Showing posts with label Quân Sự. Show all posts
Showing posts with label Quân Sự. Show all posts

Tuesday, June 26, 2018

Trận Đánh Chi Khu Thiện Giáo

 

Trận Đánh Chi Khu Thiện Giáo
- Trần Kim Bằng
https://youtu.be/U8_qUCcVnxo











 

 








Trận Đánh Chi Khu Thiện Giáo



    Trận Đánh của Chi Khu Thiện Giáo vào tháng Tư năm 1975, một chiến thắng bị lãng quên.



    Đại Úy Mai Vi Thành

    Đại Úy Mai Vi Thành, xuất thân khóa 4 Đồng Đế, ra trường ông phục vụ tại các đơn vị tác chiến quân khu II.bThời điểm trước tháng tư 1975, là lính trận chuyên nghiệp, ông được giao lại quyền Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT) - Tiểu Đoàn 230/ĐPQ kiêm Xử Lý Thường Vụ Chi Khu Trưởng Thiện Giáo. Sau khi Quân Lực VNCH bị bức tử với lệnh buông súng ngày 30-4, Việt cộng thù dai, liệt ông vào thành phần “ác ôn”, và chuyển giao ông ra bắc, ở tù qua các trại như Hoàng Liên Sơn, số 5 Thanh Hóa… từ 1975- 1982, vượt biên định cư Hoa Kỳ 1983.

- Trần Kim Bằng

Sau hồi ký “Vượt biên đường bộ”, 2015, Bằng được ủy thác, vinh dự góp tay viết về trận đánh tại quận Thiện Giáo, thuộc tỉnh Bình Thuận trong tháng 4 năm 1975 theo lời kể của một vị sĩ quan Quân Lực – Việt Nam Cộng Hòa (QL- VNCH).
Với mục đích di sản cho thế hệ sau về những chiến thắng oai hùng của cha ông trong công việc gìn giữ, bảo vệ đất nước, chống lại sự xâm lược của cộng sản.


Bài viết được trình bày qua hình thức hồi ký, tác giả cho biết sau nhiều đề nghị từ các anh em đồng đội từng sát cánh chiến đấu, các con cháu, luôn yêu cầu ông nên kể lại. Ngoài mục đích di sản cho thế hệ sau về những chiến thắng oai hùng của cha ông trong công việc gìn giữ, bảo vệ đất nước, chống lại sự xâm lược của cộng sản (cs.) vô thần, ông còn mong như đóng góp nhỏ trong việc phản bác những lời nói vô trách nhiệm của cựu Tổng thống Hoa Kỳ, George W. Bush (Junior)* khi cho rằng QL – VNCH không chịu chiến đấu, thay vì ông ta nhìn nhận để miền nam tự do rơi vào tay cộng sản đa phần là do các chính trị gia Mỹ. Phát biểu nông cạn thực đáng trách của ông Bush tạo ra những bực bội cho nhiều người lính của chúng ta, dù cuộc chiến đã tàn từ lâu.

Cá nhân ông và các đồng đội đã hy sinh tuổi thanh xuân, chiến đấu hết mình cho tới khi miền nam thân yêu bị bức tử, vận nước chấm dứt.

Câu truyện đồng thời cũng ước mong như những đóa hoa thơm, thân thương gởi đến các chiến sĩ Địa Phương Quân - Nghĩa Quân (ĐPQ & NQ) của QL - VNCH trên mọi miền giới tuyến, đã nhiều phen đóng góp xương máu cho đất nước... nhưng luôn bị lãng quên, ít được đề cập tới.

*
- Về chiến thắng Thiện Giáo, dẫu muộn màng, nên được kể và ghi lại trong trang sử liệu đấu tranh can trường của QL-VNCH. Trận chiến này ngoài ĐPQ & NQ thuộc tiểu khu Bình Thuận, còn có thêm ít binh lính từ các binh chủng khác như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, TQLC... di tản về sát nhập chung, tình nguyện chiến đấu. Ở vào thời điểm khi vùng 1, vùng 2 tan rã, tình hình nhiều tuyệt vọng. Chi khu Thiện Giáo cho gia đình binh sĩ, vợ con quân nhân các cấp di tản trước, riêng các chiến binh, những người chồng, người cha ở lại sẵn sàng chờ địch tới. Dù biết có thể phải hy sinh bản thân, mọi người quyết bảo vệ vùng trách nhiệm được giao phó. Nghĩ lại, thật hãnh diện.

Theo nhận xét của người viết, mặc dù ngoài 80, nhưng với trí nhớ minh mẫn, nhiều chi tiết tường thuật rõ ràng vì chính ông là người tham chiến, giữ trọng trách chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ chi khu. Ông cho hay TĐ 230/ĐPQ được tiểu khu Phan Thiết bố trí ngăn địch tại tuyến đầu tức chi khu Thiện Giáo và cuộc đụng độ nặng cuối cùng nổ ra trong tháng tư, chống trả lại hai trung đoàn việt cộng, trận đánh rất ác liệt và kéo dài khoảng ba ngày. Với quân số chỉ hơn một tiểu đoàn, các chiến sĩ ĐPQ & NQ đã anh dũng, chặn đứng, đẩy lui nhiều đợt tiền pháo hậu xung của địch, và rất may mắn chỉ một vài người bị thương nhẹ, cả tiểu đoàn hầu như vô sự. Chiến thắng đầy tự hào cuối đời binh nghiệp này cũng đã được ghi lại trong trí nhớ của nhiều người dân Bình Thuận. Ông “Anh Ba”, ở cương vị chỉ huy trưởng chiến trường, mặt trận Thiện Giáo, cung cấp thêm nhiều chi tiết về trận đánh này.


Tiểu Đoàn Trưởng – TĐ 230 Địa Phương Quân, Đại Úy Mai Vi Thành. Tiểu Đoàn Trưởng – TĐ 230 Địa Phương Quân. Ở vào tuổi này, ông chỉ mong lớp con cháu, hậu duệ luôn nhớ đến cha ông, một lần kia đã chiến đấu kiêu hùng để bảo vệ miền nam thân yêu. Mỗi năm, khi tháng Tư về, dành đôi phút, cùng nhau tưởng niệm đến những chiến sĩ VNCH đã “vị quốc vong thân”, những đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, được vậy là quý lắm.

- Tiểu sử về U-80, “Anh Ba", tức Đại Úy Mai Vi Thành, xuất thân khóa 4 Đồng Đế, ra trường ông phục vụ tại các đơn vị tác chiến Quân Khu II. Qua nhiều thăng trầm, vào thời điểm trước tháng Tư 1975, vì là lính trận chuyên nghiệp, được giao lại quyền Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT) - Tiểu Đoàn 230/ĐPQ kiêm Xử Lý Thường Vụ Chi Khu trưởng Thiện Giáo. Sau khi tan hàng 30-4, Việt cộng thù dai, liệt ông vào thành phần “ác ôn”, và chuyển giao ông ra bắc, ở tù qua các trại như Hoàng Liên Sơn, số 5 Thanh Hóa… từ 1975- 1982, vượt biên định cư Hoa Kỳ 1983.

