Saturday, August 22, 2015

Viết Tặng Người Lính Tôi Quen

 photo 7617466302_f747473bed_o.jpg



      Viết Tặng Người Lính Tôi Quen


      Tôi gặp anh khi tuổi còn rất nhỏ,
      Toán lính qua làng để bình định an dân.
      Anh hiên ngang cùng đi giữa đoàn quân,
      Rồi tiến thẳng vào ngôi nhà tôi ngồi nghỉ.

      Nón sắt, ba lô, poncho và vũ khí,
      Các anh vui cười, lễ phép hỏi Ba tôi:
      "Bác cho chúng con mượn tạm mảnh sân thôi,
      Đêm nay nghỉ, mai đi hành quân tiếp".

      Tôi gặp anh một buổi chiều vàng rất đẹp,
      Tuổi trăng non chưa hề biết mộng mơ.
      Học trường xa ngày nghỉ mới trở về,
      Con đường vắng chốt lính canh xuất hiện.

      Anh chặn tôi: "Giờ nầy về bất tiện,
      Giặc về làng quậy phá tối hôm qua,
      Đơn vị Anh quần thảo đến canh ba,
      Giặc rút chạy, toán quân nhà vô sự!"

      Tôi gặp Anh tuổi xuân thì thiếu nữ,
      Rất bình thường, không mơ mộng, kiêu sa,
      Tan trường về biết mong ngóng Người Ta,
      Rồi tự nhủ: chắc đang hành quân gấp đó!

      Anh quân nhân không mũ xanh, mũ đỏ, Không hoa dù, cũng chẳng Thiết Vận Xa, Không lênh đênh lấy biển cả làm nhà, Không bay bổng giữa trời cao gió lộng.

      Anh người lính: niềm tin và hy vọng, Ngăn giặc thù giữ thôn xóm bình an, Ngày hành quân ven biên giới Tỉnh - Làng, Đêm đi kích cũng ruộng hoang, gò mả.

      Địa Phương Quân - lính con rùa nhưng vất vả,
      Sống giữa lòng Dân mà nguy hiểm bội phần,
      Đang nói cười lựu đạn nổ - thây phân,
      Đường sanh tử đếm thời gian tích tắt.

      Quán cà phê có thể là trạm giặc,
      Thằng bé qua đường có thể "giao liên".
      Cô bé xinh xinh trông rất nhu hiền,
      Nào ai biết đó là "Đặc công cộng sản"?

      Tôi gặp Anh trong dòng người hỗn loạn,
      Thấp thỏm chờ tàu vận chuyễn xuôi Nam,
      "Cuộc di tản" như triệt cả đoàn quân,
      Vùi ý chí, nén đau buồn "thúc thủ"!

      Tôi gặp Anh giữa chợ trời lam lũ,
      Tấm thân gầy phủ mảnh áo vá vai.
      Áo rách vá, làm sao vá đời trai,
      Bị tơi tả sau tháng ngày nghiệt ngã?

      Tôi gặp Anh đang mong manh hơi thở,
      Thân phận con người đang trăn trở giựt giành,
      Cuộc chiến sau cùng đã định sẳn lằn ranh,
      Nhưng người lính đó vẫn trong tôi mãi mãi!

      Lê Thị Hoài Niệm



 photo ARVN soldiers and RVN citizens traveling down the road. Kontum Province.jpg


 




Người Lính Nghĩa Quân Trong Tim Tôi




Nguyễn Thanh Thủy

Năm tôi được 10 tuổi, gia dình tôi bỏ ruộng vườn vào ở trong khu Ấp Chiến Lược, được bao bọc bởi một vòng thành kiên cố có kẽm gai, có hào sâu chung quanh. Ở hai đầu ấp có hai cái đồn Nghĩa Quân nhỏ. Ba má tôi thỉnh thoảng trở về nhà làm ruộng, gặt lúa ban ngày, rồi ban đêm vào xóm ở. Ấp Chiến Lược là một công trình chiến lược dùng để cô lập Việt Cộng ra khỏi dân chúng. Việt Cộng hay trà trộn trong dân và bắn giết dân chúng và quân lính Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc nầy Việt cộng bắt đầu nổi dậy mạnh ở miền Tây, thâu thuế, giết hại dân thường, ám sát Xã Trưởng, Ấp Trưởng của VNCH gây kinh hoàng cho dân chúng, gây mất ổn định cho xã hội miền Nam đang sống trong thanh bình.

Việt cộng bịt mắt, chặt đầu hay chôn sống bất cứ người nào họ nghi ngờ là đang cộng tác với chính quyền VNCH. Khu ấp chiến lược tôi ở được bảo vệ bởi một trung đội Nghĩa Quân, gồm có ba tiểu đội. Các chú lính hay ở trong đồn, còn vợ con họ sống trong các căn nhà nhỏ trong xóm. Nhà tôi ở gần nhà ông Tiểu Đội Trưởng, tôi kêu là chú Tấn.

Canh giữ xóm làng.

Lúc mới vào ấp tôi chỉ là một đứa con gái nhỏ quê mùa ngơ ngác. Nhưng lần lần tôi cặp bè bạn chơi với mấy đứa bạn, gái có, trai có, lớn tuổi, lanh lợi hơn, tôi học được nhiều thứ mới mẻ. Tôi biết cả tên cây súng nào là cây Carbine, cây nào là Garant, Thompsom, cây nào là cây súng phóng lựu. Tôi biết tên hầu hết các chú lính nghĩa quân trong tiểu đội của chú Tấn, nào là chú Tường, chú Sanh, chú Đúng, chú Quít, chú Mực... Các chú rất hiền và chú nào cũng nghèo. Bộ quân phục được các bà vợ vá nhiều chỗ. Tôi hay lân la đến nhà các chú chơi với con của họ. Với đồng lương Nghĩa Quân khiêm tốn, các chú ăn uống rất đạm bạc, thường là cá linh, cá lòng tong kho, với rau lang luộc hoặc chút ít canh bí, canh bầu. Hầu như chú nào cũng có vợ và vài ba đứa con. Khi rảnh rỗi tôi thấy các chú hay giúp việc nhà cho vợ buôn bán chút đỉnh kiếm thêm tiền. Có chú giữ con cho vợ ngồi bán rau ngoài chợ. Có chú xay bột cho vợ làm bánh tầm, bánh bò bán cho dân trong xóm.

Một người lính bộ binh trẻ.

Chú Tấn còn trẻ, nhưng ít nói. Thím Tấn là một người đàn bà hiền lành, có đôi mắt đẹp, to và dễ khóc. Chú hay xay đậu nành làm thành bánh đậu hủ cho thím ủ chao, ủ tương, rồi thím đem bán vào những buổi chợ rằm, chợ ba mươi cho người ta ăn chay. Chú thím Tấn có hai đứa con. Thằng Dũng được 6 tuổi, con Lan 3 tuổi. Khi bận bán tương, chao, thím Tấn hay gởi hai đứa nó nhờ tôi giữ dùm. Tôi hay chơi đùa và coi chúng nó như em. Tụi nó cũng rất thương tôi.

Rất ít khi dân trong xóm gặp các chú Nghĩa Quân ra đi hành quân, các chú lặng lẽ ra đi khi trời sụp tối để giữ bí mật. Họ âm thầm canh gác đâu đó dọc theo bờ thành ấp chiến lược, sáng sớm mới trở về. Họ đi về im lặng như những cái bóng mờ. Có những sáng tôi hay gặp các chú trở về, thường thì chỉ có cái áo khô, quần các chú ướt đẫm, sình bùn lên trên đùi. Các chú thường đi dép hay đi chân không, chẳng mấy ai có được đôi giầy.

Có khi đang đêm, tôi nghe súng nổ giòn rã. Sáng hôm sau các chú lính quen thuộc mang về hai cây súng chiến lợi phẩm của Việt cộng cùng với vài trái lựu đạn. Các chú kể cho mọi người trong xóm nghe là đêm rồi một toán Việt cộng băng qua ruộng phá hàng rào định đột nhập vào ấp chiến lược thu thuế và bắt dân đi làm dân công, qua sự hướng dẫn của một tên giao liên là người trong ấp. Các chú bắn chết hai tên, thây còn bỏ ngoài bìa ấp. Chúng tôi rủ nhau đi coi xác Việt cộng. Có lần các chú bắn chết cả một xuồng Việt cộng đang băng qua sông. Nhờ các bác ghe chài vớt lên, được nhiều súng. Sáng hôm sau ông Quận Trưởng bất ngờ đến đồn Nghĩa Quân xóm tôi, khen ngợi và thưởng tiền mua một con heo quay thật lớn. Các chú được dịp ăn nhậu vui vẻ. Mấy đứa con các chú Nghĩa Quân cũng hí hửng được dịp ăn thịt heo quay.

Một ngày nọ tôi đi học về thấy cả xóm nhốn nháo lên, mấy thím vợ lính hớt hãi lo lắng. Thím Tấn nước mắt quanh tròng. Tôi hỏi thì thím cho tôi hay Trung đội Nghĩa Quân vừa bị tấn công và hai chú Nghĩa Quân hiền lành của xóm tôi vừa hy sinh, đền nợ nước. Chú Mực mà tôi quen thì bị đạp mìn Việt cộng gãy giò. Thật là một cái tang lớn cho cả xóm tôi. Linh cửu của hai chú được quàng tại chùa, vợ con lối xóm khóc lóc tỉ tê. Đến chiều thì người ta chôn hai chú ngoài bờ rào ấp. Một hàng 6 chú Nghĩa Quân đứng chào trên bờ huyệt. Quan tài hạ xuống, các chú bắn 6 loạt đạn điếc tai. Mặt các chú rất đau khổ, gầm lại khác hẳn các khuôn mặt hiền từ hàng ngày mà tôi thấy.

Vợ con hai chú đòi nhảy xuống huyệt chết theo chồng. Nhiều người phải xúm lại kéo các thím lên, khó khăn lắm mới dẫn được họ về nhà. Bọn chúng tôi và mấy đứa con trai ngày thường hay chạy nhảy, phá phách, la hét, mà giờ cũng đứng im ru. Tôi không biết Việt cộng là ai, nhưng tôi lờ mờ hiểu rằng họ là người không tốt, vì họ bắn phá mà gia đình tôi phải bỏ thôn xóm vào đây. Giờ họ còn theo định đột nhập vào cái ấp chiến lược nầy làm chi nữa?

Lính VNCH hành quân.

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt. Việt cộng bắt đầu tấn công miền Nam ở cấp số lớn hơn. Họ đặt mìn giật xe chạy trên quốc lộ, họ giật xập cầu, bắt dân chúng đi đắp mô cản đường xe chạy. Có khi họ giật mìn chết cả một chiếc xe đò. Nhiều người chết có cả đàn bà và trẻ em, thịt xương văng tung tóe. Có lúc họ pháo kích hay đặt mìn giật xập trường học của học sinh miền Nam. Tiểu đội của chú Tấn phải đi kích liên miên. Thím Tấn lo âu thấy rõ. Trung đội Nghĩa Quân lập được nhiều chiến công. Nhưng các chú Nghĩa Quân mà tôi quen biết cũng vơi dần. Họ đã âm thầm ra đi như những người chiến sĩ vô danh và trở về im lìm, trong những chiếc chiếu, những cái poncho, trong cái cảnh da ngựa bọc thây.

Rồi cái ngày đau thương của thím Tấn và hai đứa con dại đã đến Chú Tấn và một chú Nghĩa Quân nữa hy sinh trong một cuộc đụng độ dữ dội với Việt cộng năm 1965. Xác chú được khiêng để trên bộ ván trong căn nhà nhỏ của chú. Khi tôi đi học về, tôi thấy người ta đang tắm rửa thay đồ rồi để một nải chuối lên bụng chú, ngọn đèn dầu leo lét được thắp trên đầu nằm có để một chén cơm và một cái trứng vịt. Đầu chú được băng bông trắng. Máu còn rỉ ra bên màng tang. Vợ con chú vật vã khóc than, đau đớn không thể nào kể xiết. Tôi đến mắm tay hai đứa nhỏ. Thằng Dũng thỉnh thoảng hỏi tôi: “Bộ Ba em chết rồi hả chị?” Tôi chỉ ừ, không biết trả lời làm sao!

Lính VNCH dừng quân.

Đến khi chôn chú Tấn, hàng loạt đạn đưa tiễn vang rền. Thím Tấn chết lên chết xuống, bộ đồ tang trắng bê bết bùn sình. Người ta phủ lên cái mã đất của chú Tấn một lá cờ Việt Nam Cộng Hòa thật dài. Bốn phía có cắm bốn lóng trúc có gạo và muối. Tôi phải dẫn con Lan và thằng Dũng về nhà. Nước mắt tôi tuôn rơi. Cuộc sống chúng tôi đang êm đềm hiền hòa, thì tại sao người ta phải tấn công thôn ấp, giết hết người nầy người nọ. Để làm gì?

Miền Nam độc lập tự chủ, có ai chiếm đóng miền Nam đâu, mà phải giải phóng chúng tôi. Cuộc đời dân miền Nam không hạnh phúc, sung sướng gấp chục lần dân miền Bắc hay sao? Tại sao các người phải giết chú Tấn của chúng tôi để cho cuộc đời mẹ con thằng Dũng từ đó ảm đạm, sa sút hẳn đi. Thím Tấn khóc hoài không dứt... Năm sau, gia đình tôi dời đi chỗ khác. Tôi ít được gặp lại Thím Tấn, thằng Dũng và con Lan.

Năm năm sau, tôi mới được về thăm ấp cũ, tôi mừng rỡ gặp lại thím Tấn và hai đứa con. Bây giờ ngày nào thím cũng phải ra chợ bán tương chao nuôi con. Thằng Dũng vẫn còn nhớ tôi nhưng con Lan thì không nhận ra tôi nữa. Sau nầy tôi có dịp tiếp xúc với nhiều binh chủng oai hùng khác của quân lực VNCH, nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ về các chú Nghĩa Quân hiền lành mà tôi đã biết năm nào. Hơn phân nửa các chú đã nằm xuống để bảo vệ làng xóm, quê hương tôi. Số còn lại có người gãy chân, có người cụt tay, sống đời tàn phế. Việt Cộng đã chà đạp lên Hiệp Định Hòa Bình Paris mà họ vừa ký kết năm 1973, cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, đưa cả nước xuống 10 tầng địa ngục.

Một cảnh Huynh đệ chi binh, dìu bạn bị thương.

Thân tôi giờ xa xứ xa quê, đã hiểu được ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các anh, các chú quân nhân quân lực miền Nam, thỉnh thoảng tôi nhớ lại các chú lính Nghĩa Quân tôi quen biết mà thấy lòng thương lắm. Cùng với bao nhiêu binh chủng khác của quân đội, các chú âm thầm lặng lẽ hy sinh, cho dân chúng trong ấp tôi được sống trong yên bình. Các chú đem xương máu ra bảo vệ nền tự do, dân chủ mới được thành hình trên miền Nam yêu dấu.

Các chú đã nằm xuống - bỏ lại con thơ, vợ dại - để ngăn cản bọn quỷ đỏ hung tàn trong công cuộc tiến chiếm miền Nam, áp đặt cả nước trong một chế độ độc tài, hung bạo, không lối thoát. Các chú đã đem sinh mạng, xương máu của mình, để ngăn cản bọn bán nước buôn dân đày đọa cả dân tộc, và đưa đất nước Việt Nam đi ngược dòng tiến hóa của nhân loại. Các chú đã anh dũng hy sinh, ngăn cản bọn CSVN chiếm đoạt đất nước làm tài sản riêng tư cho đảng, rồi tự ý dâng hiến đất đai, hải đảo của tiền nhân cho quan thầy Trung Cộng.

 photo KGrHqRnsE63V3f09BO1R7k5Vg60_3.jpg
Canh giữ xóm làng.

Hỡi cô bác, hỡi anh chị ơi! Nếu vị nào may mắn, có cuộc sống bình yên xin đừng quên các chú lính Nghĩa Quân đang sống đời tàn phế. Xin đừng quên các chú Nghĩa Quân đã lặng lẽ hy sinh để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Xin đừng quên vợ con họ, bị bỏ lại sau lưng với cuộc đời đau khổ.

Nguyễn Thanh Thủy

(Bài nầy được viết dựa vào những sự kiện có thật. Vì sự an toàn của một số người còn kẹt lại, tác giả tạm thời không đề cập đến những địa danh và tên người cần thiết trong bài nầy.

http://www.vietlist.us/VietHistory/nguoilinhnghiaquan.shtml


 

 



 photo Regional Forces soldier.jpg

 

 



Người Lính Địa Phương Quân Và Nghĩa Quân Trong Những Ngày Hấp Hối Tháng 4-75 Tại Bình Thuận



Thời VNCH (1955-1975), Quân Đoàn 2 chiếm một lãnh thổ có diện tích lên tới 78.841 km2, rộng nhất trong bốn vùng chiến thuật. Bộ Tư Lệnh đóng tại Pleiku, còn hai Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 2 và 5 thì ở Qui Nhơn và Nha Trang - Cam Ranh, còn có hai Sư Đoàn 2 và 6 Không Quân chiến thuật đóng tại Pleiku và Nha Trang. Các phi trường Nha Trang, Bửu Sơn, Phù Cát và Cù Hanh rộng lớn tối tân. Vùng II Chiến Thuật bao gồm 12 tỉnh Cao Nguyên và duyên hải trung phần, trong đó quan trọng và cũng có nhiều phiến cộng, nằm vùng nhất là Bình Thuận - Bình Định.

Để xâm lược miền nam, cộng sản Bắc Việt cho mở lại con đường giao lộ đã có sẵn từ thời toàn dân kháng chiến chống Pháp 1945-1954, thành con đường chiến lược mang đủ thứ tên trong đó có Hồ Chí Minh, xuất phát từ Hà Nội vào tới Cà Mâu dài trên 2000 cây số. Con đường khai sinh đồng thời với cái mặt trận ma Giải Phóng Miền Nam sau khi vượt qua vùng phi quân sự ở Bến Hải, men theo rặng Trường Sơn, tới Đổ Xá, Kòn Tà Nừng, Chulya, Khánh Hòa. Tại đây đường phân làm hai nhánh, một đi ngược lên Lâm Đồng, Quảng Đức, Phước Long về Sài Gòn. Nhánh hai tới Ninh Thuận, Bình Thuận, Rừng lá, rừng sát, Biên Hòa…

Sau ngày binh biến 1-11-1963, VNCH gần như vô chính phủ, rối nát tan hoang do đám kiêu tăng loạn tướng gây ra, mãi tới cuối năm 1967 khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng Thống VNCH, tình thế mới tạm ổn định. Bình Thuận là một trong các tỉnh ở miền Trung cùng chịu nhiều nạn kiếp, khiến cho tình hình an ninh toàn tỉnh kể luôn thị xã Phan Thiết tồi tệ đến mức ai nghe tới cũng sợ khi phải tới miền đất này. Dù Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng tấn công Phan Thiết ba lần bị thất bại, không có cơ hội tắm máu đồng bào như tại Huế theo mong muốn của một số Việt công nằm vùng và có người thân ra bưng, tập kết nhưng hoàn cảnh lúc đó hết sức bi quan, 95% lãnh thổ bị địch chiếm, vùng còn lại ban ngày là của ta và thuộc về giặc ban đêm.

Tại Phan Thiết, Việt cộng về ám sát, đốt tấn công các trụ sở ấp Đức Nghĩa, Phú Trinh, Hưng Long, Đức Long... coi như chỗ không người, thậm chí ngay trong Tòa Hành Chánh và tiểu khu, tỉnh trưởng khi di chuyển cũng phải có hộ tống và cận vệ. Các viên chức xã ấp, công chức, cảnh sát kể luôn các cấp chỉ huy Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân, Địa Phương Quân... ban đêm phải di chuyển chiến thuật tới các vùng tạm có an ninh ở Sông Mao, Phan Thiết, Mũi Né để ngủ giữ mạng. Các đồn bót trong tỉnh luôn bị tấn công, Việt cộng pháo kích bạt mạng vào thành phố, huyện lỵ và tàn nhẩn gài mìn khắp nơi, khiến cho thường dân vô tội bị chết oan hằng ngày khi di chuyển cũng như lúc ra đồng làm ruộng.

Các trục giao thông tại quốc lộ 1, liên tỉnh lộ 8, tỉnh lộ Phan Thiết - Mũi Né.. bị tắt nghẽn, nhiều trạm thu thuế gần như công khai của Việt cộng tại cây số 25, Thiện Giáo, Tuy Hòa, Tà Dôn, Đá ông Địa, Vĩnh Hảo... làm cho mọi người lo sợ, phải dùng phương tiện ghe thuyền thay vì đi xe đò. Đã vậy trong tỉnh còn thêm vụ học sinh các trường trung học xuống đường biểu tình đòi Mỹ rút về, kêu gào bảo vệ đạo pháp và các thầy cha, còn thêm màn mổ bụng rạch ngực viết huyết thư, tạo đủ đắng cay máu lệ cho người dân vô tội trong cảnh chiến tranh tận tuyệt.

Tóm lại, theo lượng giá của Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, trong ngày nhậm chức Tỉnh Trưởng vào mùa thu 1969 thế đại tá Đàng Thiện Ngôn, thì Bình Thuận và Phan Thiết lúc đó sắp lọt vào tay Việt cộng. Theo Trung Tá Ngô Văn Xuân, nguyên Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2, Trung Đoàn 44, Sư Đoàn 23 BB từng tham chiến nhiều ngày tại Bình Thuận, thì chính Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, một sĩ quan dầy kinh nghiệm trong chức vụ trưởng phòng 2 quân đoàn 2 nhiều năm, qua nhiều vị tư lệnh, đã thành công trong việc tách rời các cơ sở cũng như vô hiệu hóa Việt Cộng tại địa phương, từ đó cho tới ngày miền nam bị sụp đổ vào tháng 4-1975. Chính các lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đã góp phần lớn máu xương trong việc bảo vệ an ninh và mạng sống của đồng bào trong tỉnh, cho tới những giây phút cuối cùng trong đêm 18 tạng ngày 19-4-1975. Họ là những chiến sĩ của QLVNCH không tên với những chiến công hiển hách, đã dánh những trận để đời như sử gia Chánh Đạo đã hết lòng khen ngợi trong tác phẩm “55 Ngày Đêm - Cuộc Sụp Đổ Của VNCH”. Tôn vinh cuộc chiến đấu trên là cách trả lời cao thượng nhất để tri ân và lấy lại uy tín cũng như danh dự cho người lính miền nam, những người đã vì nước vì đời, mà tự tìm lấy cái chết bình thản tại chiến trường, cũng như ngay lúc giặc đã tràn ngập.

