm nào có Việt cộng về ấp, nơi nào có tiếng súng nổ, là Bình có mặt, xông xáo bắn rát khiến bọn chúng phải rút lui để lại một hai xác chết. Với thành tích của Bình, tôi và ông Quận xuống tận nơi gắn huy chương cho cậu NDTV dũng cảm gan dạ.

Với thành tích “diệt Cộng” vang dội, cậu NDTV 15 tuổi phải gánh những năm tháng lao tù cải tạo, chịu đựng những gian khổ đời tù kéo dài nhiều năm cũng như các sĩ quan chỉ huy chúng tôi. Dù được phân phối ở khác đội trong nhà tù nhưng Bình luôn tìm dịp ghé qua chào tôi. Có lúc tôi bị cơn sốt rét hoành hành, trông tiều tụy xanh xao, Bình đã đến ôm tôi vỗ nhẹ vai, ghé tai nói nhỏ khích lệ:

— “Ông P. ráng cố gắng lên... mình không sao đâu.”

Bị giam giữ trên vùng mật khu âm u chướng khí, hằng ngày phải chứng kiến rất nhiều anh em bạn tù lần lượt ngã gục vì sốt rét cấp tính. Tôi bệnh ngất ngư chỉ nằm thoi thóp vì không thuốc men chữa trị. Lúc bấy giờ, Việt cộng đã tiến chiếm thủ đô Sài Gòn nên chúng tôi được lệnh di chuyển xuống đồng bằng. Chúng ra lệnh cho nhiều anh em bệnh nhân đang nằm la liệt là tất cả mọi người phải tự đứng lên dời trại, không đi nỗi cũng phải ráng đi. Ai không đi được sẽ bị bỏ lại nơi rừng thẳm làm mồi cho thú dữ.

Trong lúc mọi người sửa soạn hành trang khăn gói lên đường, cậu NDTV Bình lại đến ghé tai tôi nói nhỏ:

— Ông P. ráng đứng lên cố gắng đi, em sẽ dìu ông xuống núi.

Tôi thều thào nói với Bình:

— Anh chắc không đi nỗi đâu em. Thôi, em cứ đi theo mọi người đi, đừng bận tâm đến anh.

— "Không không", Bình nói, "Dù thế nào em cũng phải dìu ông đi."

Thế là Bình xốc tôi đứng dậy, một vai mang ba lô một tay choàng qua vai dìu tôi từng bước. Đường núi đá gập ghềnh gai nhọn, hai chúng tôi không theo kịp đoàn người phía trước, có lúc tưởng như lạc giữa rừng già. Trời nắng chát, áo Bình ướt đẫm mồ hôi nhưng tội nghiệp Bình mệt thở dốc mà vẫn cố dìu tôi khập khễnh nặng nhọc xuống núi, miệng khuyến khích:

— “Ông P. ráng lên!”

Cuối cùng hai chúng tôi ra khỏi đường núi xuống đồng bằng mới biết là đoàn người đã đến hạ trại từ lâu. Lần này, nhờ có Bình mà tôi thoát chết không bị bỏ lại giữa rừng già...

Cú điện thoại đột ngột của Bình đưa tôi về quá khứ cách đây gần bốn mươi năm. Tôi nhớ lại như in khuôn mặt của cha con ông Xã Trưởng Hòa đã để lại trong tôi dấu ấn không quên. Tôi đã mang món nợ xương máu với gia đình, vợ con ông Xã Trưởng vì quyết định của mình. Đúng hay sai tôi chưa biết nhưng dù sao tôi đã có can dự vào cái chết thê thảm của “một cán bộ dũng cảm trung kiên hào hùng với chính nghĩa Quốc Gia”. Nỗi ám ảnh về cái chết của ông luôn trở về dằn vặt đeo đuổi theo tôi bao năm tháng khó quên!

Riêng với Bình, người em NDTV. Tôi đã nợ em nhiều lắm. Lực lượng NDTV không được hưởng bỗng lộc gì của chính thể Cộng Hòa, không số quân, không cấp số. Chỉ với tấm lòng “BẢO QUỐC AN DÂN”, em và lực lượng NDTV đã chiến đấu đơn độc để bảo vệ sự bình yên cho thôn xóm. Phải gọi lực lượng NDTV như em là “người chiến sĩ không có số quân.”