- Anh Ba cũng là con nuôi của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, QL-VNCH, vị tướng công chính thanh liêm, người đã tuẫn tiết trong ngày 30-4-1975 tại bản doanh, căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho.

*
vnch sodo thiengiao

Những địa danh và vị trí quan trọng


Vào truyện…

Giọt mưa Cali rớt vào ký ức,
Lăn hồn ta về với núi với rừng,
Gặp lại anh em tháng ngày thao thức,
Hể hả cười… cùng khói lửa rưng rưng.
Thơ Trạch Gầm
(Theo mưa đến thăm cà phê lính)

Trận đánh Thiện Giáo (TG.) tháng 4, 1975

Khoảng đầu tháng 4, 1975, sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, Quân Đoàn 2 hầu như tan rã và sát nhập vào Quân Đoàn 3 theo lịnh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Mục tiêu quân sự của Hà Nội đã quá rõ ràng, cánh quân Duyên Hải, Trung Đoàn 18 thuộc Quân Đoàn 2 cộng sản đang tạo áp lực, chuẩn bị tấn công Phan Rang từ phía đông bắc, sau đó dọc theo đường Quốc Lộ (QL) số 1 tiếp tục hành quân về phía Nam, với mục tiêu kế tiếp tiến vào địa bàn tỉnh Bình Thuận, xuống chiếm lấy tiểu khu Phan Thiết. Tuy nhiên vì tình hình dân chúng từ vùng I và II bắt đầu di tản ngày càng đông trên Quốc Lộ 1, có thể không hẳn thuận lợi về mặt chiến thuật nên địch mở thêm mặt trận từ hướng tây, phía bắc tiểu khu Phan Thiết, nhằm khai thông đường tỉnh lộ 8. Nỗ lực ở mặt này, thì bằng mọi giá, phải dứt điểm Chi khu Thiện Giáo, vì đây là cứ điểm phòng thủ quan trọng để vào Phan Thiết. Cùng lúc, nơi mặt tây nam, tiến đánh Định Quán, rồi từ QL. 20 để vào mặt trận lớn hơn là tiểu khu Long Khánh, vòng đai phía bắc, nơi sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo phòng ngự, bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn. Riêng mũi tấn công vô Thiện Giáo, vì là mặt trận then chốt, hầu như địch tập trung toàn lực lượng vũ trang quân khu 6 trên các cao nguyên Lâm Đồng, Bảo Lộc đưa xuống đồng bằng, đem vào trận.


Trung Đội Trưởng Khiết Nguyễn



Trận đánh tại chi khu Thiện Giáo bắt đầu lúc 3 giờ sáng, khoảng ngày 11, 12 tháng 4 năm 1975, và trong ba ngày giao tranh, với nhiều đợt tấn công biển người, việt cộng (vc.) đều bị chặn đứng và đánh cho tan tác trên các cứ điểm, có thể nói là thảm bại, thiệt hại nặng mặc dù quân số và vũ khí vượt trội gấp 5, 7 lần. Ghìm được chân lực lượng lớn của địch tại đây là niềm tự hào, của Tiểu Đoàn 230/ĐPQ & NQ, cùng tất cả quân dân cán chính thuộc chi khu Thiện Giáo. Nhưng khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ hỗn loạn, rồi miền nam bị bức tử! Chiến thắng này lại ở giai đoạn gần… đứt phim, nên theo dòng thời gian đi vào quên lãng, hầu như không ai nhắc tới, chỉ được truyền thông để ý đến cách hời hợt, chung chung sau này.

*
Thiện Giáo nằm trên Tỉnh Lộ 8, phía Tây Nam sát mật khu Tam Giác, phía đông là Quốc Lộ 1 và mật khu Lê Hồng Phong, tây bắc có dãy Trường Sơn và mật khu Đăng Gia, phía nam là thị xã Phan Thiết.
Quận Thiện Giáo có hơn mười xã như Tân An, Bình An, Hòa Tân, Tân Thành... ngoài một xã hay khu trù mật của người bắc di cư với tinh thần chống cộng cao được thành lập từ thời Tổng thống Diệm, thì tất cả những xã khác đều là vùng xôi đậu.
Chi khu Thiện Giáo, theo tầm nhìn chiến thuật là cứ điểm quan trọng, cái gai phải nhổ của VC. để tràn xuống phía nam, nên không bao giờ yên ổn, nơi đây với nhiều trận đánh đẫm máu liên miên của cả hai phía, lớn có, nhỏ có, không ngưng nghỉ.
Có câu: "Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, cọp thì không thấy nhưng ma quỷ là bọn giặc du kích thì đầy, chúng từ các mật khu luôn ra uy hiếp, quấy rối, giành dân, có nơi một vài xã, vc. đã thành lập được cả cơ sở nằm vùng.
Nhiều đời quận trưởng Thiện Giáo đã bị tử nạn bởi phục kích, bị pháo, đánh lén, đánh úp**. Thiện Giáo hiền hòa, nhỏ bé, nhưng như một khiêu khích quá hiển nhiên, lộ liễu với các anh mật khu bao quanh nên thường bị đặc công quấy rối. Vấn đề an ninh thiệt ớn óc! Bởi vậy, cầm sự vụ lệnh trong tay về bình định quận Thiện Giáo, vị chỉ huy cần có mưu lược tài trí. Có lẽ chỉ có hai loại người: loại to gan, lớn mật, và loại sau, thê thảm hơn, bị… đì.

*
Lực Lượng và phối trí: VNCH. (khoảng 1,200 quân)

Tiểu Đoàn 230/ĐPQ có 5 Đại Đội (ĐĐ) cơ hữu, gồm:
- 1 ĐĐ chỉ huy công vụ,
- 4 ĐĐ tác chiến và
- 2 ĐĐ biệt lập (tăng phái), thêm
- 7 trung đội Nghĩa Quân.
- 1 trung đội Cảnh sát dã chiến.
- 1 đoàn cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (lực lượng áo đen)

Ghi chú: Thêm về Nghĩa Quân của tiểu khu Phan Thiết, đặc biệt chi khu Thiện Giáo là trong khoảng thời gian dài 20 năm ròng rã, sống mái với việt cộng để bảo vệ địa phương của họ, những người lính Nghĩa Quân nơi đây dạn dày kinh nghiệm và rất thiện chiến, họ đã nhiều phen gây tổn thất nặng cho đối phương, ghi nhiều chiến công.

Chỉ huy trưởng mặt trận là Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT) - Tiểu Đoàn (TĐ) 230/ĐPQ kiêm xử lý thường vụ chi khu trưởng chi khu Thiện Giáo, Đại Úy Mai Vi Thành, tức Thành Râu, tuy nhiên các chiến hữu và dân chúng Phan Thiết hầu như ai biết ông, đều thân thương gọi "Anh Ba".
Anh Ba vốn là cựu Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 202/Địa Phương Quân đóng tại Cây Táo, trên Quốc Lộ 1, nhưng theo yêu cầu của các binh sĩ Tiểu Đoàn 230, được tiểu khu điều động về thế người tiền nhiệm là Thiếu Tá Thổ Thiêm, người gốc Chàm, một vị đức độ, can đảm, chỉ huy giỏi, nhưng phải giải ngũ sauba lần lưu ngũ.