1. NHỮNG NGƯỜI LÍNH ĐỊA PHƯƠNG QUÂN & NGHĨA QUÂN/QLVNCH
Tại Bình Thuận vào năm 1952, trước ngày đình chiến, quân đội quốc gia đã thành lập hai trung đoàn vệ binh, mỗi trung đoàn có 5 đại đội. Trung đoàn số 2 đóng tại Phan Rí, trung doàn số 4 đóng tại Phan Thiết. Đầu năm 1953, các trung đoàn vệ binh được biến đổi thành tiểu đoàn bộ binh. Do đó, trung đoàn vệ binh số 4 thành tiểu đoàn 264 B1 (Bataillon d’infanterie), còn trung đoàn 2 thành tiểu đoàn 265 B1. Ngày 1-8-1954 lại thành lập trung đoàn 404 BB tại Phan Thiết với các tiểu đoàn 83 (nguyên TĐ 264 B1), tiểu đoàn 84 (nguyên TĐ 265 B1) và TĐ 808 biệt lập đóng tại Phan Thiết. Đầu năm 1955, Trung Đoàn 404 được cải danh là Trung Đoàn 43 BB với các TĐ 1/43 (83), 2/43(84) và 3/43(808) thuộc SĐ 15 khinh chiến, từng tham dự các chiến dịch tiểu trừ Bình Xuyên, Hòa Hảo năm 1955 tại Nam phần Từ năm 1964 trung đoàn 43 biệt lập qua các trung đoàn trưởng tài danh như Thiếu tá Võ Văn Cảnh, Thiếu Tá Quách Đăng, Trung Tá Lý Bá Phẩm, Đại Tá Đàm Văn Quý... trấn đóng tại biệt khu Bình Lâm, sau đó di chuyển vào nam.

1966 cùng với các trung đoàn biệt lập 48 BB, 52BB thành lập Sư Đoàn 10 BB, sau đổi thành SĐ 18 BB vào tháng 4-1975, dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Lê Minh Đảo, đã tạo nên chiến thắng Xuân Lộc vang lừng trong việt sử cận đại. Cũng tại Bình Thuận vào tháng 7/1954 có 4,800 quân nhân người Nùng, thuộc SĐ 3 khinh chiến của Đại Tá Woàng A Sáng từ miền bắc di cư vào đóng tại Sông Mao nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn lại di chuyển vào Tam Hiệp, Biên Hòa, sau đó đổi thành SĐ 5 BB. Để thay thế, trung đoàn 44 và 53 thuộc SĐ 23 BB, hậu cứ đóng tại Sông Mao thường xuyên hành quân bảo vệ Bình Thuận và Ninh Thuận.

Từ đầu năm 1970, hầu hết các thành phần cơ sở, du kích kể luôn chính quy Việt cộng gần như bị tiêu diệt, khiến cho quân khu 7 Việt cộng, trong đó có tỉnh Bình Thuận do tướng Bắc Việt Nguyễn Văn Ngàn chỉ huy, cũng lâm vào tuyệt lộ. Để vớt vát cũng như vực dậy niềm tin của cán binh, cán bộ, Việt cộng xữ dụng hai tiểu đoàn chính quy miền bắc là 481 và 482 tấn công vào trung doàn 44 BB tại Sông Mao từ tháng 7-10/1970, đồng thời thường xuyên tổ chức các cuộc phục kích, phá rối trên quốc Lộ 1, từ đoạn đường cây số 25 nam về tới Phan Thiết và khúc ngang qua mật khu Lê Hồng Phong, từ Long Thành tới Lương Son, Chợ Lầu và phía bắc trong quận Tuy Phong. Thời gian này Bình Thuận còn có sự yểm trợ của Chi Đoàn 3/8 thiết kỵ/QLVNCH và tiểu đoàn 3 thuộc Lử Đoàn 506 nhảy dù Hoa Kỳ và toán viễn thám LLĐB/BTTM/QLVNCH, hải pháo Mỹ ở ngoài khơi, các phi tuần Mỹ - Việt luôn tiếp ứng tỉnh mau lẹ và cấp thời, nên đã bẻ gãy tất cả. Nhưng rồi giai đọan VN hóa chiến tranh và Hiệp Định ngưng bắn 1973 đã thành hình, theo đó các đơn vị chủ lực của VNCH cũng như Hoa Kỳ đều rời tỉnh vào cuối năm 1971 hoặc hồi hương hay nhận nhiệm vụ mới, giao công cuộc bình định và gìn giữ an ninh cho các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của tỉnh lúc đó lên tới 13.000 người đảm trách.

Để chống địch bằng cây nhà lá vườn, Đại Tá Nghĩa đã áp dụng chiến lược mọi người đều phải RA TIỀN TUYẾN kể cả các trưởng ty sở, phó tỉnh trưởng, phó quận... không bỏ đồn bót lẽ loi cho giặc về đêm. Theo lời các nhân chứng hiện ở Hoa Kỳ như Phạm Ngọc Cửu phó tỉnh trưởng, Trung Tá Dụng Văn Đối quận trưởng Hòa Đa rồi Hàm Thuận, Đại Úy Mai xuân Cúc DDT/DD 948 Địa Phương Quân.. thì chính Đại Tá Nghĩa là người đầu tiên xung phong làm gương mẫu cho thuộc cấp, ông đã noi gương cố tổng thống Nguyễn văn Thiệu luôn xông xáo tại chiến trường khi dấu binh lửa, bom đạn còn ngun ngút, đại tá Nghĩa đã lần lượt ngủ đêm tại 173 trong tổng số 197 tiền đồn hẻo lánh và nguy hiểm của tỉnh, do các tiểu trung đội nghĩa quân hoặc xây dựng nông thôn trấn giữ. Nhờ vậy đã tạo được nềm tin trong quân đội cho tới khi mất nước.

Một chiến thuật khác cũng vô cùng hiệu quả, đó là xử dụng hàng rào mìn claymore làm ấp chiến lược lưu động. Với phương pháp này đã làm Việt cộng bị tổn thất nặng và gần như hoàn toàn tê liệt. bẻ gãy kế hoạch nuôi ăn cán binh vì ai cũng sợ toi mạng khi vướng mìn vào ban đêm khi ra vào ấp.

Song song còn có chương trình đập cỏ bắn rắn, tức là ủi quang hai bên quốc lộ 1 từ cây số 25 nam Phan Thiết cho tới Cà Ná, giáp giới Ninh Thuận, các vùng cây cỏ rậm rạp mà trước đây VC dùng làm địa bàn để hoạt động quân sự, thu thuế, phục kích, chặn xe đò... mang lại tình hình an ninh hoàn toàn trong tỉnh và tại thị xã Phan Thiết. Cũng kể từ đó cho tới hồi tàn cuộc, cán bộ xã ấp, công chức không còn phải sống lưu vong và việc Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tới Phan Thiết cùng với Tỉnh Trưởng săn bắn ban đêm ngay trên địa bàn của cái gọi là mật khu Lê Hồng Phong, hay đi xe jeep trên quốc lộ 1 từ Phan Thiết về Phan Rang như lời tự sự của trung Tá Ngô Văn Xuân, trung đoàn trưởng trung đoàn 44, SD 23 BB, trong Quân Sử VNCH, là một xác nhận khích lệ.

Từ sau Hiệp Định ngưng bắn 1973, lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đã được tổ chức và phối trí lại để phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Quyền chỉ huy trực tiếp thuộc tiểu khu, chi khu và các phân chi khu. Quân số cũng được cải tổ từ cấp đại đội thành tiểu đoàn, liên đội và Liên đoàn. Tính đến năm 1973, quân lực VNCH đã có 360 tiểu đoàn Địa Phương Quân, quân số từ binh sĩ, Hạ Sĩ Quan tới Sĩ Quan một số là chủ lực quân biệt phái, nên có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu, có đủ khả năng thay thế các Sư Đoàn bộ binh kề cả các lực lượng tổng trừ bị trong các cuộc hành quân cơ động quy ước chiến, đáp ứng sự hổ trợ đác lực cho các đơn vị chủ lực. Theo tài liệu từ quân sử, cho tới tháng 4-1975, lực lượng Địa Phương Quân - Nghĩa Quân gần 500.000 người và số tử vong cũng nhiều lần so với các lực lượng chủ lực, diều đó chứng tỏ sự chiến đấu dũng mãnh và can trường của họ.

Trong hiệp định Paris năm 1973, có điều khoản cắm cờ nhận đất vào giờ N và Bình Thuận được coi là thí điểm, nơi cộng sản Bắc việt luôn đòi trở thành vùng vỹ tuyến. Các xã giáp tỉnh lỵ như Đại Nẵm, Phú Long, Tuy Hòa, Phú Lâm có nhiều thành phần nằm vùng và người thân vào bưng hoặc tập kết, nên luôn là điạ điểm tin cậy để giặc đóng quân hay đặt Bộ Chỉ Huy. Với quân số lúc đó là 13.000 Địa Phương Quân - Nghĩa Quân, nhưng vì phải bảo vệ 197 ấp nên đã dàn mỏng, trong khi Việt cộng luôn tập trung được ba tiểu đoàn địa phương, ngoài ra còn có một trung đoàn chủ lực từ quân khu 6 tăng phái và cán binh cơ sở, nên tình thế lúc đó cũng thật nguy hiểm. Rồi giờ G cũng tới, Việt cộng tấn công một lúc 13 ấp trong tỉnh nhưng nặng nhất là tại ấp Đại Tài, xã Đại Nẳm.

Nhờ đã chuẩn bị trước, nên sau hai ngày giao tranh, Việt cộng thất bại trong âm mưu cắm cờ giành đất, một phần là do đồng bào có ý thức quốc gia không chịu hợp tác hay đồng khởi, phần khác sợ tai bay đạn lạc nên đã bồng bế nhau tản cư khỏi vùng chiến địa theo lời kêu gọi của tỉnh qua truyền đơn và đài phát thanh. Cuối cùng các ấp xã chỉ còn thuần túy là chiến địa, điểm hợp đồng của pháo binh và phi pháo, trước khi các đơn vị Địa Phương Quân - Nghĩa Quân mở cuộc tấn công, làm Việt cộng phải lẫn trốn, mang theo nhiều xác chết đồng bọn khi tháo chạy sau hai ngày giao tranh đẳm máu, nhưng vẫn bỏ lại tại ấp Đại Tài, xã Đại Nẳm 121 xác chết..

2. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI BÌNH THUẬN
Ngày 7-4-1975, tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh QĐ2 từ Nha Trang đáp trực thăng ghé thăm Bộ Chỉ Huy tiểu khu Bình Thuận lúc đó đang đóng tại lầu ông Hoàng, thuộc xã An Hải quận Hải Long. Lúc này, tướng Phú đã bị tước chức Tư Lệnh QĐ2 và do tướng Nguyễn Văn Hiếu thay thế. Tình hình đã bắt đầu hổn loạn vì Ninh Thuận, Bình Thuận đã trở thành vùng hỏa tuyến. Sau này tại hải ngoại, có dịp tiếp xúc với những giới có thẩm quyền của Bình Thuận trong phút giờ hấp hối như Đại Tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa, ông Phạm Ngọc Cửu phó tỉnh trưởng, Trung Tá Dụng Văn Đối, quận trưởng Hàm Thuận và các đại úy Nguyễn Chánh Trúc, DDT giữ cầu Phú Long nhưng quan trọng nhất là tự sự của Đại Úy Mai Xuân Cúc, đại đội trưởng ĐĐ 948 Địa Phương Quân là đơn vị giữ an ninh trong thị xã Phan Thiết cho tới giờ phút cuối cùng. Tóm lại không giống như nhiều tỉnh thị khác, Bình Thuận vào những giờ phút hấp hối, đã không có những trận đánh không có đại bàng như một tác giả nào đã viết trong mấy năm trước, vì tất cả đại bàng từ cấp thấp nhất như Thiếu Úy Phùng Thế Xương phân chi khu trưởng PCK Hòa Vinh, trung úy Lê Ngữ phân chi khu trưởng PCK Thiện Khánh cho tới các đại bàng cao cấp ở quận như Trung Tá Dụng Văn Đối, thiếu tá Phạm Minh trung tâm trưởng Trung Tâm Tiếp Vận. Các vị Phó tỉnh tưởng, quận trưởng, trưởng ty và trên hết là đại tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa đều không bỏ chạy.

Sự sụp đổ nhanh chóng của QLVNCH từ khi Ban Mê Thuộc thất thủ, tiếp theo là cuộc di tản đẳm máu trên liên tỉnh lộ 7-B và Quân Đoàn 1, cuộc lui binh tại Qui Nhơn, Quảng Ngãi... khiến cho vòng vây bao quanh Sài Gòn càng lúc càng thu hẹp. Mặt bắc, Phan Rang và Phan Thiết trở thành vùng hỏa tuyến phải đương đầu với nhiều lộ quân hùng hậu của cộng sản Bắc Việt có đầy đủ xe tăng, pháo hiện đại do Liên Xô, Trung Cộng và các nước Động Âu trong toàn khối cộng sản quốc tế viện trợ, trong lúc đó, VNCH đang lâm vào tuyệt lộ vì đồng minh Hoa Kỳ đã cạn tào ráo máng, rút ván qua sông. Ngoài ra còn đem danh lợi cò mồi một số tướng lãnh miền nam bỏ nước ôm của chạy, khiến cho QLVNCH bốn bề thọ địch, chỉ còn chờ chết mà thôi.

Ngày 4-4-1975, hai tỉnh còn lại của QD2 là Ninh Thuận và Bình Thuận được sáp nhập vào QD3 lúc đo do tướng Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh, bổ nhiệm thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm tư lệnh tiền phương QD3, chỉ huy mặt trận Phan Rang, vốn là quê hương của Tổng Thống Thiệu. Trong dịp này Phan Thiết cũng được tăng cường trung đoàn 6 và một pháo đội thuộc Sư Đoàn 2 BB vừa di tản từ Quãng Ngãi vào Bình Tuy.

Tại Phan Thiết, thời gian này đã giao tranh ác liệt với trung đoàn 812 chính quy và các tiểu đoàn địa phương Việt cộng, nhưng đã giữ vững được phòng tuyến nhờ sự yểm trợ của phi pháo và hỏa pháo VNCH. Ngày 16-4-1975 mặt trận Phan Rang tan vỡ, các tướng lãnh Nghi, Sang, đại tá Nguyễn Thu Lương và nhiều sĩ quan cao cấp khác của VNCH bị bắt làm tù binh. Từ đó Bình Thuận là chiến tuyến về hướng tây bắc, phía nam Bình Tuy vẫn còn nhưng đường bộ bị bít vì giao tranh long trời lỡ đất đang nổ tung tại Xuân Lộc, Long Khánh từ ngày 9 cho tới 14/4/1975.

Vào ngày 2/4/1975, đại đội 948 Địa Phương Quân đang đóng tại Ấp Hiệp Hòa, xã Chợ Lầu, quận Hòa Đa thì được lệnh Trung Tá quận trưởng Kiều Văn Út theo chỉ thị của P3 Tiểu Khu, về tăng cường thị xã Phan Thiết, nhưng đóng quân tại trường nông lâm súc Phú Long, bảo vệ Trung đội pháo binh đóng gần cầu đang yểm trợ hỏa pháo cho chi khu Thiện Giáo. Ngày 3-4-1975, đoàn di tản từ Nha Trang - Đà Lạt về trong đó có đủ mọi quân binh chủng kể luôn trường Võ Bị Quốc Gia, nổ súng bắn loạn xạ làm cho dân chúng sợ hãi và trước khi ra đi đã cướp bóc cũng như đốt chợ lớn Phan Thiết được xây dựng từ năm 1899. Lúc này tại khu vực Phú Long và các vùng lân cận, ngoài Đại Đội 948 của Đại Úy Cúc từ Hòa Đa về tăng cường, còn có đại đội 283 Địa Phương Quân của đại úy Nguyễn Văn Ba giữ Tuy Hòa, DD 3/TD 249 Địa Phương Quân của Đại Úy Hòa phụ trách xã Hòa Vinh, nên tình hình an ninh cũng khả quan, ngoài các vụ pháo kích, bắn sẻ vào ban đêm mà thôi.

Vào ngày 15-4 75 chi khu Thiện giáo tại huyện ly Ma Lâm được lệnh di tản chiến thuật vì không chịu nổi đại pháo 130 ly của Việt cộng. Các đơn vị của chi khu do Đại Úy Lê Văn Tuân, Chi Khu phó chỉ huy đoàn xe, qua cầu Phú Long về Phan thiết. Ngày 16-4-75 lại thêm một đoàn quân xa đông đảo gồm đủ mọi thứ binh chủng như Dù, Biệt Động Quân, Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Địa Phương Quân... từ Phan Rang cũng qua cầu Phú Long, để di tản về Sài Gòn sau khi Ninh Thuận mất. Lúc này tình hình trong thị xã Phan Thiết đã bắt đầu hỗn loạn, nhiều gia đình kể cả công chức đã cuốn gói ra đi bằng thủy lộ, trong phố hầu như chỉ còn lại người nghèo không có phương tiện đào sanh, các hàng cột đèn không có chân và lính, cảnh sát, Xây Dựng Nông Thôn ở lại mà thôi. Từ ngày 10/4/75 Đại Đội 948 Địa Phương Quân của Đại Úy Cúc đổi vùng, di chuyển về đóng cạnh căn cứ của Duyên Đoàn 28 Hải Quân sát cửa Thương Chánh thuộc ấp Vĩnh Phú, để bảo vệ cho Bộ Chỉ Huy hành quân của Trung Tá Trì, TKP/TKBT. Lúc đó Đại Tá Nghĩa cho thành lập hai Bộ Chỉ Huy hành quân, Bộ Chỉ Huy chánh do ông trực tiếp điều động toàn bộ lực lượng Địa Phương Quân - Nghĩa Quân đóng tại Lầu ông Hoàng, còn TKP làm việc với các phòng 2,3 hành quân. Cũng trong ngày, Đại Úy Cúc nhận lệnh trực tiếp từ Đại tá Nghĩa, dẫn Đại Đội 948 Địa Phương Quân biệt phái cho yêu khu châu thành tại trại Đinh công Tráng của Thiếu tá Cư, trước sân vận động Quang Trung, nằm kế một phân đội YTQC sát trường Trung học tư thục Bạch Vân và Dân Y Viện Phan Thiết. Lúc này Việt cộng đã pháo kích nhiều hỏa tiễn 122 ly vào phố, các khu vực quanh TK và Tòa Hành Chánh thường hứng đạn. Sở dĩ Việt cộng bắn rất chính xác vì tiền sát viên của chúng là bọn nằm vùng, một tên giả làm ngư ông câu cá dươi chân cầu Phan Thiết, tên khác là cận vệ của Đại Tá Nghĩa, một tên làm tùy phái cho Tòa Hành Chánh...

Theo Cúc, thì Phan Thiết lúc đó hầu như chỉ còn có lính mà thôi, Đại Đội 948 Địa Phương Quân phòng thủ ấp Đại Tài, Đại Đội 206 trinh sát tỉnh của Đại Úy Lê Văn Trò giữ xã Tường Phong, kế đồn Trinh Tường, xa hơn có Tiểu Đoàn 202 Địa Phương Quân do Đại Úy Nguyễn Văn Hoàng, thế thiếu tá Bích làm XLTV tiểu đoàn trưởng, đóng tại Phú Hội và vùng giáp ranh với Đại Nẳm. Trên liên tỉnh lộ 8, tiểu đoàn 275 Địa Phương Quân bao vùng từ cầu Bến Lội, xã Lại An trên quốc lộ 1, qua tới các ấp Tân An, Tân Điền trên đường Phan Thiết - Ma Lâm. Về phía nam giao cho một Đại Đội/Địa Phương Quân và một Liên Đội Nghĩa Quân giữ cổng chữ Y, bảo vệ các ấp Kim Hải, Bình Tú và Đức Long. Trong phố, phần an ninh được giao cho các đơn vị Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ do Thiếu Tá Nguyễn Thanh Hải, xã trưởng xã châu thành Phan Thiết chỉ huy. Tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Bình Thuận nằm trên đường Cao Thắng, phía sau CLB sĩ quan và Trung Tâm Tiếp Vận, là phần phòng thủ của một tiểu đoàn Cảnh Sát Dã Chiến do trung tá trưởng ty điều động. Tại Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch không có đơn vị nào tăng phái bảo vệ, chỉ còn các quân nhân cơ hữu do y sĩ đại úy Lê Bá Dũng và trung úy Công, Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị của Đơn vị chỉ huy. Cũng theo lời Đại Úy Mai Xuân Cúc hiện ở Hoa Kỳ, một nhân chứng thật của Bình Thuận trong lúc đó, thì vị thiếu tá Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch đã di tản chiến thuật về Sài Gòn từ đầu tháng 4/1975 khi Bình Thuận đang bước vào giờ thứ 25 định mệnh. Trong ngày 17/4/75, Việt cộng pháo kích ban ngày lẫn đêm, một vài quả bích kích pháo và hỏa tiễn rơi rớt quanh các khu quân sự, trước tiểu đội quân cảnh điều tra tư pháp và ty bưu điện, thành phố thật sự đã chết, nhà nhà cài chặt cửa, chen chúc chui rúc dưới các hố tránh đạn thô sơ làm bằng bao cát mua ngoài chợ. Nơi nơi im vắng não nùng ngoại trừ khu vực cồn chà Đức Thắng vẫn còn hoạt động tấp nập vì ai cũng chạy.

Giờ N đã tới lúc 17 g 30 chiều ngày 18-4-1975, phòng tuyến Phú Long vỡ nhưng cầu không phá kịp, tuy nhiên phía bên khu vực Phước Thiện Xuân, An Hải, kể cả Hải Long, Lầu ông Hoàng vẫn chưa vỡ tuyến, đại tá Nghĩa cùng Bộ Chỉ Huy vẫn đủ giờ di chuyển về cửa thương chánh, trong lúc ngoài khơi có hằng hà tàu chiến của hải quân VNCH nhưng không làm gì được vì tàu lớn không áp sát ven bờ được, hơn nữa sợ pháo kích như đã từng xảy ra ở Qui Nhơn, Phan Rang, Cà Ná... Bên Quốc Lộ 1, đoàn âm binh của cộng sản Bắc Việt với xe tăng, pháo và hàng hàng lớp lớp cán binh cỡ lộ quân, chừng mấy chục ngàn người, ào ào hơn sóng cuộn cuồng phong di chuyển khắp các nẽo đường phố thị. Tất cả các phòng tuyến Địa Phương và Nghĩ Quân gần như bị đè bẹp trước đạn súng tối tân của Nga Hoa. Tại phòng tuyến ở Đại Tài, Đại Úy Cúc nhận được lệnh từ Thiếu Tá Cư, yếu khu trưởng trên máy PRC 25 cho biết Việt cộng đã chiếm được Tòa Hành Chánh, Tiểu Khu nhưng tại Trung Tâm Tiếp Vận, Thiếu Tá Phạm Minh đã đốt được các kho quân nhu trước khi di tản, Bình Thuận coi như đã mất, DD 948 của Cúc được lệnh vượt sông Cà Ty để di tản về Bình Tuy.