Một cán bộ dũng cảm trung kiên hào hùng với chính nghĩa Quốc Gia

Để rửa mối thù Việt cộng giết cha mà em đã dũng cảm chiến đấu, nơi nào có tiếng súng nổ là em ôm súng Trung Liên BAR lao vào trận chiến. Em đã lập được chiến công. Em không được sự tưởng thưởng nào của chính phủ Cộng Hòa ngoài tấm huy chương và 5,000 đồng bạc mà tôi và ông Quận Trưởng đã móc tiền túi tưởng thưởng cho em.

Lúc tàn cuộc chiến, em lại gánh món “NỢ TÙ” thời hạn ngang với hàng sĩ quan cấp Đại Úy. Lúc vinh thì em không được hưởng cấp bực bỗng lộc gì của chính quyền nhưng khi hoạn nạn sa cơ thì em lại trải qua những đày đọa trả thù đắng cay của kiếp tù như bao chiến sĩ khác. Em đã tận lòng trung dũng với nước non và là thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất.

 photo Nhacircn Dacircn T V H Nai Long Khaacutenh_zpsehjkcjnt.jpg

Cuối cùng rồi trời không phụ người. Theo lời em kể lại, em được ra khỏi tù sau sáu năm bị trù dập trong trại cải tạo. Thời hạn sáu năm tù của em là cấp bậc để em được đi theo diện H.O. và đã định cư ở một tiểu bang miền Nam. Em đã có vợ và hai con đều đang học trung học. Bình và vợ đều có công ăn việc làm ổn định.

Tôi rất mừng khi được biết em đã thoát khỏi sự trả thù và tìm được cuộc sống bình yên ở xứ người.

Bình em, người chiến sĩ Nhân Dân Tự Vệ!
Anh không thể nào trả được "món nợ ân tình" của em và "món nợ xương máu" đối với gia đình em. Nhưng anh luôn ghi khắc tấm lòng thủy chung với đất nước mà ba em và em đã đóng góp và đã chịu hy sinh. Anh cầu chúc cho Bình—người chiến sĩ NDTV không số quân--và gia đình em luôn được cuộc sống an lành./.


Ngư Sĩ

http://www.vnch.ca/nguoilinhkhongsoquan.htm

Tháng 4/ 2016



 

 

 


Nhân Dân Tự Vệ cùng cảnh sát Dã Chiến tại Vũng Tàu 1968


 


Chiến-Sĩ Áo-Đen

Thân tặng Áo-Đen Cán-Bộ & Đơn vị yểm trợ Đoàn CB/XDNT.

Hương Quế

28 năm trời qua, các vị tiền bối khai sinh ra ngành Cán bộ XDNT, đã bỏ rơi những đứa con, mà ngày xưa quí vị ấy từng cho là “con yêu tổ quốc”, họ không hưởng bổng lộc chỉ tượng trưng bằng thù lao nhỏ nhoi. Họ không được trang bị đầy đủ phương tiện để bảo vệ bản thân, họ phải dùng tài khôn khéo để tự vệ, lấy máu để viết nên trang sử đầy vẽ vang cho VNCH, những chứng tích đó người chiến sĩ Áo-đen chưa bao giờ nhận được sự bù đắp tương xứng! Mặc dù họ không dự phần vào việc bỏ rơi đất nước, họ vẫn chấp nhận ở lại và gánh chịu chung số phận tù đày như mọi người từ 5 năm trở lên. Cái số của họ dường như đã được định sẵn, họ ra đi theo chương trình nhân đạo (H.O.) cũng quá muộn màng và nơi đất tạm dung này, chưa bao giờ được nghe nhắc đến tên người Cán Bộ XDNT.

Thế mà vẫn có những tâm hồn người chiến sĩ Áo-đen, khắc khoải thâu đêm với giấc ngủ chập chờn, mà tâm tư vẫn đầy ấp kỷ niệm cũ đang bừng trổi dậy, gợi nhớ từng luống cải, vườn rau, nhớ từng khốm tre bụi chuối, nơi miền thơn dã có ánh trăng lơ lửng trên nền trời xanh yên lành mà nơi đó họ đã một thời “làm con làm cháu xóm làng”.