- Tiểu Đoàn Phó 230/ĐPQ là Đại Úy Trần Đăng Thiệt, vì 230 phải chuyển sang phòng ngự, bảo vệ khu vực nên ngoài các Đại Đội trưởng, phó, tương đối còn đầy đủ nhân sự các phòng ban 1, 2, 3, 4, 5 và Truyền Tin.

Phía địch: Theo nhiều tin tình báo ở thời điểm này, tuy không đủ thời gian kiểm chứng chính xác, nhưng qua khai thác tù binh được biết, quân số ước lượng vào khoảng:
- 2 trung đoàn của lực lượng vũ trang quân khu 6, hơn 5,000 quân? Với toàn bộ du kích miền cao nguyên 2 tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, trong đó Trung đoàn 812 là nỗ lực chính, và
- 1 trung đoàn tân lập, được điều động vào trận nhằm dứt điểm quận Thiện Giáo, xóa sổ TĐ 230.
Ngoài pháo binh với đầy đủ đạn dược tiếp vận từ mật khu, loại xe tăng V100 được ngụy trang thành T-54 khá đe dọa tâm lý, mặc dù sau đó người lính ĐPQ - NQ. TĐ 230 đã chứng tỏ cho thấy dù địch có xe tăng nhưng cũng không làm khó được họ.

Phối hợp: Chi khu Thiện Giáo phối hợp hàng ngang với chi khu Định Quán, địa đầu của tỉnh Xuân Lộc. Địch tấn công Định Quán cùng lúc với chi khu Thiện Giáo, Thiếu Tá Lê Văn Chánh, cũng là người bạn thân của anh Ba, nắm quận trưởng kiêm chi khu trưởng Định Quán đã anh dũng tử trận. Việt cộng dùng pháo 100 ly trên xe tăng T59, bắn trực xạ vào hầm chỉ huy sau khi chúng bắt loa gọi nhưng ông thà chết không hàng. Thiếu Tá Chánh hy sinh lúc đang liên lạc vô tuyến với trưởng chi khu Thiện Giáo.

vnch sodo thiengiao

Bản họa đồ vị trí đóng quân của ta và các mũi tấn công của địch.

* Lúc 3 giờ sáng khoảng ngày11, 12. Với quyết tâm “giải phóng” Thiện Giáo hay cứ điểm Ma Lâm, Việt cộng mở màn bằng trận pháo mù mịt vào tất cả mọi vị trí, công sự các đại đội, đặc biệt quả pháo 155 ly đầu tiên rót vào bộ chỉ huy tiểu đoàn, được báo cáo là chui xuống gầm xe của anh Ba nhưng... không nổ. Sau cơn mưa pháo, địch tổ chức nhiều đợt tấn công biển người, chúng vừa phát loa kêu gọi đầu hàng, vừa ồ ạt đánh vào từ mọi mặt đông tây nam bắc nhằm cắt rời các đại đội ra, không tiếp ứng được nhau. Mặt tây bắc của Đại Đội 2 (ĐĐ2) do Trung Úy Sanh trách nhiệm chịu áp lực nặng nhất bởi vị trí phòng thủ nằm án ngữ nơi trục giao thông chính của liên tỉnh lộ 8, tuy nhiện, như một phép lạ, quân trú phòng vẫn đứng vững sau nhiều phen bị cường tập. Việt cộng sau mỗi đợt pháo luôn cố gắng tràn ngập nhưng lần nào cũng “chém vè”, phải rút ra với tổn thất không ít về nhân mạng, và cho đến khi tàn cuộc vẫn không chiếm được các cứ điểm. Trong lửa cháy lẫn mùi thuốc súng khét lẹt… Anh Ba nhận định với các ban về những tuyên truyền láo từ chính trị viên cs. nhồi vào đầu cán binh của họ, như tinh thần hốt hoảng, lo sợ, mất bình tĩnh của các chiến sĩ ĐPQ & NQ, QL - VNCH sẽ tiếp tục tháo chạy khi nghe tin “quân giải phóng” đến, đã không xảy ra giống như ở ngoài vùng 1, 2. Ông cười cho biết, chúng đâu ngờ quân dân Bình Thuận của chi khu Thiện Giáo từ quan đến lính, đã rất tỉnh táo, kỷ luật, súng đạn đầy đủ, nghiêm chỉnh chờ sẵn. Địch vào đến đâu bị đốn ngã như sung tới đó. Chiếc tank đầu tiên của Việt cộng nhằm uy hiếp tinh thần bị người lính Địa Phương Quân dùng M72 bắn cháy được thông báo cho nhau làm nức lòng mọi người”.

Nhiều người dân Thiện Giáo, sau này kể lại trận đánh tháng Tư vẫn hả hê, cho đây là một trận thắng lớn, để đời của các chiến sĩ Địa Phương Quân - Nghĩa Quân của QL - VNCH, vốn bị chế diễu là lính "Địa... phao câu", lính... vườn.

Anh Ba cho biết trận Thiện Giáo, với quyết tâm cao độ, ai cũng kiên cường, thà chết để bảo vệ khu vực trách nhiệm của mình cách thần kỳ, mọi người đã anh dũng chống trả, bẻ gãy mọi mưu toan, và đứng vững sau nhiều xung phong cảm tử của địch. Chiến thắng này cho thấy người lính ĐPQ và NQ của chi khu Thiện Giáo xứng đáng được nhận huân chương tiêu biểu, vinh danh cho truyền thống bảo vệ làng xã trên toàn lãnh thổ.

Trận đánh kéo dài cho tới ngày thứ 3, dù tất cả những vị trí, công sự hư hại nặng nhưng người lính ĐPQ & NQ, QL - VNCH tinh thần vẫn cương quyết một lòng, điềm tĩnh tử thủ khi giờ phút thứ 25 đang cận kề.

Tin từ các nơi gọi về...

- Trình Đại bàng, tụi nó chết la liệt, nhiều lắm, có thâu lượm chiến lợi phẩm không?

- Chỉ thu lượm súng đạn, trang bị ngược lại cho mình.

Sau nhiều vô vọng liên lạc về bộ chỉ huy tiểu khu, cuối cùng Anh Ba cũng được biết dân tị nạn từ phía bắc đã về tới thị xã Phan Thiết? toàn bộ tiểu khu Phan thiết với 6 tiểu đoàn đã di tản chiến thuật? Bằng tàu hải quân, một số ra đảo Phú Quý, số khác về Vũng Tàu. Một trung sĩ trước khi cúp máy cho biết không còn bất cứ giới chức nào để ra lệnh, dĩ nhiên không tiếp vận, không yểm trợ, và thẩm quyền phải tự xoay sở lấy...  Cánh quân của TĐ. 230/ĐPQ như vậy đã chiến đấu đơn độc ngay trên đầu tuyến, “nhất kiếm trấn ải” trực diện với quân số vượt trội hơn nhiều lần của cs., để làm chậm bước tiến địch?

Đơn độc nhưng lẫm liệt, hào hùng!