Nửa đêm rạng sáng ngày 19/4/75, đại đội tới được xóm đạo Văn Lâm, từ đó lần về quận đường Hàm Thuận, mới biết Trung tá Dụng văn Đối chi khu trưởng cùng đại úy Lê Viết Lợi chi khu phó, cũng đã nhận được lệnh di tản. Đêm khuya thật là buồn, cả đại đội phần đói khát thêm lạnh run vì quần áo ướt sủng nước khi lội qua sông, nên tạm bố trí tại ngả hai Phú Lâm vào lúc 2 giớ sáng, để rồi khi tiếng gà đầu vừa cất thì mọi người cũng choàng dậy, băng quốc lộ 1, đi ngược về hướng Phú Khánh, Bình Tú để xuống bến tàu cạnh phi trường đợi hải quân vào rước theo lệnh của TKBT. Trong đêm 18/4/75, qua máy truyền tin vẫn còn liên lạc 24/24, Đại Úy Cúc biết được Thiếu Tá Cư yếu khu trưởng châu thành cùng Trung Tá Trí đã xuống được thuyền của Duyên Đoàn 28 Hải Quân. Theo Điệp Mỹ Linh trong tác phẩm "HQ.VNCH ra khơi năm 1975" thì giữa lúc khói đạn mịt mùng, tàu Hải Quân 505 nghe tiếng cầu cứu của Đại Tá Nghĩa trong máy PRC 25 nhưng bất lực, tuy nhiên như lời ông Phạm Ngọc Cửu phó tỉnh trưởng, thì đại tá cuối cùng nhờ được một ghe đánh cá đưa ra tàu lớn và đã rớt xuống biển khi hai chiếc va chạm, cũng may mọi người cứu ông kịp thời.

Sáng ngày 19-4-75 tuy Việt cộng đã làm chủ Phan Thiết nhưng khu vực bến tàu thuộc ấp Kim Hải, phía sau QYV Đoàn Mạnh Hoạch và phi trường vẫn còn thuộc quyền kiểm soát của QLVNCH, trên bãi có đầy lính đủ mọi quân binh chủng, từ Dù, Sư Đoàn 2, Biệt Động Quân tại mặt trận Phan Rang còn đọng lại, cho tới các đơn vị Địa Phương Quân -Nghĩa Quân tỉnh.

Cũng trong ngày 19-4-75, một chiếc L19 của Không Quân/VNCH bay trên thành phố, kêu gọi các lực lượng Địa Phương Quân - Nghĩa Quân đang bị thất lạc, phải tìm cách xuống bến tàu để được lực lượng Hải Quân Vùng 2 Duyên Hải cứu vớt đem về Nam. Một phi tuần F.5 có nhiệm vụ dội bom phá sập ba cây cầu trên dòng sông Mường Mán, hầu ngăn cản bước tiến quân của cộng quân nhưng đánh lạc vào ngả tư quốc tế, làm hư hại một vài căn nhà trên đường Gia Long, Ngô Sĩ Liên và Nguyễn Tri Phương.

Cuối cùng nhờ kỹ luật và bình tĩnh, tất cả các quân nhân mọi binh chủng có mặt trên bãi biển Bình Tú vào lúc 10 giờ sáng ngày 19-4-75 đều được vớt. Lúc đó thủy triều đang xuống nên đoàn tàu lớn phải đậu xa bờ hơn nữa cây số. Tuy nhiên nhờ những chiếc tàu đổ bộ LCM nên tất cả các đơn vị kể cả chi đoàn TQV thuộc thiết đoàn 8 kỵ binh hành quân tại Phan Thiết, cũng được theo tàu về nam, ngoại trừ một chiếc bị chìm tại bải Vĩnh Phú.

Tóm lại, đoàn tàu hải quân thuộc Bộ Tư Lệnh vùng 2 duyên hải đã hoàn thành nhiệm vụ, chở hơn 3,000 quân nhân các cấp thuộc Địa Phương Quân - Nghĩa Quân Bình Thuận trong đó có ÐÐ 948 Địa Phương Quân của Đại Úy Mai Xuân Cúc, cùng các lưc lượng Dù, BÐQ, SÐ 2 BB và mọi quân binh chủng tham chiến tại Phan Thiết – Phan Rang trong những giớ phút hấp hối ngày 19-4-1975, đoàn tàu Hải Quân đã cặp bến Vũng Tàu an toàn lúc 3 giờ sáng ngày 20-4-1975 và các đơn vị lại được Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa tiếp rước hướng dẫn, vào trú đóng tại doanh trại cũ của Trung Đoàn 43/SÐ 18 BB ở Bà Rịa, cùng góp phần tham chiến với các đơn vị bạn tại đây cho tới ngày tàn cuộc.

Riêng Trung Tá Dụng Văn Đối, quận trưởng Hàm Thuận, ngày 18-4-1975 cho người đốt các kho đạn, kho quân tiếp vụ, sau đó cùng Liên Đoàn Địa Phương Quân - Nghĩa Quân, một pháo đội và một chi đội thiết giáp V100, mở cuộc hành quân từ Hàm Thuận vào tới Bà Rịa một cách an toàn. Đoàn quân di tản này được bổ sung cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh chiến đấu tại Bên Lức Long An, cho tới ngày tàn cuộc. Như vậy, trong những ngày cuối cùng QLVNCH đã có hai cuộc lui binh thành công, một tại bến tàu Kim Hải, Phan Thiết do Bộ Tư Lệnh/V2DH thực hiện, vớt Địa Phương Quân - Nghĩa Quân - BT và nhiều quân binh chủng tham dự trận Phan Rang. Cuộc lui binh thứ hai bằng đường bộ từ Long Khánh về Phước Tuy của SÐ 18 BB và các đơn vị do Thiếu tướng Lê Minh Đảo chỉ huy.

Đời lính với sống chết trong gang tấc, những thanh niên thời đại VNCH họ đã làm tròn nhiệm vụ và làm hơn cả những gì họ có thể làm để bảo vệ miền nam và người dân nam, thời gian càng lúc càng sáng tỏ chính nghĩa của họ khi mặt thật của của cộng sản Hà Nội trơ trẽn lộ ra: hại dân, bán nước và hèn nhát.

Mường Giang


 

 photo amcr2p.jpg


 

0000000000000000000000000000000000
 photo 7617466302_f747473bed_o.jpg



      Viết Tặng Người Lính Tôi Quen


      Tôi gặp anh khi tuổi còn rất nhỏ,
      Toán lính qua làng để bình định an dân.
      Anh hiên ngang cùng đi giữa đoàn quân,
      Rồi tiến thẳng vào ngôi nhà tôi ngồi nghỉ.

      Nón sắt, ba lô, poncho và vũ khí,
      Các anh vui cười, lễ phép hỏi Ba tôi:
      "Bác cho chúng con mượn tạm mảnh sân thôi,
      Đêm nay nghỉ, mai đi hành quân tiếp".

      Tôi gặp anh một buổi chiều vàng rất đẹp,
      Tuổi trăng non chưa hề biết mộng mơ.
      Học trường xa ngày nghỉ mới trở về,
      Con đường vắng chốt lính canh xuất hiện.

      Anh chặn tôi: "Giờ nầy về bất tiện,
      Giặc về làng quậy phá tối hôm qua,
      Đơn vị Anh quần thảo đến canh ba,
      Giặc rút chạy, toán quân nhà vô sự!"

      Tôi gặp Anh tuổi xuân thì thiếu nữ,
      Rất bình thường, không mơ mộng, kiêu sa,
      Tan trường về biết mong ngóng Người Ta,
      Rồi tự nhủ: chắc đang hành quân gấp đó!

      Anh quân nhân không mũ xanh, mũ đỏ, Không hoa dù, cũng chẳng Thiết Vận Xa, Không lênh đênh lấy biển cả làm nhà, Không bay bổng giữa trời cao gió lộng.

      Anh người lính: niềm tin và hy vọng, Ngăn giặc thù giữ thôn xóm bình an, Ngày hành quân ven biên giới Tỉnh - Làng, Đêm đi kích cũng ruộng hoang, gò mả.

      Địa Phương Quân - lính con rùa nhưng vất vả,
      Sống giữa lòng Dân mà nguy hiểm bội phần,
      Đang nói cười lựu đạn nổ - thây phân,
      Đường sanh tử đếm thời gian tích tắt.

      Quán cà phê có thể là trạm giặc,
      Thằng bé qua đường có thể "giao liên".
      Cô bé xinh xinh trông rất nhu hiền,
      Nào ai biết đó là "Đặc công cộng sản"?

      Tôi gặp Anh trong dòng người hỗn loạn,
      Thấp thỏm chờ tàu vận chuyễn xuôi Nam,
      "Cuộc di tản" như triệt cả đoàn quân,
      Vùi ý chí, nén đau buồn "thúc thủ"!

      Tôi gặp Anh giữa chợ trời lam lũ,
      Tấm thân gầy phủ mảnh áo vá vai.
      Áo rách vá, làm sao vá đời trai,
      Bị tơi tả sau tháng ngày nghiệt ngã?

      Tôi gặp Anh đang mong manh hơi thở,
      Thân phận con người đang trăn trở giựt giành,
      Cuộc chiến sau cùng đã định sẳn lằn ranh,
      Nhưng người lính đó vẫn trong tôi mãi mãi!

      Lê Thị Hoài Niệm



 photo ARVN soldiers and RVN citizens traveling down the road. Kontum Province.jpg


 




Người Lính Nghĩa Quân Trong Tim Tôi




Nguyễn Thanh Thủy

Năm tôi được 10 tuổi, gia dình tôi bỏ ruộng vườn vào ở trong khu Ấp Chiến Lược, được bao bọc bởi một vòng thành kiên cố có kẽm gai, có hào sâu chung quanh. Ở hai đầu ấp có hai cái đồn Nghĩa Quân nhỏ. Ba má tôi thỉnh thoảng trở về nhà làm ruộng, gặt lúa ban ngày, rồi ban đêm vào xóm ở. Ấp Chiến Lược là một công trình chiến lược dùng để cô lập Việt Cộng ra khỏi dân chúng. Việt Cộng hay trà trộn trong dân và bắn giết dân chúng và quân lính Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc nầy Việt cộng bắt đầu nổi dậy mạnh ở miền Tây, thâu thuế, giết hại dân thường, ám sát Xã Trưởng, Ấp Trưởng của VNCH gây kinh hoàng cho dân chúng, gây mất ổn định cho xã hội miền Nam đang sống trong thanh bình.

Việt cộng bịt mắt, chặt đầu hay chôn sống bất cứ người nào họ nghi ngờ là đang cộng tác với chính quyền VNCH. Khu ấp chiến lược tôi ở được bảo vệ bởi một trung đội Nghĩa Quân, gồm có ba tiểu đội. Các chú lính hay ở trong đồn, còn vợ con họ sống trong các căn nhà nhỏ trong xóm. Nhà tôi ở gần nhà ông Tiểu Đội Trưởng, tôi kêu là chú Tấn.

Canh giữ xóm làng.

Lúc mới vào ấp tôi chỉ là một đứa con gái nhỏ quê mùa ngơ ngác. Nhưng lần lần tôi cặp bè bạn chơi với mấy đứa bạn, gái có, trai có, lớn tuổi, lanh lợi hơn, tôi học được nhiều thứ mới mẻ. Tôi biết cả tên cây súng nào là cây Carbine, cây nào là Garant, Thompsom, cây nào là cây súng phóng lựu. Tôi biết tên hầu hết các chú lính nghĩa quân trong tiểu đội của chú Tấn, nào là chú Tường, chú Sanh, chú Đúng, chú Quít, chú Mực... Các chú rất hiền và chú nào cũng nghèo. Bộ quân phục được các bà vợ vá nhiều chỗ. Tôi hay lân la đến nhà các chú chơi với con của họ. Với đồng lương Nghĩa Quân khiêm tốn, các chú ăn uống rất đạm bạc, thường là cá linh, cá lòng tong kho, với rau lang luộc hoặc chút ít canh bí, canh bầu. Hầu như chú nào cũng có vợ và vài ba đứa con. Khi rảnh rỗi tôi thấy các chú hay giúp việc nhà cho vợ buôn bán chút đỉnh kiếm thêm tiền. Có chú giữ con cho vợ ngồi bán rau ngoài chợ. Có chú xay bột cho vợ làm bánh tầm, bánh bò bán cho dân trong xóm.

Một người lính bộ binh trẻ.

Chú Tấn còn trẻ, nhưng ít nói. Thím Tấn là một người đàn bà hiền lành, có đôi mắt đẹp, to và dễ khóc. Chú hay xay đậu nành làm thành bánh đậu hủ cho thím ủ chao, ủ tương, rồi thím đem bán vào những buổi chợ rằm, chợ ba mươi cho người ta ăn chay. Chú thím Tấn có hai đứa con. Thằng Dũng được 6 tuổi, con Lan 3 tuổi. Khi bận bán tương, chao, thím Tấn hay gởi hai đứa nó nhờ tôi giữ dùm. Tôi hay chơi đùa và coi chúng nó như em. Tụi nó cũng rất thương tôi.

Rất ít khi dân trong xóm gặp các chú Nghĩa Quân ra đi hành quân, các chú lặng lẽ ra đi khi trời sụp tối để giữ bí mật. Họ âm thầm canh gác đâu đó dọc theo bờ thành ấp chiến lược, sáng sớm mới trở về. Họ đi về im lặng như những cái bóng mờ. Có những sáng tôi hay gặp các chú trở về, thường thì chỉ có cái áo khô, quần các chú ướt đẫm, sình bùn lên trên đùi. Các chú thường đi dép hay đi chân không, chẳng mấy ai có được đôi giầy.

Có khi đang đêm, tôi nghe súng nổ giòn rã. Sáng hôm sau các chú lính quen thuộc mang về hai cây súng chiến lợi phẩm của Việt cộng cùng với vài trái lựu đạn. Các chú kể cho mọi người trong xóm nghe là đêm rồi một toán Việt cộng băng qua ruộng phá hàng rào định đột nhập vào ấp chiến lược thu thuế và bắt dân đi làm dân công, qua sự hướng dẫn của một tên giao liên là người trong ấp. Các chú bắn chết hai tên, thây còn bỏ ngoài bìa ấp. Chúng tôi rủ nhau đi coi xác Việt cộng. Có lần các chú bắn chết cả một xuồng Việt cộng đang băng qua sông. Nhờ các bác ghe chài vớt lên, được nhiều súng. Sáng hôm sau ông Quận Trưởng bất ngờ đến đồn Nghĩa Quân xóm tôi, khen ngợi và thưởng tiền mua một con heo quay thật lớn. Các chú được dịp ăn nhậu vui vẻ. Mấy đứa con các chú Nghĩa Quân cũng hí hửng được dịp ăn thịt heo quay.

Một ngày nọ tôi đi học về thấy cả xóm nhốn nháo lên, mấy thím vợ lính hớt hãi lo lắng. Thím Tấn nước mắt quanh tròng. Tôi hỏi thì thím cho tôi hay Trung đội Nghĩa Quân vừa bị tấn công và hai chú Nghĩa Quân hiền lành của xóm tôi vừa hy sinh, đền nợ nước. Chú Mực mà tôi quen thì bị đạp mìn Việt cộng gãy giò. Thật là một cái tang lớn cho cả xóm tôi. Linh cửu của hai chú được quàng tại chùa, vợ con lối xóm khóc lóc tỉ tê. Đến chiều thì người ta chôn hai chú ngoài bờ rào ấp. Một hàng 6 chú Nghĩa Quân đứng chào trên bờ huyệt. Quan tài hạ xuống, các chú bắn 6 loạt đạn điếc tai. Mặt các chú rất đau khổ, gầm lại khác hẳn các khuôn mặt hiền từ hàng ngày mà tôi thấy.

Vợ con hai chú đòi nhảy xuống huyệt chết theo chồng. Nhiều người phải xúm lại kéo các thím lên, khó khăn lắm mới dẫn được họ về nhà. Bọn chúng tôi và mấy đứa con trai ngày thường hay chạy nhảy, phá phách, la hét, mà giờ cũng đứng im ru. Tôi không biết Việt cộng là ai, nhưng tôi lờ mờ hiểu rằng họ là người không tốt, vì họ bắn phá mà gia đình tôi phải bỏ thôn xóm vào đây. Giờ họ còn theo định đột nhập vào cái ấp chiến lược nầy làm chi nữa?

Lính VNCH hành quân.

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt. Việt cộng bắt đầu tấn công miền Nam ở cấp số lớn hơn. Họ đặt mìn giật xe chạy trên quốc lộ, họ giật xập cầu, bắt dân chúng đi đắp mô cản đường xe chạy. Có khi họ giật mìn chết cả một chiếc xe đò. Nhiều người chết có cả đàn bà và trẻ em, thịt xương văng tung tóe. Có lúc họ pháo kích hay đặt mìn giật xập trường học của học sinh miền Nam. Tiểu đội của chú Tấn phải đi kích liên miên. Thím Tấn lo âu thấy rõ. Trung đội Nghĩa Quân lập được nhiều chiến công. Nhưng các chú Nghĩa Quân mà tôi quen biết cũng vơi dần. Họ đã âm thầm ra đi như những người chiến sĩ vô danh và trở về im lìm, trong những chiếc chiếu, những cái poncho, trong cái cảnh da ngựa bọc thây.

Rồi cái ngày đau thương của thím Tấn và hai đứa con dại đã đến Chú Tấn và một chú Nghĩa Quân nữa hy sinh trong một cuộc đụng độ dữ dội với Việt cộng năm 1965. Xác chú được khiêng để trên bộ ván trong căn nhà nhỏ của chú. Khi tôi đi học về, tôi thấy người ta đang tắm rửa thay đồ rồi để một nải chuối lên bụng chú, ngọn đèn dầu leo lét được thắp trên đầu nằm có để một chén cơm và một cái trứng vịt. Đầu chú được băng bông trắng. Máu còn rỉ ra bên màng tang. Vợ con chú vật vã khóc than, đau đớn không thể nào kể xiết. Tôi đến mắm tay hai đứa nhỏ. Thằng Dũng thỉnh thoảng hỏi tôi: “Bộ Ba em chết rồi hả chị?” Tôi chỉ ừ, không biết trả lời làm sao!

Lính VNCH dừng quân.

Đến khi chôn chú Tấn, hàng loạt đạn đưa tiễn vang rền. Thím Tấn chết lên chết xuống, bộ đồ tang trắng bê bết bùn sình. Người ta phủ lên cái mã đất của chú Tấn một lá cờ Việt Nam Cộng Hòa thật dài. Bốn phía có cắm bốn lóng trúc có gạo và muối. Tôi phải dẫn con Lan và thằng Dũng về nhà. Nước mắt tôi tuôn rơi. Cuộc sống chúng tôi đang êm đềm hiền hòa, thì tại sao người ta phải tấn công thôn ấp, giết hết người nầy người nọ. Để làm gì?

Miền Nam độc lập tự chủ, có ai chiếm đóng miền Nam đâu, mà phải giải phóng chúng tôi. Cuộc đời dân miền Nam không hạnh phúc, sung sướng gấp chục lần dân miền Bắc hay sao? Tại sao các người phải giết chú Tấn của chúng tôi để cho cuộc đời mẹ con thằng Dũng từ đó ảm đạm, sa sút hẳn đi. Thím Tấn khóc hoài không dứt... Năm sau, gia đình tôi dời đi chỗ khác. Tôi ít được gặp lại Thím Tấn, thằng Dũng và con Lan.

Năm năm sau, tôi mới được về thăm ấp cũ, tôi mừng rỡ gặp lại thím Tấn và hai đứa con. Bây giờ ngày nào thím cũng phải ra chợ bán tương chao nuôi con. Thằng Dũng vẫn còn nhớ tôi nhưng con Lan thì không nhận ra tôi nữa. Sau nầy tôi có dịp tiếp xúc với nhiều binh chủng oai hùng khác của quân lực VNCH, nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ về các chú Nghĩa Quân hiền lành mà tôi đã biết năm nào. Hơn phân nửa các chú đã nằm xuống để bảo vệ làng xóm, quê hương tôi. Số còn lại có người gãy chân, có người cụt tay, sống đời tàn phế. Việt Cộng đã chà đạp lên Hiệp Định Hòa Bình Paris mà họ vừa ký kết năm 1973, cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, đưa cả nước xuống 10 tầng địa ngục.

Một cảnh Huynh đệ chi binh, dìu bạn bị thương.

Thân tôi giờ xa xứ xa quê, đã hiểu được ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các anh, các chú quân nhân quân lực miền Nam, thỉnh thoảng tôi nhớ lại các chú lính Nghĩa Quân tôi quen biết mà thấy lòng thương lắm. Cùng với bao nhiêu binh chủng khác của quân đội, các chú âm thầm lặng lẽ hy sinh, cho dân chúng trong ấp tôi được sống trong yên bình. Các chú đem xương máu ra bảo vệ nền tự do, dân chủ mới được thành hình trên miền Nam yêu dấu.

Các chú đã nằm xuống - bỏ lại con thơ, vợ dại - để ngăn cản bọn quỷ đỏ hung tàn trong công cuộc tiến chiếm miền Nam, áp đặt cả nước trong một chế độ độc tài, hung bạo, không lối thoát. Các chú đã đem sinh mạng, xương máu của mình, để ngăn cản bọn bán nước buôn dân đày đọa cả dân tộc, và đưa đất nước Việt Nam đi ngược dòng tiến hóa của nhân loại. Các chú đã anh dũng hy sinh, ngăn cản bọn CSVN chiếm đoạt đất nước làm tài sản riêng tư cho đảng, rồi tự ý dâng hiến đất đai, hải đảo của tiền nhân cho quan thầy Trung Cộng.

 photo KGrHqRnsE63V3f09BO1R7k5Vg60_3.jpg
Canh giữ xóm làng.