Cải tuyển từ các ngành, sát nhập vào Cán Bộ XDNT, họ cho đó là ước nguyện của mình, là yếu tố cần thiết để cho họ vốn sinh ra và lớn lên nơi đồng hương, cỏ nội và cũng là một cơ hội để gần gủi với làng quê có nắng ấm chan hòa. Cũng từ đó, họ được thụ huấn bổ túc trong một khuôn khổ, mẫu mực, kỷ cương từ chính trị, quân sự đến y tế, xã hội, tâm lý chiến nơi Trung Tâm Huấn Luyện Chí Linh, Lam Sơn, Hồng Lĩnh để trở thành một Cán Bộ nồng cốt, tung về địa phương thực hiện một Ấp Đời Mới thí điểm, căn bản dựa trên đường lối chủ trương của chính thể VNCH với mô hình xây dựng 11 mục tiêu, 98 công tác, bốn Tư Tưởng chỉ đạo: Cải tổ hành chánh xã ấp, Thực Thi dân chủ pháp trị, Canh Tân đời sống nông thôn...

Với hành trang mà Huấn Trường đã ủy thác, trách nhiệm quá to lớn hơn tuổi đời của họ lúc bấy giờ. Họ chập chửng bước đi từng bước một trong 98 công tác mà bên tai họ vẫn còn văng vẳng lời thuyết trình của huấn luyện viên đặc trách Khối Chính Trị của Trung Tâm Huấn Luyện với đề tài “Chính sách của VNCH qua các chương trình xây dựng Xã Ấp”. Thật là hùng hồn, thật là đầm ấm như hòa nhịp vào bước chân họ, trãi dài trên khắp đường mòn thôn xóm.

Trọng trách của người Cán Bộ XDNT là làm thế nào để xây dựng một Ấp Đời Mới trong vùng xơi đậu, tạo cho lòng dân hướng về chính nghĩa Quốc Gia và tin tưởng vào đường lối chủ trương của Chính Thể VNCH, nhầm tiêu diệt kế hoạch “lấn đất giành dân” của cộng sản.

Một đề tài ngắn ngủi nhưng mà hàng loạt kế hoạch được đặt ra: nghiên cứu, dân vận, chiêu hồi, xây dựng đồn thể, bảo tồn văn hóa...

Nơi vùng xôi đậu, ban ngày Đoàn Cán Bộ XDNT đi điều nghiên, kiểm tra dân số, phân loại quần chúng, tiếp nhận chiêu hồi đều có quân đội yểm trợ, ban đêm quân đội rút về nơi đồn trú, có hệ thống phòng thủ, để lại Đồn Cán Bộ XDNT với vũ khí thô sơ, chỗ ngủ là chuồng trâu bò, tòn ten mấy chiếc võng, lấy thân trâu bò và mấy thùng cỏ làm bia đỡ đạn, đêm về nằm nghe tiếng trâu bò nhơi cỏ, tiếng vo ve của đàn muỗi mà “thấy đời mang cả ý thơ”, bất cứ tiếng động nhỏ nào cũng được mọi người đề cao cảnh giác. Có những đêm tối trời, mở con mắt thật to, quan sát tứ phía, mà vẫn bị đặt mìn, loại mìn định hướng, tiếng nổ xé tan màn đêm cô tịch, làm tan nát cỏi lòng, nhưng người Cán Bộ XDNT vẫn chấp nhận hy sinh tuổi trẻ đời mình cho Tổ Quốc Việt Nam muôn đời lụa là gấm vóc.

Người chiến sĩ Áo-đen chỉ biết phó mặc vào số mạng, họ khôn khéo hòa mình với dân, làm cho dân thương mến, nên đề phòng trước được mọi việc nguy hiểm có thể xảy ra để tự cứu mạng mình.

Họ thực hiện những gì đã được học hỏi nơi Huấn Trường, đoàn Cán Bộ XDNT đã đem đến cho người dân nông thôn một đời sống ấm no thực sự:

Tiếng cười rộn rã trên Ấp Đời Mới, ngôi trường làng ê a tiếng hát trẻ thơ, trạm xá có người phát thuốc, con đường đất dẫn đến ngôi đình, chùa cao ráo, thuận tiện cho bà con chiêm bái vào những ngày lễ hội...

Mồ hôi và sương gió đã muối trắng vai áo người chiến sĩ Áo-đen âm thần nơi thôn xóm, họ xây dựng nông thôn bằng bầu nhiệt huyết đã khắc ghi qua lời tuyên thệ sau ngày mãn khóa, trong những giờ suy tư bên đồng đội hàng đêm nơi Vũ Đình Trường, những giây phút thiêng liêng ấy đã in hằn trong tiềm thức mọi người dù sông có cạn, núi có mòn, người chiến sĩ Áo-đen vẫn giữ mãi trong lòng những lời thề sắc son đó.