Thời điểm ngày cuối, vc. sau nhiều lần tấn công thất bại, với tổn thất nặng nề, chúng ngưng tấn công, đánh giặc nước miếng! Vác loa réo liên tục, yêu cầu, đích danh tên người chỉ huy "anh Ba" và các binh sĩ "ngụy": ”các anh đã bị bao vây, mau buông súng, trở về với... nhân dân, cách mạng sẽ khoan hồng!” (sic).

Kinh nghiệm cho ông biết chúng đang tập họp, chỉnh đốn hàng ngũ, bổ xung cho một đợt cảm tử mới, nhất quyết dứt điểm?

 photo xay-dung-nong-thon_zpsc2nwv9vi.jpg

Trong khi giao tranh, ban 4 nhận lệnh tổng kết đạn dược, cho biết trang bị cho một người chỉ còn giới hạn không đủ để bảo vệ chính mình. Tình hình bi đát, sớm muộn sẽ bị tràn ngập? Anh Ba đã ra lệnh cho 4,5 mũi thăm dò để thoát ra, hầu hết đều bị khóa! Lúc này chung quanh chi khu Thiện Giáo việt cộng đông như đàn kiến, áp lực dày đặc từ mọi hướng. Tuy vậy, cuối cùng, một toán trinh sát cũng tìm được sinh lộ cho toàn quân. Trong âm thầm, tất cả các đại đội được lệnh len lỏi, triệt thoái về phía đông, băng ngang qua Quốc Lộ 1, xâm nhập thẳng vào... mật khu Lê Hồng Phong của địch. Ông đã binh pháp đúng, "tìm đường sống nơi tuyệt lộ", có cách nào tuyệt vời hơn để dưỡng sức cả nghìn quân ngoài chính mật khu của việt cộng, sự tiên đoán chính xác sau khi thẩm định các tin tức tình báo về việc lực lượng cộng sản đã hối hả rời khỏi mật khu Lê Hồng Phong, dốc toàn lực nam tiến, nương rẫy vắng bóng, chúng để lại mọi thứ hầu như nguyên vẹn, người lính tìm được ít lương khô dán mác tàu cộng, đủ để nuôi quân ta được khoảng... một ngày.

Đạn dược và thực phẩm luôn là thứ cần thiết nhất.

Sau đó, tất cả mọi người được lệnh rời khỏi mật khu, theo đường chim bay, tiếp tục triệt thoái về phía nam.

Giải tán: Khoảng hai ngày sau đoàn quân về tới tiểu khu Phan Thiết, anh Ba bàn bạc với các cấp chỉ huy tiểu đoàn và đi đến quyết định cuối cùng. Trưa ngày 18 tháng 4 ông ra lệnh cho mọi người buông súng, tan hàng, ai về nhà nấy. Lý do, hết lương thực, đạn dược.

Đoạn kết: Sau ngày 30-04-1975, truyền đơn rãi từ quận Hàm Thuận, Phan Thiết xuống tới Khu rừng lá ở Hàm Tân, cây số 25 tỉnh Bình Tuy, vào đến Ngã ba Dầu Giây thuộc tỉnh Long Khánh, kêu gọi đồng bào và các cựu quân nhân đầu quân, tìm vào chiến khu "Rừng Lá" để kháng chiến, tiếp tục chiến đấu chống cộng sản. Tờ truyền đơn ký tên Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa và Đại Úy Mai Vi Thành như một xác tín nhằm kêu gọi phục quốc.


Dù thật hay giả hoặc phản gián, những tờ truyền đơn này đã trực tiếp vinh danh "Anh Ba", người hùng Bình Thuận, người đã gây cho du kích cộng sản nhiều khiếp đảm, kinh hoàng qua trận đánh cuối cùng tại Thiện Giáo.

*** Anh Ba còn cho biết thêm, khi TĐ 230/Địa Phương Quân về tới Phan Thiết, việc đầu tiên là tìm đến kho đạn của Tiểu Khu để bổ xung vũ khí, trang bị... trong đầu ông đã hình thành một tuyến phòng thủ mới, chuẩn bị ngăn địch vào thị xã, nhưng khốn thay, cả kho đạn cũng đã được di tản? Ông bất lực, ngao ngán nhìn thị xã Phan Thiết lúc đó coi như đã hoàn toàn bỏ ngỏ, và địch thì vẫn chưa vô tới! Thiệt tình!

Sau khi toàn quân ”giải tán”. Anh Ba và mấy người anh em thân thương, tìm ra phía biển...

Mai về đâu mảnh cơ đồ,
Các Anh gian khổ cam go giữ gìn?

Thơ Ý Nga
(Trận Tàn, Ta Vẫn Chưa Thua)

Ghi lại theo lời tường thuật của “Anh Ba”, Tiểu Đoàn Trưởng – TĐ 230 Địa Phương Quân, Đại Úy Mai Vi Thành. Ở vào tuổi này, ông chỉ mong lớp con cháu, hậu duệ luôn nhớ đến cha ông, một lần kia đã chiến đấu kiêu hùng để bảo vệ miền nam thân yêu. Mỗi năm, khi tháng Tư về, dành đôi phút, cùng nhau tưởng niệm đến những chiến sĩ VNCH đã “vị quốc vong thân”, những đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, được vậy là quý lắm.

Tháng Tư, Mùa Quốc Hận, 2018.
Trần Kim Bằng


Chú thích:

* Cựu Tổng Thống Bush phát biểu trong một cuộc phỏng vấn.

** Như đã nói, các vị được chỉ định về nắm quận trưởng Thiện Giáo. thời gian này đều... rét! Vì 3,4 vị tiền nhiệm Thiện Giáo khi về nhậm chức đều bị tử thương hay hy sinh ngay khi còn tại vị. Thiện Giáo với nhiều làng xã xôi đậu nên địch biết mọi chuyện phía ta, chúng có sẵn “đề lô” trong dân và pháo từ bên kia sông cứ rót vào bộ chỉ huy chi khu quận, sau đó rê chạy, các quận trưởng cựu hay mới về Thiện Giáo. tuổi thọ chỉ là may mắn. Quận trưởng quanh năm uống cà phê... dưới hầm.
Anh Ba vốn gốc tác chiến nên coi đây là chuyện nhỏ, ông chỉ thị cho hai trung đội trinh sát và tình báo giả dạng du kích Việt cộng, vác AK lẻn qua bên kia sông trà trộn chung với chúng, vài ngày là giải quyết xong vụ nổ pháo chạy.
Khi ông về xử lý thường vụ chi khu Thiện Giáo, thế cho Thiếu Tá Nguyễn Văn Lợi (bị thương vì pháo địch, về dưỡng thương ở Tổng Y Viện Cộng Hòa), chỉ cần vài tuần là bình định, yên ổn.

*** Điểm qua sách báo việt cộng về trận Thiện Giáo, chỉ thấy có một bài vinh danh một người đại đội trưởng Việt cộng đánh thắng trận nào đó rất chung chung ở khu 6, Phan Thiết, và thậm chí không nhắc đến tên Thiện Giáo trong những bài viết. Một số chi tiết về lực lượng, tên gọi (quân đoàn, khu…) cộng sản được tham khảo và trích từ báo SGGP cũ, nguồn VTV, nhưng hiện nay các nguồn link gốc của họ đã hết xử dụng được.