Hỡi cô bác, hỡi anh chị ơi! Nếu vị nào may mắn, có cuộc sống bình yên xin đừng quên các chú lính Nghĩa Quân đang sống đời tàn phế. Xin đừng quên các chú Nghĩa Quân đã lặng lẽ hy sinh để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Xin đừng quên vợ con họ, bị bỏ lại sau lưng với cuộc đời đau khổ.

Nguyễn Thanh Thủy

(Bài nầy được viết dựa vào những sự kiện có thật. Vì sự an toàn của một số người còn kẹt lại, tác giả tạm thời không đề cập đến những địa danh và tên người cần thiết trong bài nầy.

http://www.vietlist.us/VietHistory/nguoilinhnghiaquan.shtml


 

 



 photo Regional Forces soldier.jpg

 

Người Lính Địa Phương Quân Và Nghĩa Quân Trong Những Ngày Hấp Hối Tháng 4-75 Tại Bình Thuận

Thời VNCH (1955-1975), Quân Đoàn 2 chiếm một lãnh thổ có diện tích lên tới 78.841 km2, rộng nhất trong bốn vùng chiến thuật. Bộ Tư Lệnh đóng tại Pleiku, còn hai Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 2 và 5 thì ở Qui Nhơn và Nha Trang - Cam Ranh, còn có hai Sư Đoàn 2 và 6 Không Quân chiến thuật đóng tại Pleiku và Nha Trang. Các phi trường Nha Trang, Bửu Sơn, Phù Cát và Cù Hanh rộng lớn tối tân. Vùng II Chiến Thuật bao gồm 12 tỉnh Cao Nguyên và duyên hải trung phần, trong đó quan trọng và cũng có nhiều phiến cộng, nằm vùng nhất là Bình Thuận - Bình Định.

Để xâm lược miền nam, cộng sản Bắc Việt cho mở lại con đường giao lộ đã có sẵn từ thời toàn dân kháng chiến chống Pháp 1945-1954, thành con đường chiến lược mang đủ thứ tên trong đó có Hồ Chí Minh, xuất phát từ Hà Nội vào tới Cà Mâu dài trên 2000 cây số. Con đường khai sinh đồng thời với cái mặt trận ma Giải Phóng Miền Nam sau khi vượt qua vùng phi quân sự ở Bến Hải, men theo rặng Trường Sơn, tới Đổ Xá, Kòn Tà Nừng, Chulya, Khánh Hòa. Tại đây đường phân làm hai nhánh, một đi ngược lên Lâm Đồng, Quảng Đức, Phước Long về Sài Gòn. Nhánh hai tới Ninh Thuận, Bình Thuận, Rừng lá, rừng sát, Biên Hòa…

Sau ngày binh biến 1-11-1963, VNCH gần như vô chính phủ, rối nát tan hoang do đám kiêu tăng loạn tướng gây ra, mãi tới cuối năm 1967 khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng Thống VNCH, tình thế mới tạm ổn định. Bình Thuận là một trong các tỉnh ở miền Trung cùng chịu nhiều nạn kiếp, khiến cho tình hình an ninh toàn tỉnh kể luôn thị xã Phan Thiết tồi tệ đến mức ai nghe tới cũng sợ khi phải tới miền đất này. Dù Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng tấn công Phan Thiết ba lần bị thất bại, không có cơ hội tắm máu đồng bào như tại Huế theo mong muốn của một số Việt công nằm vùng và có người thân ra bưng, tập kết nhưng hoàn cảnh lúc đó hết sức bi quan, 95% lãnh thổ bị địch chiếm, vùng còn lại ban ngày là của ta và thuộc về giặc ban đêm.

Tại Phan Thiết, Việt cộng về ám sát, đốt tấn công các trụ sở ấp Đức Nghĩa, Phú Trinh, Hưng Long, Đức Long... coi như chỗ không người, thậm chí ngay trong Tòa Hành Chánh và tiểu khu, tỉnh trưởng khi di chuyển cũng phải có hộ tống và cận vệ. Các viên chức xã ấp, công chức, cảnh sát kể luôn các cấp chỉ huy Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân, Địa Phương Quân... ban đêm phải di chuyển chiến thuật tới các vùng tạm có an ninh ở Sông Mao, Phan Thiết, Mũi Né để ngủ giữ mạng. Các đồn bót trong tỉnh luôn bị tấn công, Việt cộng pháo kích bạt mạng vào thành phố, huyện lỵ và tàn nhẩn gài mìn khắp nơi, khiến cho thường dân vô tội bị chết oan hằng ngày khi di chuyển cũng như lúc ra đồng làm ruộng.

Các trục giao thông tại quốc lộ 1, liên tỉnh lộ 8, tỉnh lộ Phan Thiết - Mũi Né.. bị tắt nghẽn, nhiều trạm thu thuế gần như công khai của Việt cộng tại cây số 25, Thiện Giáo, Tuy Hòa, Tà Dôn, Đá ông Địa, Vĩnh Hảo... làm cho mọi người lo sợ, phải dùng phương tiện ghe thuyền thay vì đi xe đò. Đã vậy trong tỉnh còn thêm vụ học sinh các trường trung học xuống đường biểu tình đòi Mỹ rút về, kêu gào bảo vệ đạo pháp và các thầy cha, còn thêm màn mổ bụng rạch ngực viết huyết thư, tạo đủ đắng cay máu lệ cho người dân vô tội trong cảnh chiến tranh tận tuyệt.

Tóm lại, theo lượng giá của Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, trong ngày nhậm chức Tỉnh Trưởng vào mùa thu 1969 thế đại tá Đàng Thiện Ngôn, thì Bình Thuận và Phan Thiết lúc đó sắp lọt vào tay Việt cộng. Theo Trung Tá Ngô Văn Xuân, nguyên Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 2, Trung Đoàn 44, Sư Đoàn 23 BB từng tham chiến nhiều ngày tại Bình Thuận, thì chính Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, một sĩ quan dầy kinh nghiệm trong chức vụ trưởng phòng 2 quân đoàn 2 nhiều năm, qua nhiều vị tư lệnh, đã thành công trong việc tách rời các cơ sở cũng như vô hiệu hóa Việt Cộng tại địa phương, từ đó cho tới ngày miền nam bị sụp đổ vào tháng 4-1975. Chính các lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đã góp phần lớn máu xương trong việc bảo vệ an ninh và mạng sống của đồng bào trong tỉnh, cho tới những giây phút cuối cùng trong đêm 18 tạng ngày 19-4-1975. Họ là những chiến sĩ của QLVNCH không tên với những chiến công hiển hách, đã dánh những trận để đời như sử gia Chánh Đạo đã hết lòng khen ngợi trong tác phẩm “55 Ngày Đêm - Cuộc Sụp Đổ Của VNCH”. Tôn vinh cuộc chiến đấu trên là cách trả lời cao thượng nhất để tri ân và lấy lại uy tín cũng như danh dự cho người lính miền nam, những người đã vì nước vì đời, mà tự tìm lấy cái chết bình thản tại chiến trường, cũng như ngay lúc giặc đã tràn ngập.

1. NHỮNG NGƯỜI LÍNH ĐỊA PHƯƠNG QUÂN & NGHĨA QUÂN/QLVNCH
Tại Bình Thuận vào năm 1952, trước ngày đình chiến, quân đội quốc gia đã thành lập hai trung đoàn vệ binh, mỗi trung đoàn có 5 đại đội. Trung đoàn số 2 đóng tại Phan Rí, trung doàn số 4 đóng tại Phan Thiết. Đầu năm 1953, các trung đoàn vệ binh được biến đổi thành tiểu đoàn bộ binh. Do đó, trung đoàn vệ binh số 4 thành tiểu đoàn 264 B1 (Bataillon d’infanterie), còn trung đoàn 2 thành tiểu đoàn 265 B1. Ngày 1-8-1954 lại thành lập trung đoàn 404 BB tại Phan Thiết với các tiểu đoàn 83 (nguyên TĐ 264 B1), tiểu đoàn 84 (nguyên TĐ 265 B1) và TĐ 808 biệt lập đóng tại Phan Thiết. Đầu năm 1955, Trung Đoàn 404 được cải danh là Trung Đoàn 43 BB với các TĐ 1/43 (83), 2/43(84) và 3/43(808) thuộc SĐ 15 khinh chiến, từng tham dự các chiến dịch tiểu trừ Bình Xuyên, Hòa Hảo năm 1955 tại Nam phần Từ năm 1964 trung đoàn 43 biệt lập qua các trung đoàn trưởng tài danh như Thiếu tá Võ Văn Cảnh, Thiếu Tá Quách Đăng, Trung Tá Lý Bá Phẩm, Đại Tá Đàm Văn Quý... trấn đóng tại biệt khu Bình Lâm, sau đó di chuyển vào nam.

1966 cùng với các trung đoàn biệt lập 48 BB, 52BB thành lập Sư Đoàn 10 BB, sau đổi thành SĐ 18 BB vào tháng 4-1975, dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Lê Minh Đảo, đã tạo nên chiến thắng Xuân Lộc vang lừng trong việt sử cận đại. Cũng tại Bình Thuận vào tháng 7/1954 có 4,800 quân nhân người Nùng, thuộc SĐ 3 khinh chiến của Đại Tá Woàng A Sáng từ miền bắc di cư vào đóng tại Sông Mao nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn lại di chuyển vào Tam Hiệp, Biên Hòa, sau đó đổi thành SĐ 5 BB. Để thay thế, trung đoàn 44 và 53 thuộc SĐ 23 BB, hậu cứ đóng tại Sông Mao thường xuyên hành quân bảo vệ Bình Thuận và Ninh Thuận.

Từ đầu năm 1970, hầu hết các thành phần cơ sở, du kích kể luôn chính quy Việt cộng gần như bị tiêu diệt, khiến cho quân khu 7 Việt cộng, trong đó có tỉnh Bình Thuận do tướng Bắc Việt Nguyễn Văn Ngàn chỉ huy, cũng lâm vào tuyệt lộ. Để vớt vát cũng như vực dậy niềm tin của cán binh, cán bộ, Việt cộng xữ dụng hai tiểu đoàn chính quy miền bắc là 481 và 482 tấn công vào trung doàn 44 BB tại Sông Mao từ tháng 7-10/1970, đồng thời thường xuyên tổ chức các cuộc phục kích, phá rối trên quốc Lộ 1, từ đoạn đường cây số 25 nam về tới Phan Thiết và khúc ngang qua mật khu Lê Hồng Phong, từ Long Thành tới Lương Son, Chợ Lầu và phía bắc trong quận Tuy Phong. Thời gian này Bình Thuận còn có sự yểm trợ của Chi Đoàn 3/8 thiết kỵ/QLVNCH và tiểu đoàn 3 thuộc Lử Đoàn 506 nhảy dù Hoa Kỳ và toán viễn thám LLĐB/BTTM/QLVNCH, hải pháo Mỹ ở ngoài khơi, các phi tuần Mỹ - Việt luôn tiếp ứng tỉnh mau lẹ và cấp thời, nên đã bẻ gãy tất cả. Nhưng rồi giai đọan VN hóa chiến tranh và Hiệp Định ngưng bắn 1973 đã thành hình, theo đó các đơn vị chủ lực của VNCH cũng như Hoa Kỳ đều rời tỉnh vào cuối năm 1971 hoặc hồi hương hay nhận nhiệm vụ mới, giao công cuộc bình định và gìn giữ an ninh cho các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân của tỉnh lúc đó lên tới 13.000 người đảm trách.

Để chống địch bằng cây nhà lá vườn, Đại Tá Nghĩa đã áp dụng chiến lược mọi người đều phải RA TIỀN TUYẾN kể cả các trưởng ty sở, phó tỉnh trưởng, phó quận... không bỏ đồn bót lẽ loi cho giặc về đêm. Theo lời các nhân chứng hiện ở Hoa Kỳ như Phạm Ngọc Cửu phó tỉnh trưởng, Trung Tá Dụng Văn Đối quận trưởng Hòa Đa rồi Hàm Thuận, Đại Úy Mai xuân Cúc DDT/DD 948 Địa Phương Quân.. thì chính Đại Tá Nghĩa là người đầu tiên xung phong làm gương mẫu cho thuộc cấp, ông đã noi gương cố tổng thống Nguyễn văn Thiệu luôn xông xáo tại chiến trường khi dấu binh lửa, bom đạn còn ngun ngút, đại tá Nghĩa đã lần lượt ngủ đêm tại 173 trong tổng số 197 tiền đồn hẻo lánh và nguy hiểm của tỉnh, do các tiểu trung đội nghĩa quân hoặc xây dựng nông thôn trấn giữ. Nhờ vậy đã tạo được nềm tin trong quân đội cho tới khi mất nước.

Một chiến thuật khác cũng vô cùng hiệu quả, đó là xử dụng hàng rào mìn claymore làm ấp chiến lược lưu động. Với phương pháp này đã làm Việt cộng bị tổn thất nặng và gần như hoàn toàn tê liệt. bẻ gãy kế hoạch nuôi ăn cán binh vì ai cũng sợ toi mạng khi vướng mìn vào ban đêm khi ra vào ấp.

Song song còn có chương trình đập cỏ bắn rắn, tức là ủi quang hai bên quốc lộ 1 từ cây số 25 nam Phan Thiết cho tới Cà Ná, giáp giới Ninh Thuận, các vùng cây cỏ rậm rạp mà trước đây VC dùng làm địa bàn để hoạt động quân sự, thu thuế, phục kích, chặn xe đò... mang lại tình hình an ninh hoàn toàn trong tỉnh và tại thị xã Phan Thiết. Cũng kể từ đó cho tới hồi tàn cuộc, cán bộ xã ấp, công chức không còn phải sống lưu vong và việc Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tới Phan Thiết cùng với Tỉnh Trưởng săn bắn ban đêm ngay trên địa bàn của cái gọi là mật khu Lê Hồng Phong, hay đi xe jeep trên quốc lộ 1 từ Phan Thiết về Phan Rang như lời tự sự của trung Tá Ngô Văn Xuân, trung đoàn trưởng trung đoàn 44, SD 23 BB, trong Quân Sử VNCH, là một xác nhận khích lệ.

Từ sau Hiệp Định ngưng bắn 1973, lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đã được tổ chức và phối trí lại để phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Quyền chỉ huy trực tiếp thuộc tiểu khu, chi khu và các phân chi khu. Quân số cũng được cải tổ từ cấp đại đội thành tiểu đoàn, liên đội và Liên đoàn. Tính đến năm 1973, quân lực VNCH đã có 360 tiểu đoàn Địa Phương Quân, quân số từ binh sĩ, Hạ Sĩ Quan tới Sĩ Quan một số là chủ lực quân biệt phái, nên có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu, có đủ khả năng thay thế các Sư Đoàn bộ binh kề cả các lực lượng tổng trừ bị trong các cuộc hành quân cơ động quy ước chiến, đáp ứng sự hổ trợ đác lực cho các đơn vị chủ lực. Theo tài liệu từ quân sử, cho tới tháng 4-1975, lực lượng Địa Phương Quân - Nghĩa Quân gần 500.000 người và số tử vong cũng nhiều lần so với các lực lượng chủ lực, diều đó chứng tỏ sự chiến đấu dũng mãnh và can trường của họ.

Trong hiệp định Paris năm 1973, có điều khoản cắm cờ nhận đất vào giờ N và Bình Thuận được coi là thí điểm, nơi cộng sản Bắc việt luôn đòi trở thành vùng vỹ tuyến. Các xã giáp tỉnh lỵ như Đại Nẵm, Phú Long, Tuy Hòa, Phú Lâm có nhiều thành phần nằm vùng và người thân vào bưng hoặc tập kết, nên luôn là điạ điểm tin cậy để giặc đóng quân hay đặt Bộ Chỉ Huy. Với quân số lúc đó là 13.000 Địa Phương Quân - Nghĩa Quân, nhưng vì phải bảo vệ 197 ấp nên đã dàn mỏng, trong khi Việt cộng luôn tập trung được ba tiểu đoàn địa phương, ngoài ra còn có một trung đoàn chủ lực từ quân khu 6 tăng phái và cán binh cơ sở, nên tình thế lúc đó cũng thật nguy hiểm. Rồi giờ G cũng tới, Việt cộng tấn công một lúc 13 ấp trong tỉnh nhưng nặng nhất là tại ấp Đại Tài, xã Đại Nẳm.

Nhờ đã chuẩn bị trước, nên sau hai ngày giao tranh, Việt cộng thất bại trong âm mưu cắm cờ giành đất, một phần là do đồng bào có ý thức quốc gia không chịu hợp tác hay đồng khởi, phần khác sợ tai bay đạn lạc nên đã bồng bế nhau tản cư khỏi vùng chiến địa theo lời kêu gọi của tỉnh qua truyền đơn và đài phát thanh. Cuối cùng các ấp xã chỉ còn thuần túy là chiến địa, điểm hợp đồng của pháo binh và phi pháo, trước khi các đơn vị Địa Phương Quân - Nghĩa Quân mở cuộc tấn công, làm Việt cộng phải lẫn trốn, mang theo nhiều xác chết đồng bọn khi tháo chạy sau hai ngày giao tranh đẳm máu, nhưng vẫn bỏ lại tại ấp Đại Tài, xã Đại Nẳm 121 xác chết..

2. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI BÌNH THUẬN
Ngày 7-4-1975, tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh QĐ2 từ Nha Trang đáp trực thăng ghé thăm Bộ Chỉ Huy tiểu khu Bình Thuận lúc đó đang đóng tại lầu ông Hoàng, thuộc xã An Hải quận Hải Long. Lúc này, tướng Phú đã bị tước chức Tư Lệnh QĐ2 và do tướng Nguyễn Văn Hiếu thay thế. Tình hình đã bắt đầu hổn loạn vì Ninh Thuận, Bình Thuận đã trở thành vùng hỏa tuyến. Sau này tại hải ngoại, có dịp tiếp xúc với những giới có thẩm quyền của Bình Thuận trong phút giờ hấp hối như Đại Tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa, ông Phạm Ngọc Cửu phó tỉnh trưởng, Trung Tá Dụng Văn Đối, quận trưởng Hàm Thuận và các đại úy Nguyễn Chánh Trúc, DDT giữ cầu Phú Long nhưng quan trọng nhất là tự sự của Đại Úy Mai Xuân Cúc, đại đội trưởng ĐĐ 948 Địa Phương Quân là đơn vị giữ an ninh trong thị xã Phan Thiết cho tới giờ phút cuối cùng. Tóm lại không giống như nhiều tỉnh thị khác, Bình Thuận vào những giờ phút hấp hối, đã không có những trận đánh không có đại bàng như một tác giả nào đã viết trong mấy năm trước, vì tất cả đại bàng từ cấp thấp nhất như Thiếu Úy Phùng Thế Xương phân chi khu trưởng PCK Hòa Vinh, trung úy Lê Ngữ phân chi khu trưởng PCK Thiện Khánh cho tới các đại bàng cao cấp ở quận như Trung Tá Dụng Văn Đối, thiếu tá Phạm Minh trung tâm trưởng Trung Tâm Tiếp Vận. Các vị Phó tỉnh tưởng, quận trưởng, trưởng ty và trên hết là đại tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa đều không bỏ chạy.

Sự sụp đổ nhanh chóng của QLVNCH từ khi Ban Mê Thuộc thất thủ, tiếp theo là cuộc di tản đẳm máu trên liên tỉnh lộ 7-B và Quân Đoàn 1, cuộc lui binh tại Qui Nhơn, Quảng Ngãi... khiến cho vòng vây bao quanh Sài Gòn càng lúc càng thu hẹp. Mặt bắc, Phan Rang và Phan Thiết trở thành vùng hỏa tuyến phải đương đầu với nhiều lộ quân hùng hậu của cộng sản Bắc Việt có đầy đủ xe tăng, pháo hiện đại do Liên Xô, Trung Cộng và các nước Động Âu trong toàn khối cộng sản quốc tế viện trợ, trong lúc đó, VNCH đang lâm vào tuyệt lộ vì đồng minh Hoa Kỳ đã cạn tào ráo máng, rút ván qua sông. Ngoài ra còn đem danh lợi cò mồi một số tướng lãnh miền nam bỏ nước ôm của chạy, khiến cho QLVNCH bốn bề thọ địch, chỉ còn chờ chết mà thôi.

Ngày 4-4-1975, hai tỉnh còn lại của QD2 là Ninh Thuận và Bình Thuận được sáp nhập vào QD3 lúc đo do tướng Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh, bổ nhiệm thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm tư lệnh tiền phương QD3, chỉ huy mặt trận Phan Rang, vốn là quê hương của Tổng Thống Thiệu. Trong dịp này Phan Thiết cũng được tăng cường trung đoàn 6 và một pháo đội thuộc Sư Đoàn 2 BB vừa di tản từ Quãng Ngãi vào Bình Tuy.

Tại Phan Thiết, thời gian này đã giao tranh ác liệt với trung đoàn 812 chính quy và các tiểu đoàn địa phương Việt cộng, nhưng đã giữ vững được phòng tuyến nhờ sự yểm trợ của phi pháo và hỏa pháo VNCH. Ngày 16-4-1975 mặt trận Phan Rang tan vỡ, các tướng lãnh Nghi, Sang, đại tá Nguyễn Thu Lương và nhiều sĩ quan cao cấp khác của VNCH bị bắt làm tù binh. Từ đó Bình Thuận là chiến tuyến về hướng tây bắc, phía nam Bình Tuy vẫn còn nhưng đường bộ bị bít vì giao tranh long trời lỡ đất đang nổ tung tại Xuân Lộc, Long Khánh từ ngày 9 cho tới 14/4/1975.

Vào ngày 2/4/1975, đại đội 948 Địa Phương Quân đang đóng tại Ấp Hiệp Hòa, xã Chợ Lầu, quận Hòa Đa thì được lệnh Trung Tá quận trưởng Kiều Văn Út theo chỉ thị của P3 Tiểu Khu, về tăng cường thị xã Phan Thiết, nhưng đóng quân tại trường nông lâm súc Phú Long, bảo vệ Trung đội pháo binh đóng gần cầu đang yểm trợ hỏa pháo cho chi khu Thiện Giáo. Ngày 3-4-1975, đoàn di tản từ Nha Trang - Đà Lạt về trong đó có đủ mọi quân binh chủng kể luôn trường Võ Bị Quốc Gia, nổ súng bắn loạn xạ làm cho dân chúng sợ hãi và trước khi ra đi đã cướp bóc cũng như đốt chợ lớn Phan Thiết được xây dựng từ năm 1899. Lúc này tại khu vực Phú Long và các vùng lân cận, ngoài Đại Đội 948 của Đại Úy Cúc từ Hòa Đa về tăng cường, còn có đại đội 283 Địa Phương Quân của đại úy Nguyễn Văn Ba giữ Tuy Hòa, DD 3/TD 249 Địa Phương Quân của Đại Úy Hòa phụ trách xã Hòa Vinh, nên tình hình an ninh cũng khả quan, ngoài các vụ pháo kích, bắn sẻ vào ban đêm mà thôi.