Ngày 30 tháng tư năm 1975, đất nước đi vào ngã rẽ, một lần nữa cảnh sống lầm than, cơ cực lại bao trùm lên Ấp Đời Mới năm xưa, người dân nông thôn vô tội, bị kềm kẹp, hà khắc, lại còn bị bắt bớ giam cầm bởi cộng sản khát máu. Người chiến sĩ Áo-đen cũng cùng chung số phận, họ bị bắt giết hoặc bắt đi “tù cải tạo” trong các trại tập trung và còn bị gán cho cái tội là “Bình Định Ác Ôn”.

Từ đó, bóng dáng những chiếc Áo-đen mờ dần trong thôn ấp, nhưng lòng người dân vẫn còn hồi vọng nhớ mong:

Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn:
“Đến dân Mừng - Đi dân Nhớ - Ở dân Thương”.

Hôm nay tưng bừng giữa mùa Đại Hội, rực lên màu cờ vàng khắp nơi trên đất Mỹ, cũng là ngày ghi nhớ lần đầu tiên Ủy Ban Tổ Chức Đại Hội Toàn Quân vừa nhận lại đứa con yêu mà mình quên lãng đã 28 năm qua, đó là Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn.

Hương Quế
Gia đình CB/XDNT Bắc Cali


 

 

 photo original localmilitia_1.jpg

Sau khi Dương Văn Minh lật đổ và giết anh em TT Ngô Đình Diệm xong, phản tướng Dương Văn Minh cho ra lệnh hủy bỏ chính sách Ấp Chiến Lược, Khu Dân Sinh ở Miền Nam! Việt cộng sau đó đã lợi dụng tình thế chính quyền bỏ ngõ, xâm nhập và trà trộn, đặt cài tình báo, đặc công, nằm vùng trong mọi ngành, mọi nơi, mọi cơ sở vào Miền Nam như chốn không người!

Một số cán bộ VC/vixi/Việt cộng nằm vùng sau đó đã tuồn vào các chùa Phật giáo và lập tức họ trở thành đại đức, thượng tọa; chức sắc rất cao... mở màn cho những xáo trộn, biến loạn từ Biến Động Miền Trung, Phật Giáo Xuống Đường, đến thảm sát Tết Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, và cuối cùng Mất Nước tháng 4 năm 1975!

 

 

 





Những Chiến Sĩ Bị Lãng Quên
.........................................................................

Tôi thương anh lính Nghĩa Quân,
Ngày đêm diệt giặt giúp dân xóm làng,
Cuộc sống vất vả nghèo nàn,
Nhưng anh vui vẻ giữ làng, quê hương.

Tôi thương anh lính Địa Phương,
Bình định lãnh thổ phố phường an khang,
Thân anh cũng lắm gian nan,
Quyết tâm diệt cộng dã man đê hèn.

Tôi thương Chiến Sĩ Áo Đen,
Xây dựng thôn ấp thân quen dân làng,
Mặc dầu không được võ trang,
Nhưng bọn Việt cộng nể nang anh nhiều.

Chiến sĩ thầm lặng mến yêu,
Các anh không được kể nhiều công lao.
Ít được sách vở hô hào,
Nhưng dân quí mến đâu nào có quên.

Muôn đời đất nước nhớ tên,
Các anh đáng được ghi lên bảng vàng.
Khi nào đất nước bình an,
Ta về thăm lại xóm làng năm xưa.


Chiến hữu Nguyễn Minh Châu

Xin ghi ơn các chiến sĩ Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, CBXDNT

 photo T242_HH_DQ_NhanDanTuVe_T_154x154_zpsibamvtkl.png  photo T242_HH_DQ_NhanDanTuVe_T_154x154_zpsibamvtkl.png  photo T242_HH_DQ_NhanDanTuVe_T_154x154_zpsibamvtkl.png  photo T242_HH_DQ_NhanDanTuVe_T_154x154_zpsibamvtkl.png




 

********************************************

 

 photo unnamed_zpslirs0d6t.jpg Xin xem thêm:

Chiến Sĩ Áo Đen Phần 2

https://caybut2.blogspot.com/2017/05/chien-si-ao-en-phan-2.html