 

 

https://www.youtube.com/v/aFO7O1hyr7A

 

Nhờ Anh

 




NHỜ ANH






    Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa

    - Sinh tháng 9 năm 1926 tại Mỹ Tho
    - Nhập ngũ ngày 3-8-1953
    - Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt
    - Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn II (1965)
    - Tỉnh Trưởng Bình Thuận (1969-1975)


Trước khi Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa về nhận chức Tỉnh Trưởng, tình hình an ninh Bình Thuận vô cùng nguy ngập, tại Phan Thiết và các Thị Trấn luôn luôn có biểu tình chống đói Chính phủ, nạn tham nhũng hoành hành tại Ty Điền Địa, Cảnh Sát Quốc Gia, Tiểu Khu nhưng công khai tại Ty Xã Hội thời Trưởng Ty Nguyễn Thượng Aùi và Nguyễn Quang Chùy. Mặt khác Tỉnh Trưởng Đinh Văn Đệ, điệp viên Việt cộng nằm vùng, tạo điều kiện cho bọn thương buôn công khai tiếp tế, bán lậu thuốc tây, vải vóc cho Việt cộng cơ sở. Y còn cố tình gây chia rẽ giữa các tôn giáo trong tỉnh, thông báo các cuộc hành quân của Địa Phương Quân - Nghĩa Quân, làm cho nhiều đơn vị bị thiệt hại nặng trong thời gian 1965-1967 mới chấm dứt khi Đệ đắc cử dân biểu Quốc Hội VNCH (1967-1971).

Trung Tá Nguyễn Khắc Tuân về làm Tỉnh Trưởng BT (1967-1968). Sau năm 1975 bị tù khổ sai tại Bắc Việt và vùi thây nơi đó, giống như Tỉnh Trưởng / BT Lưu Bá Châm cũng chết thảm trong tù tại vùng biên giới Việt Hoa.

Năm 1965, Việt cộng tấn công quận đường Thiện Giáo tại thị trấn Ma Lâm, đốt trụ sở quận, hạ sát nhiều binh sĩ ĐPQ-NQ trong đó có CKT/Quận là Đại Úy Mỹ và Thiếu Úy Lê Văn Ngọ, trưởng ban 3/chi khu, nguyên khóa 19 SQ/ĐPQ.

Tháng 7/1966, Trung Đoàn 812 Việt cộng tấn công ĐĐ288/ĐPQ/BT do Thiếu Úy Nguyễn Văn Liên, khóa 15 Sĩ Quan Trừ Bị/TĐ làm ĐĐT, đang bảo Vệ Đoàn 59 Xây Dựng Nông Thôn công tác tại xã Phú Hội, làm thương vong nhiều binh sĩ ĐPQ và đoàn viên XDNT. Quân ta phải lội qua sông Cà Ty mới thoát được vòng vây. Quận Trưởng Hàm Thuận lúc đó là Đại Úy Lê Văn Trạch…

Tháng 8/1966, Trung Đoàn 812 chính quy Miền của Việt cộng, tổ chức cuộc phục kích dọc dài theo thiết lộ từ Ga Phú Hội tới Nhà Máy nước. Được tin, Đại Úy Khanh Yếu Khu Trưởng YK/Phú Đại (Phú Hội-Đại Nẳm), điều động ĐĐ954ĐPQ/BT mở đường yểm trợ cho Đoàn 59 Xây Dựng Nông Thôn công tác tại xạ Phú Hội. Nhưng quân ta đã bị phục kích tấn công ngay nhà ga Phú Hội, làm Đại Đội 954 bị thiệt hại 90% quân số, toàn bộ sĩ quan tử trận, kể cả Đại Đội Trưởng là Thiếu Úy Huỳnh Đức, SQTB/TĐ Khóa 14, cựu học sinh PBC 1955-1962 cũng là một cầu thủ thượng thặng của đội bóng tròn nhà trường và Phan Thiết. Đại Úy Khanh cùng lực lượng Yếu Khu lên tiếp viện cũng rơi vào vùng phục kích và tử trận, phần lớn đoàn viên đoàn 59 Xây Dựng Nông Thôn kể cả Đoàn Trưởng đều thương vong tại trận.

Nói chung thời gian đó, dưới sự chỉ huy của Đinh Văn Đệ, công tác bình định và triệt hạ cơ sở hạ tầng Việt cộng chỉ làm lấy lệ để báo cáo trên giấy tờ. Nguy hiểm hơn là các thành phần nằm vùng, cơ sở, các phần tử nhân danh tôn giáo sách động dân chúng, học sinh biểu tình, bãi khóa, gây xáo trộn khắp tỉnh, bị câu lưu trong một thời gian ngắn thì có lệnh phóng thích hay do các thế lực mọi phía bảo lãnh. Thành ra mọi công tác giống như đem muối bỏ biển.

Mùa thu năm 1969, Trưởng phòng 2/QD2/V2CT được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu qua đề nghị của Trung Tướng TL/QD2 là Lữ Lan và Tướng Cố Vấn Mỹ/QD2, cử làm Tỉnh Trưởng kiêm TKT/BT thế Đại Tá Đàng Thiện Ngôn. Lúc bấy giờ trong tỉnh được một lực lượng tăng phái hùng hậu gồm 2 TD của TRD44 và 53/SD23/BB, một Chi Đoàn/TD8KB, một Chiến Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ, Hải Pháo Mỹ, Một toán Viễn thám/BTTM và nhiều đơn vị ĐPQ và NQ. Tuy nhiên tình hình chiến sự vẫn không được khả quan, lãnh thổ bị địch chiếm gần 90% và ngay tại Phan Thiết, ban ngày thuộc ta, ban đêm bị Việt cộng về hoành hành, ám sát, tấn cộng đốt phá các trụ sở Ấp Hưng Long, Phú Trinh, Đức Long, Đức Nghĩa… khiến cho Tỉnh Trưởng ngay trong Tòa Hành Chánh khi di chuyển vẫn có cận vệ.

Trầm trọng hơn là việc tất cả các trục giao thông trong và ngoài tỉnh đều bị tắc nghẽn. Trên Quốc Lộ 1, VC công khai đặt hai trạm thu thuế tại số 25 và Cây Táo, khiến cho các hãng xe đò phải ngưng chạy, nên việc đi lại chỉ còn đường biển và máy bay quân sự. Hàng Không Việt Nam có một chi nhánh tại Phan Thiết nhưng vì phi trường quá nhỏ, nên các chuyến bay rất hạn chế và thường là trạm chuyển tiếp giữa Sài Gòn - Nha Trang. Để vãn hồi an ninh trật tự trong tỉnh, Đại Tá Nghĩa đã triệt để áp dụng tình báo trong mọi lĩnh vực, từ quân sự cho tới tâm lý chiến, dùng phương châm “dân vi quý”, lấy dân làm khởi điểm để nhờ vào tình báo nhân dân mà triệt hạ tất cả cơ sở hạ tầng Việt cộng đang bám vào dân. Ông cũng đã đề ra chiến thuật năm bước, để bình định phát triển tỉnh. Nhờ sự Tỉnh Trưởng hàng đêm tới ngủ chung với binh lính, cán bộ Nông Thôn, Nghĩa Quân và đồng bào ngay tại thôn ấp, tiền đồn hiểm nguy mà chấm dứt được nạn lính ma, lính cậu và đem lại tinh thần chiến đấu cho tất cả các đơn vị ĐPQ và NQ đang trực diện với kẻ thù trên mọi chiến trường.