Vào ngày 15-4 75 chi khu Thiện giáo tại huyện ly Ma Lâm được lệnh di tản chiến thuật vì không chịu nổi đại pháo 130 ly của Việt cộng. Các đơn vị của chi khu do Đại Úy Lê Văn Tuân, Chi Khu phó chỉ huy đoàn xe, qua cầu Phú Long về Phan thiết. Ngày 16-4-75 lại thêm một đoàn quân xa đông đảo gồm đủ mọi thứ binh chủng như Dù, Biệt Động Quân, Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Địa Phương Quân... từ Phan Rang cũng qua cầu Phú Long, để di tản về Sài Gòn sau khi Ninh Thuận mất. Lúc này tình hình trong thị xã Phan Thiết đã bắt đầu hỗn loạn, nhiều gia đình kể cả công chức đã cuốn gói ra đi bằng thủy lộ, trong phố hầu như chỉ còn lại người nghèo không có phương tiện đào sanh, các hàng cột đèn không có chân và lính, cảnh sát, Xây Dựng Nông Thôn ở lại mà thôi. Từ ngày 10/4/75 Đại Đội 948 Địa Phương Quân của Đại Úy Cúc đổi vùng, di chuyển về đóng cạnh căn cứ của Duyên Đoàn 28 Hải Quân sát cửa Thương Chánh thuộc ấp Vĩnh Phú, để bảo vệ cho Bộ Chỉ Huy hành quân của Trung Tá Trì, TKP/TKBT. Lúc đó Đại Tá Nghĩa cho thành lập hai Bộ Chỉ Huy hành quân, Bộ Chỉ Huy chánh do ông trực tiếp điều động toàn bộ lực lượng Địa Phương Quân - Nghĩa Quân đóng tại Lầu ông Hoàng, còn TKP làm việc với các phòng 2,3 hành quân. Cũng trong ngày, Đại Úy Cúc nhận lệnh trực tiếp từ Đại tá Nghĩa, dẫn Đại Đội 948 Địa Phương Quân biệt phái cho yêu khu châu thành tại trại Đinh công Tráng của Thiếu tá Cư, trước sân vận động Quang Trung, nằm kế một phân đội YTQC sát trường Trung học tư thục Bạch Vân và Dân Y Viện Phan Thiết. Lúc này Việt cộng đã pháo kích nhiều hỏa tiễn 122 ly vào phố, các khu vực quanh TK và Tòa Hành Chánh thường hứng đạn. Sở dĩ Việt cộng bắn rất chính xác vì tiền sát viên của chúng là bọn nằm vùng, một tên giả làm ngư ông câu cá dươi chân cầu Phan Thiết, tên khác là cận vệ của Đại Tá Nghĩa, một tên làm tùy phái cho Tòa Hành Chánh...

Theo Cúc, thì Phan Thiết lúc đó hầu như chỉ còn có lính mà thôi, Đại Đội 948 Địa Phương Quân phòng thủ ấp Đại Tài, Đại Đội 206 trinh sát tỉnh của Đại Úy Lê Văn Trò giữ xã Tường Phong, kế đồn Trinh Tường, xa hơn có Tiểu Đoàn 202 Địa Phương Quân do Đại Úy Nguyễn Văn Hoàng, thế thiếu tá Bích làm XLTV tiểu đoàn trưởng, đóng tại Phú Hội và vùng giáp ranh với Đại Nẳm. Trên liên tỉnh lộ 8, tiểu đoàn 275 Địa Phương Quân bao vùng từ cầu Bến Lội, xã Lại An trên quốc lộ 1, qua tới các ấp Tân An, Tân Điền trên đường Phan Thiết - Ma Lâm. Về phía nam giao cho một Đại Đội/Địa Phương Quân và một Liên Đội Nghĩa Quân giữ cổng chữ Y, bảo vệ các ấp Kim Hải, Bình Tú và Đức Long. Trong phố, phần an ninh được giao cho các đơn vị Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ do Thiếu Tá Nguyễn Thanh Hải, xã trưởng xã châu thành Phan Thiết chỉ huy. Tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Bình Thuận nằm trên đường Cao Thắng, phía sau CLB sĩ quan và Trung Tâm Tiếp Vận, là phần phòng thủ của một tiểu đoàn Cảnh Sát Dã Chiến do trung tá trưởng ty điều động. Tại Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch không có đơn vị nào tăng phái bảo vệ, chỉ còn các quân nhân cơ hữu do y sĩ đại úy Lê Bá Dũng và trung úy Công, Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị của Đơn vị chỉ huy. Cũng theo lời Đại Úy Mai Xuân Cúc hiện ở Hoa Kỳ, một nhân chứng thật của Bình Thuận trong lúc đó, thì vị thiếu tá Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch đã di tản chiến thuật về Sài Gòn từ đầu tháng 4/1975 khi Bình Thuận đang bước vào giờ thứ 25 định mệnh. Trong ngày 17/4/75, Việt cộng pháo kích ban ngày lẫn đêm, một vài quả bích kích pháo và hỏa tiễn rơi rớt quanh các khu quân sự, trước tiểu đội quân cảnh điều tra tư pháp và ty bưu điện, thành phố thật sự đã chết, nhà nhà cài chặt cửa, chen chúc chui rúc dưới các hố tránh đạn thô sơ làm bằng bao cát mua ngoài chợ. Nơi nơi im vắng não nùng ngoại trừ khu vực cồn chà Đức Thắng vẫn còn hoạt động tấp nập vì ai cũng chạy.

Giờ N đã tới lúc 17 g 30 chiều ngày 18-4-1975, phòng tuyến Phú Long vỡ nhưng cầu không phá kịp, tuy nhiên phía bên khu vực Phước Thiện Xuân, An Hải, kể cả Hải Long, Lầu ông Hoàng vẫn chưa vỡ tuyến, đại tá Nghĩa cùng Bộ Chỉ Huy vẫn đủ giờ di chuyển về cửa thương chánh, trong lúc ngoài khơi có hằng hà tàu chiến của hải quân VNCH nhưng không làm gì được vì tàu lớn không áp sát ven bờ được, hơn nữa sợ pháo kích như đã từng xảy ra ở Qui Nhơn, Phan Rang, Cà Ná... Bên Quốc Lộ 1, đoàn âm binh của cộng sản Bắc Việt với xe tăng, pháo và hàng hàng lớp lớp cán binh cỡ lộ quân, chừng mấy chục ngàn người, ào ào hơn sóng cuộn cuồng phong di chuyển khắp các nẽo đường phố thị. Tất cả các phòng tuyến Địa Phương và Nghĩ Quân gần như bị đè bẹp trước đạn súng tối tân của Nga Hoa. Tại phòng tuyến ở Đại Tài, Đại Úy Cúc nhận được lệnh từ Thiếu Tá Cư, yếu khu trưởng trên máy PRC 25 cho biết Việt cộng đã chiếm được Tòa Hành Chánh, Tiểu Khu nhưng tại Trung Tâm Tiếp Vận, Thiếu Tá Phạm Minh đã đốt được các kho quân nhu trước khi di tản, Bình Thuận coi như đã mất, DD 948 của Cúc được lệnh vượt sông Cà Ty để di tản về Bình Tuy.

Nửa đêm rạng sáng ngày 19/4/75, đại đội tới được xóm đạo Văn Lâm, từ đó lần về quận đường Hàm Thuận, mới biết Trung tá Dụng văn Đối chi khu trưởng cùng đại úy Lê Viết Lợi chi khu phó, cũng đã nhận được lệnh di tản. Đêm khuya thật là buồn, cả đại đội phần đói khát thêm lạnh run vì quần áo ướt sủng nước khi lội qua sông, nên tạm bố trí tại ngả hai Phú Lâm vào lúc 2 giớ sáng, để rồi khi tiếng gà đầu vừa cất thì mọi người cũng choàng dậy, băng quốc lộ 1, đi ngược về hướng Phú Khánh, Bình Tú để xuống bến tàu cạnh phi trường đợi hải quân vào rước theo lệnh của TKBT. Trong đêm 18/4/75, qua máy truyền tin vẫn còn liên lạc 24/24, Đại Úy Cúc biết được Thiếu Tá Cư yếu khu trưởng châu thành cùng Trung Tá Trí đã xuống được thuyền của Duyên Đoàn 28 Hải Quân. Theo Điệp Mỹ Linh trong tác phẩm "HQ.VNCH ra khơi năm 1975" thì giữa lúc khói đạn mịt mùng, tàu Hải Quân 505 nghe tiếng cầu cứu của Đại Tá Nghĩa trong máy PRC 25 nhưng bất lực, tuy nhiên như lời ông Phạm Ngọc Cửu phó tỉnh trưởng, thì đại tá cuối cùng nhờ được một ghe đánh cá đưa ra tàu lớn và đã rớt xuống biển khi hai chiếc va chạm, cũng may mọi người cứu ông kịp thời.

Sáng ngày 19-4-75 tuy Việt cộng đã làm chủ Phan Thiết nhưng khu vực bến tàu thuộc ấp Kim Hải, phía sau QYV Đoàn Mạnh Hoạch và phi trường vẫn còn thuộc quyền kiểm soát của QLVNCH, trên bãi có đầy lính đủ mọi quân binh chủng, từ Dù, Sư Đoàn 2, Biệt Động Quân tại mặt trận Phan Rang còn đọng lại, cho tới các đơn vị Địa Phương Quân -Nghĩa Quân tỉnh.

Cũng trong ngày 19-4-75, một chiếc L19 của Không Quân/VNCH bay trên thành phố, kêu gọi các lực lượng Địa Phương Quân - Nghĩa Quân đang bị thất lạc, phải tìm cách xuống bến tàu để được lực lượng Hải Quân Vùng 2 Duyên Hải cứu vớt đem về Nam. Một phi tuần F.5 có nhiệm vụ dội bom phá sập ba cây cầu trên dòng sông Mường Mán, hầu ngăn cản bước tiến quân của cộng quân nhưng đánh lạc vào ngả tư quốc tế, làm hư hại một vài căn nhà trên đường Gia Long, Ngô Sĩ Liên và Nguyễn Tri Phương.

Cuối cùng nhờ kỹ luật và bình tĩnh, tất cả các quân nhân mọi binh chủng có mặt trên bãi biển Bình Tú vào lúc 10 giờ sáng ngày 19-4-75 đều được vớt. Lúc đó thủy triều đang xuống nên đoàn tàu lớn phải đậu xa bờ hơn nữa cây số. Tuy nhiên nhờ những chiếc tàu đổ bộ LCM nên tất cả các đơn vị kể cả chi đoàn TQV thuộc thiết đoàn 8 kỵ binh hành quân tại Phan Thiết, cũng được theo tàu về nam, ngoại trừ một chiếc bị chìm tại bải Vĩnh Phú.

Tóm lại, đoàn tàu hải quân thuộc Bộ Tư Lệnh vùng 2 duyên hải đã hoàn thành nhiệm vụ, chở hơn 3,000 quân nhân các cấp thuộc Địa Phương Quân - Nghĩa Quân Bình Thuận trong đó có ÐÐ 948 Địa Phương Quân của Đại Úy Mai Xuân Cúc, cùng các lưc lượng Dù, BÐQ, SÐ 2 BB và mọi quân binh chủng tham chiến tại Phan Thiết – Phan Rang trong những giớ phút hấp hối ngày 19-4-1975, đoàn tàu Hải Quân đã cặp bến Vũng Tàu an toàn lúc 3 giờ sáng ngày 20-4-1975 và các đơn vị lại được Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa tiếp rước hướng dẫn, vào trú đóng tại doanh trại cũ của Trung Đoàn 43/SÐ 18 BB ở Bà Rịa, cùng góp phần tham chiến với các đơn vị bạn tại đây cho tới ngày tàn cuộc.

Riêng Trung Tá Dụng Văn Đối, quận trưởng Hàm Thuận, ngày 18-4-1975 cho người đốt các kho đạn, kho quân tiếp vụ, sau đó cùng Liên Đoàn Địa Phương Quân - Nghĩa Quân, một pháo đội và một chi đội thiết giáp V100, mở cuộc hành quân từ Hàm Thuận vào tới Bà Rịa một cách an toàn. Đoàn quân di tản này được bổ sung cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh chiến đấu tại Bên Lức Long An, cho tới ngày tàn cuộc. Như vậy, trong những ngày cuối cùng QLVNCH đã có hai cuộc lui binh thành công, một tại bến tàu Kim Hải, Phan Thiết do Bộ Tư Lệnh/V2DH thực hiện, vớt Địa Phương Quân - Nghĩa Quân - BT và nhiều quân binh chủng tham dự trận Phan Rang. Cuộc lui binh thứ hai bằng đường bộ từ Long Khánh về Phước Tuy của SÐ 18 BB và các đơn vị do Thiếu tướng Lê Minh Đảo chỉ huy.

Đời lính với sống chết trong gang tấc, những thanh niên thời đại VNCH họ đã làm tròn nhiệm vụ và làm hơn cả những gì họ có thể làm để bảo vệ miền nam và người dân nam, thời gian càng lúc càng sáng tỏ chính nghĩa của họ khi mặt thật của của cộng sản Hà Nội trơ trẽn lộ ra: hại dân, bán nước và hèn nhát.

Mường Giang
 photo amcr2p.jpg


 

 photo 11945eycvex646p 1.gif

******************************************



      Viết Tặng Người Lính Tôi Quen


      Tôi gặp anh khi tuổi còn rất nhỏ,
      Toán lính qua làng để bình định an dân.
      Anh hiên ngang cùng đi giữa đoàn quân,
      Rồi tiến thẳng vào ngôi nhà tôi ngồi nghỉ.

      Nón sắt, ba lô, poncho và vũ khí,
      Các anh vui cười, lễ phép hỏi Ba tôi:
      "Bác cho chúng con mượn tạm mảnh sân thôi,
      Đêm nay nghỉ, mai đi hành quân tiếp".

      Tôi gặp anh một buổi chiều vàng rất đẹp,
      Tuổi trăng non chưa hề biết mộng mơ.
      Học trường xa ngày nghỉ mới trở về,
      Con đường vắng chốt lính canh xuất hiện.

      Anh chặn tôi: "Giờ nầy về bất tiện,
      Giặc về làng quậy phá tối hôm qua,
      Đơn vị Anh quần thảo đến canh ba,
      Giặc rút chạy, toán quân nhà vô sự!"

      Tôi gặp Anh tuổi xuân thì thiếu nữ,
      Rất bình thường, không mơ mộng, kiêu sa,
      Tan trường về biết mong ngóng Người Ta,
      Rồi tự nhủ: chắc đang hành quân gấp đó!

      Tôi gặp Anh đang mong manh hơi thở,
      Thân phận con người đang trăn trở giựt giành,
      Cuộc chiến sau cùng đã định sẳn lằn ranh,
      Nhưng người lính đó vẫn trong tôi mãi mãi!

      Lê Thị Hoài Niệm


 

Friday, August 21, 2015

HÀNH TRÌNH CỦA NHỮNG BÀI HÁT




HÀNH TRÌNH CỦA NHỮNG BÀI HÁT

Trần Minh Hiền

Âm nhạc là niềm đam mê của tôi và âm nhạc là cứu cánh của đời sống. Cũng như thể thao, âm nhạc không biên giới, vô bờ bến và chạm đến tất cả ngõ ngách sâu thẳm nhất của hồn người. Âm nhạc là ngôn ngữ kỳ diệu nhất, dễ hiểu và đại chúng. Điều mà không một sức mạnh, quyền uy nào làm được, chính trị, quân sự, tôn giáo... không làm được nhưng âm nhạc làm được, đó là kết nối những trái tim tâm hồn của loài người với nhau.

Ke O Mien Xa - Dan Nguyen
http://youtu.be/gefS1mcAW7o

Tôi mê âm nhạc từ nhạc cổ điển classic, hòa tấu, không lời đến nhạc Việt (nhạc tiền chiến, nhạc vàng, nhạc quê hương và nhất là dòng nhạc lưu vong, xa xứ, dòng nhạc mà tôi cho là đặc biệt nhất), nhạc ngoại quốc (nhạc Pháp, nhạc Anh Mỹ và càng sau này tôi nghe cả nhạc của khối Spanish và Portuguese, nhạc Nhật, nhạc Ý, Nhạc Đức...)

Tàu Đêm Năm Cũ - Phương Dung
http://youtu.be/UuE1EMA5diI
Mỗi bài nhạc, mỗi bài hát là một tuyệt tác mà các nhạc sĩ đã dâng tặng cho đời. Và số phận mỗi bài nhạc cũng như mỗi nhạc sĩ cũng rất khác nhau, có người nổi tiếng nhưng có người âm thầm vô danh. Có bài hát được nhiều hát và nổi tiếng nhưng có nhiều bài hát không ai hát cho đến khi tác giả chết đi và vô tình có người hát thì mới nổi tiếng.

Liên Khúc Tình Yêu - Trung Hành, Ngọc Lan & Kiều Nga
http://youtu.be/z7Crmtn2kaU

Mỗi bài hát là công trình tâm óc của nhạc sĩ và có khi của các thi sĩ mà nhạc sĩ dùng làm lời ca. Có bài hát như bài Không của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã đi ra ngoài biên giới Việt Nam qua các nước khác và thành bài hát Tàu, bài hát Nhật đã được Đặng Lệ Quân trình diễn và thâu âm. Như bài Xuân Yêu Thương được dịch từ một bài hát Spanish rất nổi tiếng đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý... Hay bài Người Tình Mùa Đông chúng ta vẫn tưởng dịch từ nhạc Hoa nhưng kỳ thực là nhạc Nhật... Và có những trường hợp những bài hát được sáng tác độc lập với nhau nhưng lại có nhạc gần giống nhau nên có nhiều nghi án đạo nhạc.


***

Photobucket

Mỗi thời đại có một gu nhạc riêng

Cũng một bài hát đó mà được nghe vào nhiều thời điểm khác nhau, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, tâm trạng khác nhau sẽ đem lại giá trị khác nhau. Và các ca sĩ khác nhau cũng có cách diễn dạt và trình bày khác nhau, mỗi người có nét hay riêng, nét độc đáo riêng. Ngay cả từng nhạc cụ khác nhau cũng đem lại sự độc đáo riêng biệt như piano dương cầm thanh tao, violin vĩ cầm thánh thót, saxophone cao sang, clarinet độc đáo, ghi-ta truyền cảm và lấp lánh...

Người Về - Hà Thanh
http://youtu.be/XvnEcxLqnWs
Nghe nhạc đòi hỏi sự thưởng thức sâu sắc của người nghe và phụ thuộc vào sở thích, trình độ, độ tuổi, giới tính, thời điểm, chính kiến, văn hóa... Và đôi khi cũng bài hát đó nhưng lúc trẻ ta nghe theo kiểu khác, lúc lớn tuổi hơn ta nghe theo dạng khác và lúc già thì nghe, hiểu, thẩm thấu theo kiểu khác.


"… Dòng nhạc lưu vong, xa xứ, dòng nhạc mà tôi cho là đặc biệt nhất…”
Trần Minh Hiền

Mỗi thời đại có một gu nhạc riêng mà đôi khi người già chê người trẻ và ngược lại. Mỗi quốc gia có một văn hóa âm nhạc riêng và với thời đại ngày nay tất cả có thể giao thoa, hòa lẫn với nhau và vay mượn lẫn nhau để cùng phát triển. Âm nhạc ngày nay càng ngày càng phản ảnh tâm tư tình cảm của con người hiện đại, của sự phát triển quá nhanh của khoa học kỹ thuật và những áp lực của đời sống càng ngày càng nặng nể hơn.
***

ĐƯỜNG VỀ QUÊ HƯƠNG (Lam Phương) -
Đan Nguyên - Nhạc Lưu Vong
http://youtu.be/pTWBFwb97K4

Âm nhạc là sự kết tinh của tinh hoa của nghệ thuật và đời sống, của sự trừu tượng và thực tế, của thăng hoa và những nhu cầu của con người và tựu trung nhất, âm nhạc là đem lại niềm vui trong nỗi buồn cho con người. Dường như nhạc buồn nhiều hơn nhạc vui và ngay cả những bài nhạc vui nhất cũng đượm buồn vì vốn dĩ đời sống có buồn nhiều hơn vui.

Tôi Vẫn Nhớ
http://www.youtube.com/v/NTIWA3qkLVk

Nghe một bài hát chúng ta nên tĩnh lặng hồn mình để cùng chia sẻ với giọng hát của ca sĩ, hồn của nhạc sĩ và tài nghệ của ban nhạc, của người hòa âm phối khí. Đôi khi chúng ta chỉ nhớ đến ca sĩ hay nhạc sĩ mà quên đi vai trò rất quan trọng của ban nhạc của người hòa âm phối khí, chính họ mới quyết định thành công của bài hát.


    "…Đôi khi chúng ta chỉ nhớ đến ca sĩ hay nhạc sĩ mà quên đi vai trò rất quan trọng của ban nhạc của người hòa âm phối khí, chính họ mới quyết định thành công của bài hát.…”

Và cầm trên tay băng nhạc, đĩa nhạc CD, hay DVD hay đĩa blueray... ta cũng nên quên sự hy sinh làm việc của các nhà sản xuất, những người vì đồng tiền nhưng cũng vì nghệ thuật, và chính họ đã đem âm nhạc đến cho chúng ta.

Linh Hồn Tượng Đá (Mai Bích Dung) -
Đan Nguyên
http://youtu.be/_X8yCxIzwDrY

Biết ơn các nhạc sĩ, thi sĩ, ca sĩ và biết ơn tất cả các DJ, các ban nhạc, hòa âm phối khí và các nhà sản xuất... để trân trọng từng bài hát và góp phần nâng cao âm nhạc, món ăn tinh thần cho tất cả chúng ta...