Trong mặt trận chiến tranh tâm lý, Ông cũng cho cải tổ lại những sự việc đã xảy ra làm mất lòng dân, liên hệ tới nông ngư nghiệp, ty xã hội và ngân hàng phát triển nông nghiệp. Việc Ty Cựu Chiến Binh được thành lập với công tác giúp đỡ trực tiếp các đối tượng CCB, đem tiền phát cho họ ngay tại các quận và hải đảo Phú Quý mỗi tam cá nguyệt, xây Làng Phế binh Vĩnh Thủy, cấp tiền sửa nhà... đã chấm dứt tình trạng chiếm đất bất hợp pháp của thương phế binh Bình Thuận do một vài phần tử xấu xúi giục để trục lợi. Nhưng quan trọng nhất vẫn là lãnh vực quân sự như thay đổi vùng hoạt động của các đơn vị ĐPQ-NQ để chấm dứt nạn tình cảm hay nội tuyến.

Riêng kế hoạch dùng mìn Claymore làm hàng rào ấp chiến lược lưu động, giúp các đơn vị ĐPQ-NQ phòng thủ đêm hữu hiệu, lại ngăn chận được sự xâm nhập của du kích về ấp hay thân nhân đem tiếp tế ra bưng bởi vướng mìn làm thiệt hại rất nhiều nhân mạng.

Chiến thuật trên đã khiến các hoạt động của VC gần như khựng lại và an ninh gần như được vãn hồi ngay tại xã ấp, kể cả những nơi như Bình Thạnh, Long Hiệp, Bình Lâm, Đại Nẳm… những vùng mà VC coi như mật khu an toàn. Do trên dân chúng lần lượt hồi cư và sống yên ổn qua bảo vệ của ĐPQ-NQ cùng các Toán XDNT.

Cũng từ đó, TK/BT không còn lo việc thiếu quân số như trước vì đã có mìn Claymore lớp trong lớp ngoài canh gác, yểm trợ cho người lính. Đơn vị đầu tiên gây chấn động và có kết quả cụ thể trong kế hoạch trên là ĐĐ238/ĐPQ/BT cơ hữu của Chi Khu Hòa Đa do Đại Úy Dụng văn Đối làm CKT. Do những chiến công đã thu được tại Liêm Bình, Thoại Thủy, Long Lễ, Minh Mỵ… nên ĐĐ238/ĐPQ lúc bấy giờ do Thiếu Úy Lê Văn Mùi làm ĐĐT và Thiếu Uý Ngô Trúc Khánh là ĐĐP, đã được Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, Tỉnh kiêm TKT/BT tuyên dương trước toàn thể ĐPQ-NQ tỉnh ngay sân cờ Tòa Hành Chánh...

Ngày 1/10/1970 một buổi lễ được tổ chức tại sân cờ chi khu Hòa Đa, đón phái đoàn cố vấn Hoa Kỳ cạnh BTL/QD2. Trong dịp này, Tướng Cố vấn Trưởng Quân Đoàn đã thay mặt Chính Phủ Mỹ, gắn huy chương Lục Quân Bội Tinh cho hai sĩ quan/ĐPQ là Lê văn Mùi và Ngô Trúc Khánh. Cũng từ đó tới ngày 18-4-1975, kế hoạch được phát triển toàn diện tới mọi cấp trong lực lương ĐPQ,NQ,XDNT kể cả Cảnh Sát Dã Chiến với mỗi người một mìn claymore tự động, khiến cho tất cả các đơn vị đều kiêu hãnh về niềm tin quyết thắng. Ngược lại, các hoạt động của Việt cộng gần như hoàn toàn tê liệt, chấm dứt nạn khủng bố, kinh tài, xâm nhập, ám sát và khuấy động biểu tình làm loạn tại Phan Thiết như cơm bữa trước năm 1970.

Tuy vậy, nhờ có nội tuyến, nội thành, Việt cộng cũng đã thành công trong việc đặt mìn phá hoại Ty Bưu Điện / Bình Thuận và Đài Phát Thanh Phan Thiết đặt trên Lầu Nước vào tháng 3/1970, nhưng thiệt hại không có gì về nhân mạng lẫn cơ sở vật chất.

Ngoài ra nhờ chương trình ủi quang hai bên Quốc Lộ 1, nên đã kiểm soát được an ninh hoàn toàn trên các trục lộ giao thông, nối lại các tuyến đường bộ với xe cộ đủ loại di chuyển nhộn nhịp ngày đêm từ ranh giới Bình Tuy ở cây số 25 ra tới cầu Đá Chẹt, tiệp cận với Cà Ná, Ninh Thuận.

Từ đầu năm 1972, trước khi thi hành hiệp định ngưng bắn, hầu hết các đơn vị tăng phái cho Bình Thuận đều di chuyển đi nơi khác. Do đó để thích ứng và chuẩn bị chống lại việc giành dân chiếm đất khi hiệp định có hiệu lực vào tháng 1/1973, Tiểu Khu đã hoán chuyển Vùng các CKT/Quận như Thiếu Tá Dụng văn Đối từ Hòa Đa về Hàm Thuận, Thiếu Tá Hàng phong Cao từ Hàm Thuận đi Hải Long, Trung Tá Kiều Văn Út từ Hải Long đi Hòa Đa.. Cũng đổi vùng hoạt động của Tiểu Đoàn 248/ĐPQ từ Tuy Phong vào xã Phú Hội-Hàm Thuận, TD275/ĐPQ tại Thiện Giáo ra Tuy Phong thế TD248. Tiểu Đoàn 202/ĐPQ thay thế TD212/ĐPQ trấn giữ Lương Sơn và khu Lê Hồng Phong… Các Đại Đội ĐPQ và Liên Đội Nghĩa quân biệt lập cũng thay vùng. Nhờ sự điều động kịp thời và hợp lý trên, TK/Bình Thuận đã toàn thắng vào giờ G, khi VC đồng loạt tấn công vào 13 Ấp trong tỉnh và sau hai ngày giao chiến, cuối cùng không một tấc đất nào lọt vài tay địch, trái lại Việt cộng đã bỏ tại Đại Nẳm 121 xác chết.

Thành công trên mọi mặt, đem lại hạnh phúc và sự thương mến của đồng bào Bình Thuận trong suốt thời gian làm Tỉnh Trưởng từ 1969-1975 nhưng Ông chẳng những trở thành kẻ thù của Việt cộng mà còn là người không thể đội trời chung của những thành phần phá hoại, nhất là sau cuộc bầu cử Tổng Thống và Quốc Hội VNCH 1971 khi công khai ủng hộ Giáo Sư Nguyễn Quốc Biền và Quân Y Sĩ, Đại Úy Đinh Xuân Dũng.

Từ tháng 3/1975 tình hình miền Trung trở nên bi thảm khi Ban Mê Thuột thất thủ, rồi hai cuộc lui quân đảm máu của Quân Đoàn 1 và 2 nhưng Bình Thuận vẫn yên tĩnh và giải giới được đoàn quân di tản ô hợp khi đi ngang qua Phan Thiết.

Ngày 7/4/1975 Tướng Phạm Văn Phú trên đường từ Nha Trang về Sài Gòn đã ghé lại BCH Tiền Phương /TKBT tại đồi Hàn Mạc Tử ở Phú Hài, trước khi Ông tuẫn tiết vì nước ngày 1/5/1975 tại Nhà Thương Đồn Đất. Những ngày ly loạn tiếp diễn dồn dập trong tháng tư đen nhưng ĐPQ+NQ/Bình Thuận vẫn giữ vững phòng tuyến, giúp đồng bào di tản an bình ra khỏi vùng chiến nạn..
Ngày 20/4/1975 hơn 3500 binh sĩ còn lại trong số 13.000 quân của TK/BT được Hạm Đội của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, di tản từ bến tàu Kim Hải tới Vũng Tàu và cùng với các đơn vị bạn tiếp tục chiến đấu tại Phước Tuy cho tới khi bị Dương văn Minh bắt buông súng đầu hàng giặc Hồ.

Những ngày cuối cùng của Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa cũng thật thê thảm như thời gian Ông về làm Tỉnh Trưởng Bình Thuận. Ngoài việc bị Hà Nội treo giá cái mạng bằng vàng ròng và đô la, Ông còn bị báo chí đánh hằng ngày vì đã dám dẹp yên Việt cộng tại Bình Thuận, Phan Thiết khiến cho bọn lợi dụng máu xương thương phế binh không còn đất cắm dùi, đám Việt cộng nằm vùng không còn hạnh phúc gia đình vì quê nội, quê ngoại chứa Việt cộng dưới hầm bị mìn Claymore lưu động bứng tận gốc.

Cũng may nhờ Trời Phật độ mạng, Ông đã thoát được bằng tàu đánh cá tại Hà Tiên tới Thái Lan, còn gia đình bị kẹt lại tới năm 1979 mới vượt biển thành công.

Hồ Đinh

Tháng 6/2003

Thành Quả Bình Định Phát Triển tại Bình Thuận 1970-1975

.........................................................................................

NHỜ ANH

Hai chữ “NHỜ ANH” hay “NHỜ ĐẠI TÁ” đã đem lại cho Bình Thuận sự an ninh và phát triển cho dân trong tỉnh, thốt ra không phải chỉ từ người dân mà cả các cấp Quân, Cán, Chính, không chỉ trong tỉnh nhà mà đã được loan truyền qua các tỉnh khác, đến cấp chánh phủ. Thêm vào đó Cố vấn Mỹ cũng báo cáo hàng ngày theo hệ thống của họ.

Nên trường hợp Bình Thuận đã được các giới nêu lên làm đề tài nghiên cứu và học hỏi. Đặc biệt là cuối năm 1973, Đại Sứ Williams Colby, thuộc cơ quan CIA, người có trọng trách cho nhiều chương trình quan trọng tại Việt Nam, đã có thư mời tôi qua Mỹ nói là để tham quan các Thống Đốc tiểu bang Hoa Kỳ nhưng sự thật hoàn toàn khác hẳn vì thời gian đó là lúc Quốc Hội Mỹ tranh cãi về giải pháp – “Cúp viện trợ và tháo chạy khỏi Việt Nam” – nên ông Colby muốn đem tôi làm nhân chứng sống chứng minh cho sự thành công của chương trình PHÁT TRIỂN & VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH, hầu chinh phục Quốc Hội Mỹ yểm trợ cho các chương trình của ông được tiếp tục. Tuy nhiên, qua năm 1974, mặc dầu việc du hành đã được sẵn sàng nhưng phải bị hủy bỏ vì các lý do sau:

#1 - Tôi được tiết lộ là Quốc Hội Mỹ đã biểu quyết “trói tay” Tổng Thống Nixon, không được đơn phương viện trợ cho bất cứ nước nào nếu không có sự đồng thuận của Quốc Hội, dầu chưa công bố rõ ràng là quyết định cắt hết viện trợ cho Việt nam.

#2 – Con trai lớn của tôi, Ngô Quang Lý, Đại Úy phi công, chuyên trách theo dõi, chụp hình các đoàn xâm nhập của Việt Cộng, máy bay đã bị bắn hạ trên bầu trời Bến Cát.

#3 - Mặc dầu phía Mỹ cứ hối thúc là nên đi nhưng Tổng Thống không chấp thuận viện lẽ tình hình rất sôi động, sự vắng mặt của tôi trong ba tuần lễ sẽ có tác dụng không tốt, trong khi đó tổng thống đã gởi qua Mỹ một phái đoàn của Hạ Viện do dân biểu Đinh Văn Đệ, Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng hướng dẫn qua cầu viện, xin số tiền rất khiêm tốn là ba trăm triệu cho đạn dược, xăng và phụ tùng tạm đủ đề cầm cự nhưng cuộc cầu viện lần cuối cùng này đã hoàn toàn thất bại.

Trên đây là tóm lược vô đề cho bài “NHỜ ANH” vì hai chữ này là một khích lệ, là một huy chương quí giá nhất cho đời binh nghiệp của tôi, dầu là Bảo Quốc Huân Chương cũng chỉ là một bằng tưởng lệ treo trong nhà nhưng câu NHỜ ANH là một bằng tưởng lệ nói lên bao lời cảm kích, cám ơn thốt ra từ các cấp hàng ngày, và ngay cả bây giờ, bốn chục năm sau cuộc chiến trong những lần gặp mặt trong hội hè, hoạt động cộng đồng, đồng hương Bình Thuận tôi vẫn được nghe những lời “TUYÊN DƯƠNG” này và những bản tuyên dương có thể đọc được trong những tập san ÂN TÌNH, đặc biệt trong ÂN TÌNH V, Người lính già 229 đã nêu câu hỏi “BẰNG VÀO CÁI GÌ” mà Đại Tá Tiểu Khu Trưởng Ngô Tấn Nghĩa đã lập được kỳ công này? “Đây không phải là câu hỏi của Người lính già 229 mà thôi nhưng là của tất mọi nơi, mọi cấp và mọi giới.

Cho tới nay tôi vẫn không thể viết lên trang sử này vì còn kẹt một số nhân chứng đã giúp tôi rất nhiều về tình báo vẫn còn sống tại Phan Thiết cho tới cuối năm 2012. Giờ đây tôi thấy không còn vướng víu vào những liên hệ này nữa nên có thể bộc lộ tâm tình, nói lên bí quyết để thành công, với những tình tiết bí mật mà một số nhân vật đã cộng tác với tôi.