HỘI TRÙNG DƯƠNG - Diễm Liên, Nguyên Khang
http://youtu.be/4dTs2Q4DmLA

trần minh hiền orlando ngày 10 tháng 10 năm 2012

nguồn

 

Tuesday, August 18, 2015

Sơ Lược Về HẢI QUÂN HOA KỲ

 

Sơ Lược Về HẢI QUÂN HOA KỲ

Tác giả: Đỗ Hữu Long

I- Tổng Quát: Hải Quân Hoa Kỳ là một quân chủng của quân lực Mỹ có trách nhiệm thực hiện những cuộc hành quân trên biển. Quân số thường trực của Hải Quân Mỹ gồm 332.000 quân nhân hiện dịch và 124.000 trừ bị. Hải Quân điều hành 282 chiến hạm đang hoạt động và hơn 3.700 phi cơ.

 photo 100628-N-6720T-064_zpscd939ffc.jpg
PACIFIC OCEAN (June 28, 2010) The guided-missile destroyer
USS McCampbell (DDG 85), left, and the guided-missiledestroyer
USS Curtis Wilbur (DDG 54), right.

Hải Quân Hoa Kỳ bắt nguồn từ Hải Quân Lục Địa (Continental Navy) thành lập trong cuộc chiến tranh Cách Mạng (1775-1783). Trước tiên, Quốc Hội bàn cãi sôi nổi có nên chăng thành lập một đội hải quân. Phe bênh vực lập luận rằng Hải Quân sẽ bảo vệ tàu thuyền, phòng thủ duyên hải, khám phá những xâm nhập từ bên ngoài. Phía chống đối cho rằng làm như thế là khờ dại vì thách đố với Hải Quân Hoàng Gia Anh (British Royal Navy), một hải lực đệ nhất hùng mạnh. Ngay trong lúc nầy, Tổng Tư Lệnh George Washington điều khiển 7 chiến hạm và đánh thắng những tàu tiếp liệu của Anh Quốc và gởi thư báo cáo Quốc Hội. Lá thư được Quốc Hội tiếp nhận và đọc trong ngày 13 tháng 10 năm 1775, chấm dứt cuộc tranh luận. Từ đó, ngày 13 tháng 10 trở thành ngày sinh nhật của Hải Quân Hoa Kỳ.

Hiến pháp Hoa Kỳ trao Quốc Hội thẩm quyền “cung ứng và duy trì Hải Quân”. Quốc Hội thông qua Đạo Luật Hải Quân năm 1794 (Naval Act of 1794) ra lệnh chế tạo và cung cấp thủy thủ cho 6 khu trục hạm và đã thành công trong việc chống hải tặc cướp phá các thương thuyền Mỹ.

Lịch sử Hiệp Chủng Quốc cũng ghi nhận Hải Quân đã giữ một vai trò trong chính sách đối ngoại khi nhắc đến Thiếu Tướng Hải Quân Matthew Perry tiếp xúc với Nhật Bản và ký kết Hiệp Định Kanagawa năm 1854.

Hải Quân Mỹ có khả năng khiêm tốn trong Thế Chiến I, nhưng phát triển mạnh trong Thế Chiến II, nhất là sau cuộc tấn công bất ngờ của quân đội Nhật Bản vào Trân Châu Cảng năm 1941. Tại chiến trường Thái Bình Dương, Hải Quân Mỹ là thành phần chủ chốt của lực lượng đồng minh thành công trong chiến dịch tiến chiếm từng hải đảo. Hải quân Mỹ tham dự nhiều trận đánh vang dội như là: Trận đánh Đảo San Hô, trận đánh Midway, trận đánh trên biển Phi Luật Tân (Battle of the Philippine Sea), trận đánh Vịnh Leyte, trận đánh Okinawa. Sau cùng, Douglas MacArthur vị tướng năm sao, tư lệnh tối cao của lực lượng đồng minh (Supreme Commander for the Allied Powers) chấp nhận sự đầu hàng của Nhật, văn bản được ký kết trên chiến hạm USS Missouri ngày 2 tháng 9 (tức ngày 1/9 tại Mỹ) năm 1945.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Hải Quân Mỹ chịu trách nhiệm sẵn sàng đối phó với những cuộc khủng hoảng và chuẩn bị một trận thế chiến có thể bùng nổ với Liên Xô. Thập niên 1990, tầm vóc của Hải Quân Mỹ lớn nhất thế giới, hơn bảy lần tổng số Hải Quân của các cường quốc khác gộp lại.

Kể từ biến cố 9/11/2001, Hải Quân Mỹ cải tiến để đương đầu với những đe dọa mới bằng cách tân tạo hình thể và trang bị vũ khí các loại chiến hạm như là khu trục hạm loại Zumwalt (Zumwalt class destroyer) và loại tàu chiến ven biển (Littoral Combat Ship) để có đủ khả năng thi hành những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp mà không phải gia tăng số lượng.

Năm 2007, Hải Quân Mỹ tiếp nhận thêm binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (US Marine Corp) và Lực Lượng Duyên Phòng (US Coast Guard) tạo ra một chiến lược hải quân mới gọi là Chiến Lược Phối Hợp Hải Lực Thế Kỷ 21 (A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower).

Chiến lược nhìn nhận những liên kết kinh tế của hệ thống toàn cầu và sự đổ vỡ của hệ thống nầy vì các khủng hoảng trong khu vực – do thiên nhiên hoặc con người tạo ra – có thể tác động bất lợi đến nền kinh tế và phẩm chất đời sống của Hoa Kỳ. Chiến lược mới nầy hoạch định một lộ đồ cho Hải Quân, Lực Lượng Duyên Phòng, Thủy Quân Lục Chiến kết hợp với nhau và với các đối tác quốc tế để ngăn ngừa những cuộc khủng hoảng này xảy ra hoặc đối phó kịp thời khi cuộc khủng hoảng xuất hiện, nhằm tránh những tác động tiêu cực đối với Hoa Kỳ.

Trong thế kỷ 21, Hải Quân Mỹ vẫn tiếp tục duy trì sự hiện diện đúng tầm mức trên khắp thế giới, triển khai tại một số khu vực như là Đông Á, Địa Trung Hải, Trung Đông. Hải Quân Biển Xanh (Blue Water Navy) - với khả năng phóng ra những lực lượng vào những vùng ven biển, bám vào những khu vực tiền tiêu, đáp ứng kịp thời những khủng hoảng trong khu vực - giữ một vai trò tích cực cho chính sách quốc phòng và ngoại giao của Hiệp Chủng Quốc. Hải Quân Mỹ có số trọng tấn nặng nhất thế giới, kinh phí 127.3 tỉ đô la của tài khóa 2007. Hải Quân Mỹ cũng sở hữu những hàng không mẫu hạm lớn nhất, với 11 hàng không mẫu hạm đang xử dụng và một hàng không mẫu hạm đang chế tạo (2009).

Hải Quân được quản trị bởi Bộ Hải Quân mà Bộ Trưởng là dân sự. Bộ Hải Quân là phân bộ của Bộ Quốc Phòng. Chỉ Huy Trưởng Hành Quân Hải Lực (Chief of Naval Operation) là sĩ quan hải quân cao cấp nhất.

Không Quân của Hải Quân gồm các loại:

- Không chiến và oanh kích: F/A - 18A/B/C/D/E/F, F35C, S3.

- Chiến tranh điện toán: E-2C, EP-3E, E-6, EA-6B, EA-18G.

- Trực thăng: UH-1, SH-3, CH-53D, MH-53E, SH-60, MH-60, CH-60.

- Tuần tiễu: P-3, P-8.

- Quan sát: RQ-2.

- Nhiều phi cơ huấn luyện và phi cơ vận tải.

Lực lượng chính của Hải Quân Mỹ là các loại chiến hạm, bố trí khắp các vùng biển và đại dương nhằm bảo vệ chính quốc và quyền lợi của nước Mỹ trên toàn thế giới.

II- Các Hạm Đội

Hải Quân Mỹ điều hành sáu hạm đội, gồm có:

1) Đệ Nhị Hạm Đội (The 2nd Fleet): Đệ Nhị Hạm Đội chịu trách nhiệm huấn luyện những kỹ năng chiến tranh, phát triển và lượng định những chiến thuật hải quân tân kỳ và sẵn sàng ứng chiến.

Đệ Nhị Hạm Đội hoạt động trong Đại Tây Dương từ Bắc Cực đến Nam Cực, từ bờ biển Hiệp Chủng Quốc đến phía tây Âu Châu. Hạm đội cũng tuần tiễu dọc theo hai bên bờ biển Nam Mỹ và một phần bờ biển Trung Mỹ. Tóm lại, hạm đội nhận trách nhiệm một vùng biển 38 triệu hải lý vuông. Khả năng của hạm đội gồm có: hàng không mẫu hạm, chiến hạm, tiềm thủy đỉnh, phân bộ thám sát, lực lượng thủy bộ, Thủy Quân Lục Chiến và những đơn vị tiếp vận lưu động. Đệ Nhị Hạm Đội đặt bản doanh tại Norfolk, tiểu bang Virginia.

2) Đệ Tam Hạm Đội (The 3rd Fleet): Nhiệm vụ chính của Đệ Tam Hạm Đội là tuần tiễu và kiểm soát vùng biển Trung và Đông Thái Bình Dương. Trong thời bình, hạm đội không có lực lượng thủy bộ và hàng không mẫu hạm. Đệ Tam Hạm Đội được thành lập ngày 15/3/1943 như là một lực lượng chiến đấu, đặt bản doanh tại Trân Châu Cảng, tiểu bang Hạ Uy Di.

3) Đệ Tứ Hạm Đội (The 4th Fleet): Đệ Tứ Hạm Đội được thành lập năm 1943 và giải tán năm 1950. Hạm đội được tái lập ngày 24/4/2008 và Phó Đô Đốc Joseph D. Kernar được bổ nhiệm làm tư lệnh hạm đội. Đệ Tứ Hạm Đội gồm có nhiều chiến hạm, hàng không mẫu hạm, tiềm thủy đỉnh... phụ trách tuần hành vùng biển Caribbean, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Hạm đội có nhiệm vụ phối hợp với hải quân các quốc gia bạn, chống bọn buôn lậu ma túy, giữ gìn an ninh khu vực, phản ứng quân sự hỗn hợp, huấn luyện song phương hoặc đa phương. Hạm đội đặt bản doanh tại Mayport, tiểu bang Florida.

4) Đệ Ngũ Hạm Đội (The 5th Fleet): Đệ Ngũ Hạm Đội duy trì một lực lượng hùng mạnh để ngăn chặn hoặc đánh trả những đe dọa từ vùng Vịnh Ba Tư.

Khởi đầu, Đệ Ngũ Hạm Đội được thành lập ngày 26/4/1944 từ lực lượng trung tâm Thái Bình Dương và giải tán vài năm sau thế chiến (1947). Tuy nhiên vào đầu thập niên 1980, nhiều tuần dương hạm, khu trục hạm, tàu vét mìn... được tăng viện đến vùng Trung Đông. Sau cuộc chiếm đóng Kuwait của Iraq năm 1990, một hạm đội lớn nhất kể từ Đại Thế Chiến thứ Hai được thành hình để yểm trợ cho cuộc hành quân Lá Chắn Sa Mạc (Operation Desert Shield) và tiếp theo là cuộc hành quân Bão Sa Mạc (Operation Desert Storm) 1991. Do nhu cầu chiến lược, tháng 7 năm 1995, Đệ Ngũ Hạm Đội sau 48 năm ngủ yên, được tái lập để đảm nhận công tác tuần hành trong vùng Vịnh gồm Hồng Hải, Biển Ả Rập và vịnh Ba Tư. Hạm đội đặt bản doanh tại Manama thủ đô Bahrain (ghi chú: Bahrain là một đảo quốc sa mạc bằng phẳng và cằn cỗi, sản xuất dầu hỏa, nằm trong vịnh Ba Tư giữa Qatar và Saudi Arabia. Tổng diện tích của quần đảo 665 km2, lớn hơn đảo Phú Quốc (Việt Nam) khoảng 100 km2, dân số năm 2007 là 1.046.814 người).

5) Đệ Lục Hạm Đội (The 6th Fleet): Đệ Lục Hạm Đội gồm khoảng 40 chiến hạm, 175 phi cơ và 21.000 quân nhân. Đệ Lục Hạm Đội là thành phần chủ chốt của Hải Quân Âu Châu. Lực lượng tấn công của hạm đội phải kể đến các phản lực cơ tối tân trên các hàng không mẫu hạm, tiềm thủy đỉnh, những tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến với những tàu thủy bộ. Việc chỉ huy hạm đội là trách nhiệm của quốc gia Hoa Kỳ và của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Bộ tư lệnh hạm đội đặt trên soái hạm USS Mount Whitney và bản doanh đồn trú tại Naples, Ý Đại Lợi.

Đệ Lục Hạm Đội tổ chức nhiều lực lượng đặc nhiệm có chức năng định sẵn:

- Đặc Nhiệm 60: Đây là lực lượng chiến trường của hạm đội gồm một hoặc nhiều hàng không mẫu hạm. Mỗi mẫu hạm được kèm theo 6 tuần dương hạm và khu trục hạm. Mỗi mẫu hạm mang từ 65 đến 85 phi cơ gồm các loại tấn công, không chiến, chống tiềm thủy đỉnh và quan sát. Các chiến hạm hộ tống mẫu hạm cũng dùng để tấn công, tự vệ chống không kích, chống chiến hạm và diệt tiềm thủy đỉnh địch.

- Đặc Nhiệm 61: Đặc nhiệm 61 là nhóm ứng chiến thủy bộ Địa Trung Hải (MARG Mediterranean Amphibious Ready Group). Đặc nhiệm nầy gồm có 3 chiến hạm với tàu đổ bộ. Từ những chiến hạm, thủy quân lục chiến Mỹ di chuyển vào bờ với nhiệm vụ xung kích khẩn cấp. Sau khi đổ bộ, các chiến hạm vẫn giữ vai trò yểm trợ cho đến khi mục tiêu được hoàn tất, đón các chiến binh Thủy Quân Lục Chiến trở về chiến hạm.

- Đặc Nhiệm 62: Là đơn vị Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) viễn chinh (MEU: Marine Expeditionary Unit) với quân số 1.800 người có trang bị thiết giáp, trọng pháo và trực thăng để thực hiện những cuộc hành quân ven bờ hoặc di tản nhân viên dân sự tại những khu vực rối loạn.

- Đặc Nhiệm 63: Là lực lượng tiếp liệu gồm những tàu dầu, tàu thực phẩm, tàu sửa chữa cho toàn hạm đội.

- Đặc Nhiệm 64: Gồm những tiềm thủy đỉnh trang bị hỏa tiễn liên lục địa. Trong thập niên 1970 các tiềm thủy đỉnh nầy có căn cứ tại Rota, Tây Ban Nha. Bộ tư lệnh hạm đội không có ảnh hưởng trong việc chọn lựa mục tiêu tấn công. Những mục tiêu tấn công được tuyển chọn hàng năm bởi Nhóm Kế Hoạch Mục Tiêu Nguyên Tử (Nuclear Target Planning Group) của Minh Ước Bắc Đại Tây Dương.

- Đặc Nhiệm 66/69: Đặc nhiệm 66/69 phụ trách kế hoạch hành quân tiềm thủy đỉnh và chống tiềm thủy đỉnh trong vùng Địa Trung Hải. Đặc biệt, Đặc Nhiệm 69 gồm các tiềm thủy đỉnh tấn công có khả năng tiêu diệt chiến hạm và tiềm thủy đỉnh của địch quân cũng như bảo vệ Đệ Lục Hạm Đội.

- Đặc Nhiệm 67: Gồm những phi cơ có căn cứ tại đất liền, phụ trách tuần tra khắp mặt biển Địa trung hải với nhiệm vụ chống tàu ngầm, trinh sát, giám sát và rải mìn.

6) Đệ Thất Hạm Đội (The 7th Fleet): Đệ Thất Hạm Đội, thành lập ngày 19 tháng 2 năm 1943 từ những lực lượng Tây Nam Thái Bình Dương, là hạm đội lớn nhất với 50 - 60 chiến hạm, 350 phi cơ và 60.000 Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến. Đệ thất hạm đội hoạt động trong vùng Tây Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và vùng Vịnh Ả Rập. Với sự yểm trợ của những Chỉ huy trưởng đặc nhiệm, Đệ Thất Hạm Đội thực hiện ba nhiệm vụ:

a/ Cứu trợ các thiên tai hoặc phối hợp hành quân.

b/ Chỉ huy các lực lượng hành quân trong khu vực.

c/ Chỉ huy các thành phần hải quân phối hợp để bảo vệ bán đảo Nam Hàn.

Trong tình trạng chiến tranh, các hải lực đồng minh trên chiến trường đều chịu dưới sự kiểm soát của Đệ Thất Hạm Đội. Bất cứ ngày tháng nào, 50% chiến hạm lênh đênh trên biển cả thuộc vùng trách nhiệm, trong đó khoảng 18 chiến hạm tuần hành từ Nhật Bản đến đảo Guam. Tư lệnh hạm đội hiện tại là Phó Đô Đốc John M. Bird và soái hạm là chiến hạm USS Blue Ridge trú đóng tại Yokosuka, Nhật Bản.

Các đơn vị đặc nhiệm của Đệ Thất Hạm Đội gồm có:

- Đặc Nhiệm 70: Là nhóm đặc nhiệm chiến trường của Đệ Thất Hạm Đội.

- Đặc Nhiệm 71: Phụ trách kế hoạch và phối hợp các hoạt động của hạm đội.

- Đặc Nhiệm 72: Tuần tra và trinh sát.

- Đặc Nhiệm 73: Phụ trách tiếp liệu.

- Đặc Nhiệm 74: Chỉ huy các tiềm thủy đỉnh.

- Đặc Nhiệm 75: Chỉ huy các chiến hạm nổi.

- Đặc Nhiệm 76: chỉ huy các lực lượng ứng chiến thủy bộ và những tàu thủy bộ tăng phái trong vùng hành quân.

- Đặc Nhiệm 77: Là một phần của Đặc Nhiệm 70 và chỉ huy các mẫu hạm.

- Đặc Nhiệm 79: Là lực lượng đổ bộ được chuyển vận bằng phương tiện của Đặc Nhiệm 76.

III- Đệ Thất Hạm Đội và Vùng Tây Thái Bình Dương

Thái Bình Dương được các tài liệu địa dư quốc tế chính thức chia làm hai phần là Bắc Thái Bình Dương và Nam Thái Bình Dương tuy nhiên Hải Quân Mỹ do nhu cầu kỹ thuật, quy định đại dương rộng lớn nầy theo hướng Đông Tây. Tây Thái Bình Dương trải rộng từ khoảng kinh tuyến 180o đến eo biển Malacca tiếp giáp với Ấn Độ Dương và kéo dài từ Bắc đến Nam.

Sự hiện diện và ảnh hưởng quân sự của hải quân Mỹ trong khu vực Tây Thái Bình Dương được dự liệu như sau:

- Duy trì sự hiện diện thường trực của chiến hạm Mỹ trên khắp khu vực. Điều nầy liên quan đến số lượng chiến hạm, vị trí trú đóng ở Nhật, Guam, Hawaii và có lẽ cả Singapore, kéo dài thời gian luân chuyển thủy thủ đoàn.

- Thường xuyên ghé thăm các hải cảng trong khu vực.

- Tập trận với hải quân các quốc gia trong khu vực.

- Bảo đảm sự tương hợp hệ thống liên lạc giữa chiến hạm hải quân Mỹ và chiến hạm các quốc gia đồng minh hoặc thân hữu.

- Trao đổi nhân viên, sĩ quan, binh sĩ giữa Hải Quân Mỹ và Hải Quân các quốc gia trong vùng.

Thật sự, trong khu vực trách nhiệm của Đệ thất hạm đội vẫn âm ỉ những ngòi nổ dễ dàng bộc phát như là bán đảo Đại Hàn, eo biển Đài Loan, tứ giác Việt-Trung-Phi-Mã.

Eo biển Đài Loan và bán đảo Nam Hàn là nơi tập trung sự quan tâm của chính quyền và dư luận Mỹ thường được thảo luận một cách công khai. Bộ Quốc Phòng dự liệu những kế hoạch sẵn sàng can thiệp khi có những biến cố quan trọng, tuy nhiên nếu vì nguyên nhân chính trị những căn cứ quân sự tại Nam Hàn và Nhật không còn được xử dụng trong việc hành quân hoặc trường hợp các căn cứ đó kể cả căn cứ tại đảo Guam bị hỏa tiễn liên lục địa đánh phá, vai trò của hải quân Mỹ với các hàng không mẫu hạm và tiềm thủy đỉnh trở nên vô cùng cần thiết...


 title=

Commander Hung Le of USS Lassen (DDG 82) of Seventh Fleet/Đệ Thất Hạm Đội

Tứ giác Việt-Trung-Phi-Mã là khu vực mới bộc phát những xáo trộn trong vài thập niên gần đây và phản ứng của các quốc gia Đông Nam Á và các cường quốc kinh tế vẫn còn dè dặt. Dù được che đậy bằng nhiều thủ đoạn, mưu đồ truyền thống của Hán tộc nhằm khống chế và chiếm lĩnh Vùng Đông Nam Á, bắt đầu từ bàn đạp Việt Nam tiến ra biển Đông hay là Nam Hải đều được thế giới theo dõi và kế hoạch quốc phòng của Mỹ luôn luôn đặt Trung Cộng vào đối tượng quan tâm ưu tiên cao nhất.

Bộ Quốc Phòng Mỹ đã lượng định đầy đủ về kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Trung Cộng tương quan với những cuộc chiến Iraq, Afghanistan và khủng bố. Mặc dù chiến trường Iraq và Afghanistan bắt buộc gia tăng nhu cầu Bộ Binh và Thủy Quân Lục Chiến nhưng Bộ Quốc Phòng cũng gia tăng ngân khoản cho Hải Quân và Không Quân.

Hiện nay Hải Quân Mỹ có tất cả 282 chiến hạm kể cả 11 Hàng Không Mẫu Hạm và dự định sẽ tăng lên 313 chiến hạm với 12 HKMH trong những năm sắp đến (2010). Trong những cuộc điều trần, Quốc Hội đã có những nhận định rõ ràng về số lượng chiến hạm có thể đương đầu với những thử thách do kế hoạch hiện đại hóa của hải quân Trung cộng, đồng thời vẫn khai triển được lực lượng ở vùng Vịnh Ba Tư, Ấn Độ Dương và những cuộc hành quân bất ngờ trong phần còn lại của thế giới như là vùng Địa Trung Hải, Caribbean, Nam Mỹ Châu, Tây Phi Châu. Như vậy, đề nghị 313 chiến hạm bao gồm 12 hàng không mẫu hạm, có đủ khả năng chu toàn những nhiệm vụ trong thời bình cũng như trong chiến tranh đã được chuẩn thuận.

Những năm trước, hoạt động của Hải Quân Trung Cộng trên vùng Tây Thái Bình Dương có tính cách thăm dò, dè dặt nhưng thời gian gần đây chúng tiến xa hơn và tỏ thái độ thách thức. Tiêu biểu nhất là sự kiện ngày 8 tháng 3, 2009 tại biển Nam Hải (biển Đông) 5 chiếc tàu Trung Cộng quấy nhiễu tàu USNS Impeccable, và sau đó phát ngôn viên Ngũ Giác Đài Bryan Whitman tuyên bố rằng tàu Mỹ sẽ tiếp tục di chuyển trong hải phận quốc tế.

Bộ Quốc Phòng Mỹ và các quốc gia trong khu vực đều có sự quan tâm và giải pháp.

Mỹ tiếp tục gia tăng chiến hạm và nâng số tiềm thủy đỉnh tấn công trong khu vực Thái Bình Dương lên đến 31 tiềm thủy đỉnh vào cuối năm 2009, một sự xoay chiều nghịch đảo so với thời kỳ chiến tranh lạnh. Ngày 22 tháng 4 năm 2009 vừa qua, một phái đoàn sĩ quan Cộng Sản Việt Nam được mời thăm viếng Hàng Không Mẫu Hạm John C. Stennis.

Mới đây, một Bạch Thư của Bộ Quốc Phòng Úc Đại Lợi kêu gọi tăng ngân sách hải quân, đầu tư vào 12 tiềm thủy đỉnh và nhấn mạnh rằng: “Úc không xem Trung Cộng như là mối đe dọa mà là một yếu tố trong quá trình kế hoạch chiến lược”. Bạch Thư cũng đưa ra nhận xét: “Quan hệ giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh có tầm quan trọng đặc biệt cho sự ổn định chiến lược của Châu Á – Thái Bình Dương” và đánh giá rằng: “Hoa Kỳ vẫn sẽ là nước hùng mạnh nhất và ảnh hưởng nhất về mặt chiến lược trong giai đoạn từ nay tới 2030”.

IV- Hạm Đội Thái Bình Dương (US Pacific Fleet) và Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương (US Pacific Command)

1/ Hạm đội Thái Bình Dương là một bộ máy chiến tranh của Hải Quân Mỹ lớn nhất thế giới, bao gồm Đệ Tam Hạm Đội, Đệ Thất Hạm Đội, Không Lực Hải Quân Thái Bình Dương, Lực Lượng Chiến Hạm Thái Bình Dương, Lực Lượng Tiềm Thủy Đỉnh Thái Bình Dương và những lực lượng khác, cấp số khoảng 180 chiến hạm, 1.500 phi cơ, 125.000 hải quân, thủy quân lục chiến và dân sự. Hạm Đội Thái Bỉnh Dương nhận trách nhiệm khoảng 100 triệu dặm vuông biển và đại dương, hơn 50% diện tích địa cầu, từ bờ biển phía Tây nước Mỹ đến bờ biển phía Đông Phi Châu, từ Bắc Cực xuống Nam Cực, bao gồm ba đại dương: Bắc Băng Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và sáu lục địa: Á Châu, Phi Châu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Cực, Úc Châu. Những Bộ Chỉ huy Hải Lực tại Nam Hàn, Nhật Bản, quần đảo Marianas cũng trực thuộc thẩm quyền của Hạm Đội Thái Bình Dương.


Lê Bá Hùng USS Lassen US Navy Commander

Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương (US Pacific Fleet) hiện nay là Đô Đốc Robert F. Willard và tổng hành dinh đóng tại Trân Châu Cảng, tiểu bang Hạ Uy Di.

Theo tổ chức hiện hành và cơ cấu chỉ huy, Hạm Đội Thái Bình Dương báo cáo theo hệ thống hành chánh về Chỉ Huy Trưởng Hành Quân Hải Lực (Chief of Naval Operations) - Đô Đốc Gary Roughead - thuộc Bộ Hải Quân và theo hệ thống quân giai đến Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương (US Pacific Command) - Đô Đốc Timothy J. Keating - tổng hành dinh đặt tại căn cứ H.M. Smith, tiểu bang Hạ Uy Di.

2/ Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command) viết tắt: USPACOM là Bộ Tư Lệnh tác chiến hợp nhất của Quân Lực Hoa Kỳ. Bộ Tư Lệnh nhận trách nhiệm phần lãnh thổ hơn phân nửa địa cầu, trải dài từ bờ biển phía Tây nước Mỹ đến biên giới phía Tây Ấn Độ và từ Nam Cực đến Bắc Cực. Đây là khu vực có sự khác biệt lẫn nhau về văn hóa, xã hội, kinh tế, địa lý và chính trị. Nơi đây cũng là quê hương của 36 quốc gia, chiếm hơn 50% dân số nhân loại với 3.000 ngôn ngữ, nhiều quân lực hùng mạnh của thế giới, năm quốc gia đồng minh với Hoa Kỳ với những hiệp ước hổ tương quốc phòng. Trong khu vực cũng có hai cường quốc kinh tế trong số bốn cường quốc kinh tế (Mỹ, Nhật, Trung Cộng, Anh Quốc), những quốc gia đông dân nhất thế giới, quốc gia theo thể chế dân chủ lớn nhất, quốc gia đa số là tín đồ Hồi Giáo lớn nhất. Hơn một phần ba những quốc gia của khu vực Châu Á Thái Bình Dương là những quốc gia hải đảo nhỏ bé trong đó có Cộng Hòa bé nhất thế giới và quốc gia nhỏ nhất ở Á Châu.

Các quốc gia trong khu vực Á Châu Thái Bình Dương được liệt kê như sau: Úc Đại Lợi, Bangladesh, Bhutan, Brunei, Burma, Cam Bốt, Trung Cộng, Fiji, Ấn Độ, Nam Dương, Nhật Bản, Kiribati, Lào, Malaysia, Maldives, Marshall Islands, Micronesia, Mông Cổ, Nauru, Nepal, Tân Tây Lan, Bắc Hàn, Palau, Papua Guinea, Phi Luật Tân, Samoa, Tân Gia Ba, Solomon Islands, Nam Hàn, Sri Lanka, Thái Lan, Timor-Leste, Tonga, Tuvalu, Vanuatu, Việt Nam.


 title=
Những vùng trách nhiệm của Hạm Đội

Một cách tổng quát, Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương USPACOM cam kết sẽ là một đối tác tích cực và đáng tin cậy nhằm bảo đảm an ninh, ổn định và tự do làm nền tảng cho sự phồn vinh của khu vực Á Châu Thái Bình Dương và đề ra các tiêu lệnh:

Ưu Tiên Quân Sự

USPACOM trước tiên là Bộ Tư Lệnh Tác Chiến, cam kết duy trì ưu thế quân sự về nhiều phương cách hành quân. Chúng ta là một lực lượng sẵn sàng và hiện diện.

Tiếp Xúc Đa Phương Tiến Đến An Ninh

USPACOM nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của những giải pháp song phương và đa phương để vượt qua những thách thức về an ninh và duy trì sự ổn định trên toàn vùng. Chúng ta sẽ hành động phối hợp với những nước nào xem trọng sự hợp tác và cộng tác để đem lại an ninh và ổn định.

USPACOM trước tiên là Bộ Tư Lệnh Tác Chiến, cam kết duy trì ưu thế quân sự về nhiều phương cách hành quân. Chúng ta là một lực lượng sẵn sàng và hiện diện.

Di Chuyển Tự Do Và Tiếp Cận An Toàn

Di chuyển tự do và tiếp cận an toàn trên mọi lĩnh vực cho tất cả các quốc gia là điều tối cần thiết cho an ninh và thịnh vượng của toàn vùng. USPACOM không chấp nhận những điều kiện làm cản trở di chuyển và tiếp cận và cũng không tha thứ những hành vi làm gián đoạn những đường dây tiếp trợ toàn cầu hoặc những đe dọa đối với những tuyến đường giao thông và thương mại.

Nổ Lực Của Toàn Bộ Chính Phủ

Sự thành công trong hoạt động hỗ tương của USPACOM trong môi trường phức tạp của vùng Á Châu Thái Bình Dương đòi hỏi một sự hợp tác cao độ, đồng bộ và thống nhất bên trong Bộ Quốc Phòng Mỹ và các Bộ và các cơ quan khác cuả chính phủ. Sự vận dụng toàn bộ chính phủ nầy cho phép chúng ta xem như là một đòn bẫy hữu hiệu đối với các cơ quan thẩm quyền của quốc gia.

Di chuyển tự do và tiếp cận an toàn trên mọi lĩnh vực cho tất cả các quốc gia là điều tối cần thiết cho an ninh và thịnh vượng của toàn vùng. USPACOM không chấp nhận những điều kiện làm cản trở di chuyển và tiếp cận và cũng không tha thứ những hành vi làm gián đoạn những đường dây tiếp trợ toàn cầu hoặc những đe dọa đối với những tuyến đường giao thông và thương mại.

Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương cũng quy định rõ bảy nhiệm vụ như sau:

* Bảo vệ Tổ Quốc.

* Duy trì một khả năng quân sự hùng mạnh.

* Phát triển những thỏa hiệp hợp tác an ninh.

* Tăng cường và mở rộng sự quan hệ với đồng minh và các nước có sự hợp tác với Hoa Kỳ.

* Giảm thiểu tính nhạy cảm đối với chủ nghĩa cực đoan bạo lực.

* Ngăn chận gây hấn quân sự.

* Ngăn chận những kẻ thù địch sử dụng vũ khí giết người hàng loạt.

Trong tuần lễ đầu tháng 6/ 2009 vừa qua, một phái đoàn sĩ quan Cộng Sản Việt Nam đã đến Hạ Uy Di để quan sát cuộc diễn tập cứu nạn bão lụt Makani Pahili. Phái đoàn do Trung Tướng Việt Cộng Trần Quang Khuê, phó chủ tịch thường trực Ủy Ban Cứu Trợ hướng dẫn, đã được Đô Đốc Timothy Keating tiếp đón tại tổng hành dinh với lễ nghi quân cách và sau đó phái đoàn được mời viếng thăm các cơ sở và tiện nghi của Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương.

V- Hàng Không Mẫu Hạm

Mỗi khi một cuộc khủng hoảng xảy ra trên thế giới, câu hỏi đầu tiên của người Mỹ là hàng không mẫu hạm đang nằm ở đâu. Hàng không mẫu hạm được bố trí tại những nơi xung yếu trên biển và đại dương để yểm trợ cho quyền lợi và sự cam kết của nước Mỹ. Hàng Không Mẫu Hạm là chiến hạm được chế tạo để chuyên chở phi cơ, có phi đạo để phi cơ xuất phát và hạ cánh. Kể từ 1922 đến nay, nước Mỹ sản xuất 66 hàng không mẫu hạm, đã giải nhiệm 53, hiện đang xử dụng 11 và dự định hoàn tất một hàng không mẫu hạm (USS Gerald R. Ford) năm 2015.


 photo uss-gw_zpsf482a855.jpg
Hàng Không Mẫu Hạm/Aircraft Carrier

Hàng không mẫu hạm kết hợp với các chiến hạm khác là một cơ cấu tác chiến quan trọng, nên các cường quốc cố gắng tạo lập các hàng không mẫu hạm để duy trì sức mạnh trên mặt biển. Sau đây là những dữ kiện đơn giản liên quan đến hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ và của các quốc gia khác...

1/ Các Hàng Không Mẫu Hạm của Hoa Kỳ:

* 1.1/ USS Enterprise: 93,500 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng đầu tiên, nhận nhiệm vụ 25 tháng 11 năm 1961.

* 1.2/ USS Nimitz: 101,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 3 tháng 5 năm 1975.

* 1.3/ USS Dwight D. Eisenhower: 101,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 18 tháng 10 năm 1977.

* 1.4/ USS Carl Vinson: 101,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 13 tháng 3 năm 1982.

* 1.5/ USS Theodore Roosevelt: 101,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 13 tháng 3 năm 1982.

* 1.6/ USS Abraham Lincoln: 102,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 11 tháng 11 năm 1989.

* 1.7/ USS George Washington: 102,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 4 tháng 7 năm 1992.

* 1.8/ USS John C. Stennis: 102,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 9 tháng 12 năm 1995.

* 1.9/ USS Harry S. Truman: 102,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 25 tháng 7 năm 1998.

* 1.10/ USS Ronald Reagan: 104,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 12 tháng 7 năm 2003.

* 1.11/ USS George H.W. Bush: 104,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, nhận nhiệm vụ 10 tháng 1 năm 2009.

* 1.12/ USS Gerald R. Ford: đang kiến tạo, 100,000 tấn, siêu mẫu hạm vận hành bằng nguyên tử năng, dự định giao nhiệm vụ năm 2015.


2/ Hàng Không Mẫu Hạm của các quốc gia khác:

1. Ba Tây: Ba Tây đang điều hành Hàng Không Mẫu Hạm Nae São Paulo, 32,800 tấn, từ 15 tháng 11 năm 2000 sau khi mua lại của Pháp.

2. Pháp Quốc: Nước Pháp đang điều hành Hàng Không Mẫu Hạm Charles de Gaulle, 42,000 tấn, vận hành bằng nguyên tử năng kể từ 18/5/2001.

3. Ấn Độ: Ấn Độ sở hữu 3 hàng không mẫu hạm:

o Hàng Không Mẫu Hạm INS Viraat, 28.700 tấn, mua lại của Anh Quốc tháng 4 năm 1986 và nhận nhiệm vụ tháng 5 năm 1987.

o Hàng Không Mẫu Hạm INS Vikramaditya, 45,000 tấn, kiểu mẫu STOBAR (Short Take Off But Arrested Recovery), mua lại của Liên Bang Nga và đang tái tạo, dự định giao nhiệm vụ 2012.

o Hàng Không Mẫu Hạm INS Vikrant, 40,000 tấn, đang kiến tạo theo kiểu mẫu STOBAR, dự định giao nhiệm vụ năm 2014.


4. Ý Đại Lợi: Ý Đại Lợi đang điều hành 2 mẫu hạm:

o Hàng Không Mẫu Hạm Giuseppe Garibaldi, 14,400 tấn, kiểu mẫu STOVL (Short Take Off and Vertical Landing), nhận nhiệm vụ tháng 9 năm 1995.

o Hàng Không Mẫu Hạm Conte di Cavour, 27.000 tấn, kiểu mẫu STVOL, nhận nhiệm vụ năm 2008.

5. Nga: Nga đang điều hành một hàng không mẫu hạm danh hiệu Admiral Flota Sovetskovo Soyuza Kuznetsov, 67.500 tấn, kiểu mẫu STOBAR, hạ thủy năm 1985 tại Tbilisi, nhận nhiệm vụ năm 1991, hoạt động hoàn chỉnh năm 1995.

6. Tây Ban Nha: Tây Ban Nha sở hữu 2 mẫu hạm:

o Hàng Không Mẫu Hạm Principe de Asturias, 17.200 tấn, kiểu STOVL, nhận nhiệm vụ 30 tháng 5 năm 1988.

o Hàng Không Mẫu Hạm Juan Carlos, 27.079 tấn, đang kiến tạo theo kiểu mẫu STOVL, dự định giao nhiệm vụ năm 2011.

7. Anh Quốc: Anh sở hữu 4 hàng không mẫu hạm:
o Hàng Không Mẫu Hạm HMS Illustrious, 21.000 tấn, kiểu mẫu STOVL, nhận nhiệm vụ 20 tháng 6 năm 1982.

o Hàng Không Mẫu Hạm HMS Ark Royal, 21.000 tấn, kiểu mẫu STOVL, nhận nhiệm vụ 1 tháng 11 năm 1985.

o Hàng Không Mẫu Hạm HMS Queen Elisabeth, 65.000 tấn, đang kiến tạo và dự định giao nhiệm vụ năm 2014.

o Hàng Không Mẫu Hạm HMS Prince of Wales, 65.000 tấn, đang kiến tạo và dự định giao nhiệm vụ năm 2016.

8. Thái Lan: Thái Lan đang sở hữu mẫu hạm HTMS Chakri Naruebet, 11.400 tấn, kiểu mẫu STOVL, nhận nhiệm vụ 10 tháng 8 năm 1997 nhưng hiện nay ngưng hoạt động vì thiếu hụt ngân khoản.

VI - Tiềm Thủy Đỉnh

Tiềm thủy đỉnh của Hải Quân Hoa Kỳ dùng vào chiến tranh tất cả đều vận hành bằng năng lượng nguyên tử và chia làm hai nhóm: Nhóm tiềm thủy đỉnh mang hỏa tiễn đạn đạo và nhóm tiềm thủy đỉnh tấn công.

1/ Tiềm thủy đỉnh trang bị hỏa tiễn đạn đạo đầu đạn nguyên tử thi hành một nhiệm vụ chiến lược duy nhất là đánh vào những mục tiêu chiến lược của đối phương: Các đô thị, các căn cứ hỏa tiễn.

Hải Quân Mỹ đang điều hành 18 tiềm thủy đỉnh loại nầy gọi là Ohio class submarines với những đặc tính như sau: Chiều dài 560 ft hoặc 170 m, chiều ngang 42 ft hoặc 13 m, hoạt động vô giới hạn ngoại trừ khi cần tiếp tế lương thực, trang bị 24 hỏa tiễn Trident II D5 SLBM (Submarine Launched Ballistic Missile).

Hỏa tiễn Trident D5 có tầm bắn tối đa 7.456 dặm hoặc 12.000 km, tương đương với tầm bắn của loại hỏa tiễn tàng trữ trong các hầm trên lục địa, mang theo từ 8 đến 12 đầu đạn (MIRV: Multiple, Independently, Targeted, Re-entry, Vehicle). Khi hỏa tiễn tiến đến gần vị trí, các đầu đạn của hỏa tiễn tách ra thành 8 hoặc 12 trái bom nguyên tử và được hệ thống điện toán điều khiển đến các mục tiêu khác nhau một cách chính xác. Theo ước tính của các chuyên viên, mỗi đầu đạn W88 có sức nổ 475 kT, so với quả bom ném xuống Hiroshima 12 kT đã giết hại 150.000 sinh mạng, thì một Tiềm thủy đỉnh chiến lược khai hỏa đủ 24 hỏa tiễn Trident tạo ra một sự kiện khủng khiếp: Hủy diệt hoàn toàn một quốc gia trên địa cầu! (Thỏa Ước START I, Strategic Arms Reduction Treaty giới hạn MIRV 8 đầu đạn).

Tiềm thủy đỉnh chiến lược là xương sống của lực lượng nguyên tử Hoa Kỳ, là một trong ba mũi tấn công bằng vũ khí nguyên tử (nuclear triad) bao gồm oanh tạc cơ chiến lược có căn cứ trên mẫu hạm hoặc trên mặt đất và hỏa tiễn liên lục địa bố trí tại nhiều nơi xung yếu. Tiềm thủy đỉnh mang hỏa tiễn Trident có nhiều ưu điểm vượt trội vì có thể khai pháo vào các mục tiêu thù địch ngay từ lãnh hải của nước Mỹ hoặc tại một nơi bí ẩn thuộc hải phận quốc tế hoặc ngay cả trong vùng biển của địch và chỉ cần khoảng thời gian từ 10 đến 15 phút để đi đến đích, so với 30 phút nếu xử dụng hỏa tiễn liên lục địa từ các hầm chứa (silo).

Hiện nay, Hoa Kỳ, Nga, Trung Cộng là ba siêu cường có đủ ba mũi tấn công nguyên tử, các cường quốc quân sự khác như là Ấn Độ, Pháp, Anh, Do Thái, Pakistan có vũ khí nguyên tử nhưng thiếu một hoặc hai loại phương tiện chuyên chở nói trên.

Cũng có những dự kiến về những loại vũ khí đặt trên quỹ đạo (orbital weapons) hay trên phi thuyền (spacecraft), tuy nhiên điều nầy bị nghiêm cấm theo Thỏa Ước Ngoại Tầng Không Gian (Outer Space Treaty) và Thỏa Ước SALT II.

2/ Tiềm thủy đỉnh tấn công có nhiệm vụ tìm kiếm và tiêu diệt tiềm thủy đỉnh địch, chiến hạm địch, bắn hỏa tiễn Tomahawk, đổ bộ lực lượng đặc biệt, thu thập tin tức, giám sát, trinh sát, yểm trợ hàng không mẫu hạm, chống mìn.

Hải Quân Hoa Kỳ hiện đang điều hành 56 tiềm thủy đỉnh tấn công, gồm có:

* 49 tiềm thủy đỉnh loại Los Angeles với những đặc tính tổng quát: Chiều dài 360 feet (109,73 met), chiều rộng 33 feet (10,06 met), trang bị hỏa tiễn Tomahawk, thủy lôi loại MK48 với 4 ống phóng.

* 3 tiềm thủy đỉnh loại Seawolf với những đặc tính tổng quát: Chiều dài 353 feet (107,6 met), chiều rộng 40 feet (12,2 met), trang bị hỏa tiễn Tomahawk, thủy lôi loại MK48 với 8 ống phóng.

* 4 tiềm thủy đỉnh loại Virginia và đang chế tạo thêm 6 tiềm thủy đỉnh với những đặc tính: chiều dài 377feet (114,8 met), chiều rộng 34 feet (10.4 met), trang bị hỏa tiễn Tomahawk với 12 ống phóng thẳng đứng (Vertical Launching System), thủy lôi MK48 với 4 ống phóng.

Tomahawk là loại hỏa tiễn dùng để tấn công các mục tiêu trên mặt đất với nhiều loại đầu đạn, từ đầu đạn qui ước TLAM-C với 450 kg chất nổ, bom chùm TLAM-D (bomblet-dispensing) đến đầu đạn nguyên tử TLAM –A (200 kT) hoặc TLAM-N. Hiện nay, đầu đạn nguyên tử bị cấm do Thỏa Ước SALT. Tomahawk cũng là hỏa tiễn chống chiến hạm TASM (Tomahawk Anti-Ship Missile), chiều dài căn bản: 5,56 mét, đường kính: 0,52 mét, tốc độ 880 km/h, tầm xa: 2.500 km, hệ thống định vị toàn cầu (GPS) tối tân hướng dẫn hỏa tiễn đánh trúng mục tiêu sai biệt khoảng 10 mét.

Hoa Kỳ là một siêu cường kinh tế và quân sự, diện tích hàng thứ ba thế giới (9.826.630 km2) nằm trên vùng ôn đới của lục địa Bắc Mỹ Châu. Lãnh thổ Hoa Kỳ ngăn cách với cựu lục địa (Á, Âu, Phi) nơi thường xảy ra những những xáo trộn, bằng hai đại dương: Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Tuy nhiên các giới chức chính trị, quân sự, kinh tế nước Mỹ đều nhận thức rõ rệt rằng gần ba phần tư địa cầu bị nước bao phủ, các đô thị đông đúc dân cư đều sống trong vòng vài trăm dặm kể từ bờ biển và nhất là 90% thương mại thế giới đều đi qua đường biển.

 title=
Máy bay ném bom tàng hình b2 Spirit

Trải qua kinh nghiệm của hai trận thế chiến, chiến tranh lạnh, chiến tranh khủng bố và dự liệu đến sự tồn tại và phát triển mai hậu trong khung cảnh thế giới ngày càng mở rộng, Hải Quân Hoa Kỳ được quan tâm và đầu tư đúng mức là một lực lượng bảo vệ đất nước, chiến thắng các cuộc chiến tranh phù hợp với việc ngăn chận chiến tranh. Quan niệm rằng sự an ninh, sự phồn vinh của nước Mỹ được gia tăng song hành với những quốc gia khác cũng trong những lĩnh vực nầy, Hải Quân Mỹ cam kết sẽ là lực lượng bảo vệ hữu hiệu những quyền lợi sinh tử của nước Mỹ ngay cả khi liên kết với quốc gia khác để gia tăng sự thịnh vượng chung trải khắp địa cầu.

Xuyên qua chiến lược của Hải Quân Hoa Kỳ phản ảnh phần lớn chính sách chung của Hiệp Chủng Quốc, các bạn trẻ Việt Nam khắp nơi trên thế giới, nếu bỏ bớt thì giờ để ưu tư; các bạn sẽ suy nghĩ như thế nào và quyết tâm ra sao khi đối diện với tương lai của nòi giống, lãnh thổ và Biển Đông?

Đỗ Hữu Long
Tháng 12 năm 2011

**************
Để tưởng nhớ hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974

 

Điểm Đứng

 

"Điểm đứng" lập luận của Việt cộng"

Điểm Đứng Nào cho người quốc gia Nơi Viễn Phương?

Năm Kỷ Sửu, 2009, mùa xuân thứ ba mươi bốn lại trở về. Năm tháng qua mau, những người Việt tỵ nạn chúng ta nhìn lại những gì đã xảy ra cho đời mình; để đến nỗi phải gạt nước mắt rời bỏ quê hương yêu dấu để tỵ nạn, lưu lạc xứ người! Dĩ nhiên mỗi người đều mang trong mình những vết thương; những vết thương có thể đã lành ngoài da, có thể còn để lại vết sẹo... Nhưng vết sẹo trong tâm hồn, vết thương đau đớn ngày đó vẫn còn rỉ máu!


photo
Mùa xuân lại về, hôm trước đây, tôi đi dự một buổi ra mắt sách của một thân hữu ở Little Saigon. Tình cờ gặp lại người bạn cùng trại tù với tôi từ Nam ra đến miền Bắc. Trong lúc vui chuyện cũ, anh ta nhắc đến một cái Tết đầu tiên trong "trại tập trung Long Giao". Lúc đó chúng tôi đã ở trong trại tù gần bảy tháng (kể từ tháng 5-1975). Trong đợt "học tập" chính sách và đường lối của "cách mạng" thì cũng trùng vào dịp Tết. Anh bạn cười hỏi tôi có nhớ "bài học" đầu tiên và những ngày xuân năm đó không, tôi trả lời đã quên hết rồi! Anh trách tôi là người hời hợt và mau quên, rồi nhắc lại bài học kéo dài một tuần lễ trùng với Tết là bài "Điểm Đứng"! Rồi anh ta vừa nhả khói thuốc vừa nheo mắt, nhắc lại cảm tưởng của anh lúc cùng nhau ngồi thảo luận mấy ngày, liền kèm với mấy câu chửi thề.
"Điểm Đứng"!

Trong nội dung bài giảng, người ta nói quanh co về quan điểm thế nào là điểm đứng. Chủ yếu "Cán Bộ Giáo Dục" muốn tẩy não, nhồi nhét về tội lỗi của "đối tượng" phải ý thức là -- Mình đang đứng ở đâu để đánh giá tội lỗi của mình trong suốt quá trình phục vụ cho bọn "Mỹ-Ngụy và giai cấp bóc lột".

Chỉ có một điểm đứng duy nhất là phải ở trong hàng ngũ công nhân và nông dân, đó là giai cấp vô sản để nhìn và đánh giá giai cấp tư bản bóc lột (?).

Điểm đứng, mà "cán bộ giáo dục" cộng sản đưa ra, quả quyết, bắt buộc người "cải tạo" phải xác định vị trí đúng của mình "trong lòng dân tộc". Có nghĩa là -- phải đứng hẳn vào điểm đứng với giai cấp vô sản (?) để đánh giá sự tàn bạo, vô nhân đạo, dã man, người bóc lột người của chủ nghĩa tư bản bóc lột, từ đó mới thấy được tội lỗi của mình. Trong giai đoạn lịch sử đấu tranh cách mạng, đấu tranh giai cấp, lật đổ chủ nghĩa Tư Bản, để thành lập chủ nghĩa Cộng Sản trên toàn thế giới, chỉ có lý luận Mác-Lê là toàn hảo (!).

Sau một ngày "lên lớp", người ta chia "Ngụy" ra từng nhóm nhỏ để "đào sâu và thảo luận". Mỗi nhóm có thể là 10 hay 12, có một Bộ Đội Quản Giáo ngồi chủ tọa. Suốt một tuần lễ, chỉ có đề tài đã học được đem ra mổ xẻ và nghe ý kiến phát biểu của từng cá nhân. Sau khi bày tỏ nhận thức của mình về cái "điểm đứng" được xác định, mỗi cá nhân liên hệ tội lỗi của mình trong thời gian "theo địch, theo đế quốc Mỹ". Từ đó thấy được mình là tội đồ của dân tộc, chống lại "cách mạng", chống lại nhân dân. Mà chống lại "nhân dân" có nghĩa là chống lại Đảng Cộng Sản Việt Nam (?).

- Thế nào là đứng vào hàng ngũ "nhân dân"?

- Thế nào là phải xác định vị trí đứng của mình trong lòng dân tộc?

- Thế nào là từ vị trí ấy nhìn kẻ thù tư bản và Đế Quốc Mỹ cũng như bọn phản động "Ngụy Quân Ngụy Quyền Sài Gòn"?

Để từ đó thấy được tội của mình lớn như thế nào với Cách Mạng.

Đây là một quan niệm về từ ngữ "điểm đứng", nó giống như ta đứng từ bờ biển nhìn mặt trời bình minh. Điểm ta đứng, không gian ta nhìn tạo một góc, mà trong khoảng không gian đó mắt ta có thể nhìn thấy. "Cách mạng" dạy rằng: Hãy đứng hẳn vào góc nhìn từ giai cấp vô sản để đánh giá đối tượng là chủ nghĩa Tư Bản, từ đó ta mới có thể thấy được chủ nghĩa Tư Bản xấu xa (?).

Đảng Cộng Sản thoát thai từ giai cấp vô sản Việt Nam, do nhân dân "Việt Nam tin yêu trao phó". Chống lại Đảng chính là chống lại nhân dân! Rồi cứ lặp đi lặp lại một cách cố ý, giống như nhồi sọ theo thuyết Ba-Lốp về con chó tiết dịch vị với cái chuông.

Trong suốt một tuần lễ "thảo luận", tất cả những thành viên "học tập" đều răm rắp chèo xuôi mát mái, đều "hồ hởi, phấn khởi" đứng trong lòng dân tộc để phê phán chủ nghĩa Đế Quốc, suy ra chế độ "Ngụy" miền Nam, từ đó xác định được những tội lỗi to lớn cần phải gội rửa cho sạch mới mong trở nên con người tốt trong Xã Hội Chủ Nghĩa.

Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận, vì mỗi người bắt buộc phải nói về bài học và nói về mình, nên cũng đã, hầu hết "được" cán bộ chủ tọa ghi vào sổ đen. Chẳng hạn như tôi, khi phát biểu, tôi nói, khi ta đứng trước một căn nhà, ta thấy căn nhà ấy khác với dáng hình của nó khi ta ở phía bên hông hay phía sau nhà. Còn nếu ta vào phía bên trong thì hình dáng căn nhà không còn nữa, nó sẽ cho ta một không gian khác và cảm tưởng khác.

Như thế, muốn cho trung thực, ta không thể chỉ đơn giản đứng một góc nhìn. Vì như vậy là phiếm diện, là không trung thực. Ngay lúc tôi phát biểu xong thì Quản Giáo liền sửa sai và bắt tôi phải xác định lại tư tưởng. Nhưng tối đến thì một nhóm bốn ông quản giáo không biết từ đâu đến gọi tôi lên "làm việc" (tra vấn) suốt 5 giờ liền để đả thông cái đầu "ngu dốt" của tôi về góc nhìn, về điểm đứng mà tôi đã không theo ý bài học. Từ đó tôi là đối tượng cần theo dõi... Tôi phải làm một bản kiểm điểm và phải nghiêm khắc tự phê bình chính mình để có thể "theo kịp" lớp học và chóng được "đoàn tụ" với gia đình.

Ngày nay, hầu hết những bài viết hay lời nói của những người trong nước đề cập đến người Việt tỵ nạn hải ngoại; họ thường quen cung cách "điểm đứng". Cho nên họ thường lộn tổ quốc, nhân dân, dân tộc với đảng cộng sản. Họ thường nói người Việt hải ngoại tại sao lại quên tổ quốc, chống lại dân tộc, chống lại người dân? Trong những lời khuyên họ thường đề cập: Sao có thể quay lưng với đất nước, sao không về với dân tộc... Chính người Việt cộng họ đứng vào một chỗ mà đảng đã nhồi sọ mấy chục năm trời, cho nên họ đã lẫn lộn Tổ Quốc, Dân Tộc Việt Nam đồng nghĩa với Đảng Cộng Sản và yêu tổ quốc thì đồng nghĩa với phải yêu Chủ Nghĩa Xã Hội.

Chính vì thế mà xã hội Việt Nam ngày nay đã bị băng hoại, bị đắm chìm vào cơn mê ngủ không thể nào vực dậy được về tư tưởng và lý tưởng tự do hay ý thức dân chủ một cách dễ dàng được.
Con nít mới đến trường, học a b c thì đã bị nhồi sọ theo kiểu cộng sản, nó cũng giống như các trường Hồi Giáo dạy con nít, nhồi sọ theo ý tưởng một chiều; để khi mới lớn lên là làm cảm tử, ôm bom cảm tử vì đạo như ta đã thấy.

Nếu có ai đó muốn làm một thống kê hay tìm hiểu dân tình về ý thức tự do, dân chủ: đi từ Nam ra Bắc của Việt Nam; họ sẽ lấy làm đau đớn mà có thể khóc để tâm sự rằng: Nếu chế độ cộng sản mà sụp đổ ngay ngày hôm nay thì phải mất khoảng 30 năm giáo dục những ba, bốn thế hệ, chưa chắc đã rửa sạch, quét hết được những thối tha đen tối, mà chủ nghĩa cộng sản đã rãi lên quê hương Việt Nam trong những năm họ cầm quyền; mà chỉ nói về mặt tư tưởng thôi đấy!

Cái "điểm đứng" tai hại do người cộng sản là cấy vào đầu người dân Việt Nam đã làm cho mọi thứ đều đảo lộn, đó là: Văn hóa, đời sống, kinh tế, tư tưởng, tình yêu...

Nếu cứ áp dụng cái lý luận "điểm đứng", về mặt tư tưởng của Việt cộng/cộng sản thì mọi sự trên đời như một con đường cho con ngựa có hai miếng che mắt, lộc cộc gõ đều, để chở trên xe nó kéo phía sau một tập đoàn tội phạm mà chúng kết tội trong việc -- nhân danh tổ quốc, nhân danh quê hương, nhân danh dân tộc -- để biến cả một dân tộc đó thành nô lệ tự nguyện!

Riêng chúng ta, những người đã từng sống qua nhiều giai đoạn thăng trầm của đất nước, chứng kiến biết bao nỗi khổ đau của dân tộc, trong đó ta là nạn nhân.

Mùa xuân Kỷ Sửu lại về, có khi nào ta đang ở vị thế một "điểm đứng" lệch lạc nào, mà cái nhìn từ ta không còn là ta nữa?

Chúc nhau và mừng xuân mới, nhìn về quê hương sau ba mươi bốn năm lưu lạc bằng một "góc nhìn" nào để ta vẫn còn mãi là ta, chứ không phải ra người hai mặt.

Lê Tâm Anh

Điểm Đứng Nào Nơi Viễn Phương?

 

Người Mỹ gốc Việt giúp Hải Quân Hoa Kỳ tiêu-diệt Hỏa Tiễn DF-21D của Trung Cộng



Người Mỹ gốc Việt giúp Hải Quân Hoa Kỳ tiêu diệt Hỏa Tiễn DF-21D của Trung Cộng



image
Một khoa học gia gốc Việt, Tiến Sĩ Nguyễn Định, hiện là trưởng công trình nghiên cứu chế tạo loại vũ khí mới mang tên Free Electron Laser (FEL). Đây là loại vũ khí dùng để phá hủy hỏa tiễn tấn công của đối phương, kể cả hỏa tiễn DF-21D của Trung Cộng hiện đang đe dọa các Hàng Không Mẫu Hạm (HKMH) và các Chiến Hạm Hoa Kỳ.

image
Hỏa Tiễn DF-21D của Tàu Cộng đe dọa HKMH Hải Quân Hoa Kỳ

Trong bản Tường Trình trước Quốc Hội Hoa Kỳ (CRS Report for Congress) của Ronald O' Rourke ngảy 21 tháng 1 năm 2011, trang 38 có tường trình về công trình nghiên cứu và sáng chế vũ khí mới - Free Electron Laser (FEL) program - của Tiến Sĩ Nguyễn Định.

image
Khu-Trục-Hạm AEGIS sẽ được trang bị Free Electron Laser


Trung Cộng đang ngạo mạn phô trương sức mạnh của Hỏa tiễn DF-21D, đe dọa các Hàng Không Mẫu Hạm Hoa Kỳ. Nhưng lũ Chệt đâu ngờ một loại vũ khí mới mang tên Free Electron Laser (FEL) của TS Nguyễn Định sẽ hủy diệt được DF-21D, làm tiêu tan "tham vọng Đại-Hán" nhằm khống chế biển đông!

Free Electron Laser đang còn trong giai đoạn hoàn chỉnh và các chiến hạm Hoa Kỳ sẽ được trang bị công trình sáng chế loại vũ khí mới này.

image
Tiến Sĩ Nguyễn Định


LANL scientists are instrumental in making breakthrough for the Navy By John Severance - Sunday, January 23, 2011 at 12:00 pm

Thanks to the Los Alamos National Laboratory (LANL), the Navy took a big step in its quest to build a powerful new anti-aircraft gun. LANL scientists have achieved a breakthrough with the Office of Naval Research’s Free Electron Laser (FEL) program, demonstrating an injector capable of producing the electrons needed to generate powerful megawatt-class laser beams for the Navy’s next-generation weapon system.

The Dec. 20 milestone, which happened months ahead of schedule, was highlighted in a two-day preliminary design review Jan. 20-21 in Virginia.

image
 
“The injector performed as we predicted all along,’’ said Dr. Dinh Nguyen, senior project leader for the FEL program at the lab. “But until now, we didn’t have the evidence to support our models. We were so happy to see our design, fabrication and testing efforts finally come to fruition. We’re currently working to measure the properties of the continuous electron beams, and hope to set a world record for the average current of electrons.’’

Nguyen said Boeing, which had a measurement of 32 milliampere in 1993, holds the record for measuring properties of the continuous electron beams. The project leader said, “We are not there yet but we hope to break it in the near future.” At the demonstration, Nguyen received a lot of positive feedback from members of the ONR. But he was not about to take a lot of the credit.

“This is a team effort,” Nguyen said. He credited 15 other LANL employees for helping him with the research. “The best thing is that the Navy is looking at Los Alamos as the go-to lab for this kind of technology. This is a good sign for the lab.”

image
The free-electron laser produces laser light by accelerating electrons through these cryomodules and then into a wiggler, where electrons give off photons of light. Image courtesy: Greg Adams, Jefferson Lab. Nguyen said he and his team have been working on the project since 2006 but he has been working on the technology at the lab since the mid-1980s.

Asked where this accomplishment stacks up in his LANL career, which started in 1984, Nguyen said, “It’s not the most important, but it is up there.”Quentin Saulter, the FEL program manager for ONR, said in a release the implications of the FEL’s progress are monumental.

image
 
“This is a major leap forward for the program and for FEL technology throughout the Navy,” Saulter said. “The fact that the team is nine months ahead of schedule provides us plenty of time to reach our goals by the end of 2011.”
 


The research is a necessary step for the Department of the Navy to one day deploy the megawatt-class FEL weapon system, revolutionizing ship defense, Saulter said. “The FEL is expected to provide future U.S. Naval forces with a near-instantaneous laser ship defense in any maritime environment throughout the world.”

ONR’s FEL project began as a basic science and technology program in the 1980s and matured into a working 14-kilowatt prototype. In fiscal 2010, it graduated from basic research to an Innovative Naval Prototype, earning the backing needed by senior Navy officials to ensure its evolution to advanced technology and potential acquisition.

image
 
On the ONR website, Saulter explains the program. “The Navy’s future Free Electron Laser (FEL) weapon system is being designed to be game changing,” Saulter said. “The capability of having speed-of-light delivery for a wide range of missions and threats is a key element of a future shipboard layered defense. The design is to be able to have selectable wavelengths for use at sea. “It will demonstrate scalability of the necessary FEL physics and engineering for an eventual megawatt-class device. It will focus on the design, development, fabrication, integration and test of a 100-kw class FEL device. Future needs for ship integration and beam control will be considered. This revolutionary technology allows for multiple payoffs to the war fighter.
“The ability to control the strength of the beam provides for graduated lethality and the use of light vice, an explosive munition, provides for low per engagement and life cycle costs. In fact, it provides an effective alternative to using expensive missiles against low value targets. Not worrying about propulsion and working at the speed of light allows for precise engagement and the resulting low collateral damage. Speed-of-light engagement also allows for a rapid reaction to moving and/or swarming time critical and swarming targets.”

image
 
The laser works by passing a beam of high-energy electrons generated by an injector, through a series of strong magnetic fields, causing an intense emission of laser light. ONR hopes to test the FEL in a maritime environment as early as 2018.

“There still is a lot more testing,” Nguyen said.

Scientists at Los Alamos National Laboratory, headed by Dr. Dinh Nguyen, senior project leader for the Free Electron Laser program at the lab, made a breakthrough when they unveiled an injector, below, capable of producing the electrons needed to generate megawatt-class laser beams for the Navy’s next-generation weapon system.

 
Free Electron Laser Weapon

 
 
 photo desktop.jpg https://caybut2.blogspot.com/2015/12/la-thu-tran.html

Wednesday, July 29, 2015

Trường Chinh cổ võ Hán hóa



Trường Chinh, kẻ cổ võ Hán hóa và làm chư hầu cho Trung cộng

Trích ra một đoạn ngắn trong bài:

Thứ 3, Sẽ là thiếu sót nếu chỉ có hai bằng chứng trên đây để khẳng định việc tồn tại sắc lệnh kêu gọi của ông Trường Chinh là sự thật. Thêm bằng chứng sau đây sẽ khẳng định chắc chắn về điều đó với bạn đọc. Vì đảng cộng sản hay có thói quen thủ tiêu bằng chứng về tội ác và sai lầm của mình nên thêm một nguồn tài liệu có thể khẳng định điều này.

Trong cuốn sách của tác giả Hà Cẩn (Viện văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi nhà Xuất bản Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang có đoạn trang 126 nói về quan hệ với Việt Nam. Đoạn đó có đoạn tạm dịch như sau:

“Mao chủ tịch đánh giá việc Việt Minh đã từng muốn dùng tiếng Trung Quốc thay cho chữ quốc ngữ Việt Nam là một hành động cho thấy trước sau gì Việt Nam sẽ thuộc về chúng ta, ít nhất là về văn hóa”.

Từ đoạn này chúng ta có thể thấy Mao đã biết chủ trương dùng tiếng Hoa của Việt Minh (lúc đó mang tên đảng Lao động Việt Nam). Thời điểm tác giả Hà Cẩn nêu trong cuốn sách của mình là lúc Mao vẫn chỉ gọi đảng cộng sản Việt Nam là Việt Minh trùng khớp với thời điểm và cách dùng trong quy phạm của sắc lệnh kêu gọi của Trường Chính đòi nhân dân Việt Nam học tiếng Hoa.

http://dangchihung.blogspot.com/2012/09/truong-chinh-ke-co-vu-han-hoa-va-lam_4.html

 

Đây là bài viết tư blog của *Đặng Chí Hùng*

http://dangchihung.blogspot.com/2012/09/truong-chinh-ke-co-vu-han-hoa-va-lam_4.html

 photo thuc tagraveu - Vit Minh lagrave tin thacircn ca ng Cng Sn bc Vit Nam.jpg

 

*******************

 

Đây là tấm hình được phóng to ra:

http://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/thuc%20tagraveu%20-%20Vit%20Minh%20lagrave%20tin%20thacircn%20ca%20ng%20Cng%20Sn%20bc%20Vit%20Nam.jpg  photo thuc tagraveu - Vit Minh lagrave tin thacircn ca ng Cng Sn bc Vit Nam.jpg

 

 photo T C.jpg  photo TC 2.jpg  photo TC 3.jpg

Monday, July 27, 2015

NẮNG CHIỀU

NẮNG CHIỀU
Phim miền nam Việt Nam Cộng Hòa 1973
Hùng Cường Và Thanh Nga
https://youtu.be/nNKJhbuPcZ0

 

NẮNG CHIỀU

 

 

***********************************

 

Xa Lộ Không Đèn


https://youtu.be/v2Xlba_sRPQ

 

 

----------------------

 

Trường Tôi (1973)
https://youtu.be/NmlOekiK5vo

 

 

***********************************

 

Tứ quái Sài Gòn (1973)
https://youtu.be/LRgxfJZJTWg

 



NGƯỜI TÌNH KHÔNG CHÂN DUNG (1971)
| Phim Chiến tranh Việt Nam hiện thực nhứt xưa nay
https://youtu.be/G3CTbAWYtO4?si=DzFk9boJ6TlmiWK6