Bài viết có thể dài nhưng vì trong khuôn khổ một đề tài cho tập san Ân Tình nên tôi sẽ hết sức ngắn gọn nhưng không để thiếu nhiều chi tiết.

1 - SỰ CHỈ ĐỊNH BẤT NGỜ - Chưa bao giờ việc chỉ định một sĩ quan đi đảm nhiệm chức vụ Tỉnh/Tiểu khu trưỏng lại có thể quyết định mau chóng chỉ sau cuộc họp cấp Quân Đoàn với hai bộ tham mưu Mỹ Việt kéo dài 3 giờ đồng hồ. Đó là một ngày vào tháng 10 năm 1969, dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Như thưòng lệ, tôi là Trưởng Phòng 2 lên mở màn buổi họp cao cấp Mỹ Việt bằng thuyết trình về tình hình địch bằng ngoại ngữ (được T. Thống cho phép). Trong phiên họp tổng thống đã tiết lộ mục đích buổi hội là thảo luân với các Tướng Việt Mỹ về chương trình “VIẸT NAM HÓA CHIẾN TRANH”.

Vào giờ giải lao, tổng thống hỏi tôi sao từ 5 năm qua tôi vẫn thấy anh còn ở Pleiku mà ít có sĩ quan nào ở lâu như vậy, tôi thưa rằng - tôi không muốn xin thuyên chuyển vì đây là vùng hỏa tuyến mà tôi đã làm việc rất hữu hiệu với chuyên môn tình báo điện tử, phối hợp chặt chẽ với ngành tình báo Hoa Kỳ đem lại kết quả khích lệ cho Quân Đoàn. Kế đó là cuộc họp riêng giữa cấp tướng Việt Mỹ và Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn để thảo luận về chưong trình Việt Nam Hóa và phối trí các lực lượng cùng cấp chỉ huy các đơn vị và các Tiểu Khu Trưởng.

Photo:

Sau cuộc họp quan trọng này và sau khi tổng thống ra về thì tôi được Trung Tướng Tư Lệnh vùng cho hay là tôi được chỉ định đi làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Thuận. Trung tướng kêu Phòng Tổng Quản Trị liên lạc với Phủ Thủ Tướng và Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham mưu để làm lệnh thuyên chuyển và Nghị Định. Thật là tiếng sét bất ngờ, tôi rất ngạc nhiên với cảm xúc lẫn lộn vui mừng và lo ngại. Vui vì đây là một chức vụ có tầm cỡ ngang hàng với một Tư Lệnh cấp Sư Đoàn mà theo bình thường thì tôi chẳng thể nào “vói tới” nhưng nay với hoàn cảnh khó khăn hiểm trở tôi lại phải là người tiền phong – lo ngại vì tôi biết chắc đây là một nhiệm vụ bất khả thi (mission impossible) vì đã 5 năm là Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn, tôi đã cùng Phòng 3, phối trí lượng tăng cường và yểm trợ cho các Tiểu Khu thì hai Tiểu Khu nặng nề nhất là Bình Định ở phía Bắc và phía nam là Bình Thuận - tại hai Tỉnh này ngày nào cũng có giao tranh, tấn công các đồn lẻ tẻ, các đoàn Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân và đôi khi cấp đại đội ĐPQ cũng bị tổn thất khá nặng nề trong các cuộc phục kích, có khi ngay sát nách thị xã. Với hoàn cảnh này tôi vô cùng lo ngại biết rằng khi tới Bình Thuận thì tất cả các đơn vị chính qui của các Trung đoàn chính qui đóng quân tại miền Bắc Bình Thuận, các lực lưọng Mỹ, gồm đơn vị đặc biệt, chiến xa, trong pháo và không quân yểm trợ đóng tại miền nam BT với sự trợ lực hùng hậu cuả Hải quân Mỹ, chạy dài theo bờ biển sẽ rút hết.

Vì ngày nhận nhiệm vụ đã quá gần Tết tôi cố gắng xin đáo nhậm sau Tết.

Trong suốt thời gian trước khi lên đường tôi rất băn khoăn lo ngại không biết rồi đây tôi sẽ đối phó ra sao? Mấy đêm gần như không ngủ, ngồi trước bản đồ Bình Thuận với những điểm VC đóng chốt, thu thuế, những khúc Tỉnh Lộ, Quốc Lộ không thể lưu thông, xe đò phải nằm ụ, đời sống của giới chuyên chở đã bị khó khăn, mọi di chuyển từ Bắc vào Nam Tỉnh phải dùng đường biển. Từ năm 1966,Tôi cũng đã theo dõi tình hình chính trị và tôn giáo đa dạng tại Bình Thuận - tại đây ta phải chiến đấu với thù trong, giặc ngoài, tất cả những biến cố tranh đấu, biểu tình bạo động, diễn ra tại Miền Trung, tại Huế đều diễn ra tại Bình Định và Bình Thuận. Những vị Tỉnh Trưởng / Tiểu Khu trưởng khi về đáo nhậm các tỉnh này đều bị coi là “bọn tàn dư, tay sai của Mỹ-Thiệu về để đàn áp phật giáo”. Tôi không có người quen thuộc tại Bình Thuận nên không có tin tức và người có thể góp ý kiến, may sao đã kiếm được mối dây liên hệ với Bình Thuận là lúc đó con gái học tại trường dược cho biết có ông thầy người Bình Thuận là giáo sư Trương Văn Chôm, tôi lập tức xin gặp giáo sư để làm quen, giáo sư rất vui vẻ cởi mở và khi tôi tiết lộ rằng tôi có nhiệm vụ lo cho an ninh và phát triển tỉnh Bình Thuận nên cần có được những nhân sĩ địa phương để cộng tác lo cho dân thì giáo sư tỏ ra rất tán thành ý kiến này và tiết lộ rằng ông có ông anh vợ là một cư sĩ Phật Giáo có uy tín trong cộng đồng Phật Giáo là ông Bảy Hoành và ông sẽ giới thiệu tôi cho ông này. Không đầy một tuần sau tôi gặp ô. Bảy Hoành tại Sài Gòn. Việc đầu tiên của tôi là tấn công “Tình cảm” bộc lộ tâm tư của người “Phật tử” có “cơ duyên” ra phục vụ đồng bào Bình Thuận. Tôi hứa liên lạc mật thiết với Phật Giáo, lắng nghe ý kiến của đồng bào để áp dụng đường lối thích hợp. Anh Bảy tỏ ra rất hoan hỉ tiếp đón đề nghị của tôi với niềm hân hoan khi chia tay, riêng về phía tôi cũng rất mừng đã đặt căn bản để hòa dịu hy vọng vô hiệu hóa chiến tranh chống “giặc trong”.

Photo:

Trước khi đáo nhậm Tỉnh và Tiểu khu tôi đã thảo luận rất kỹ càng với Cố Vấn của P.2, người đã cùng tôi áp dụng mọi kỹ thuật tinh vi của điện tử để chụp hình, theo dõi các vị trí đóng quân, mọi sự xâm nhập di chuyển của địch và xin phi tuần B52 trải thảm xuống đầu địch. Chúng tôi đã đạt được kết qua vô cùng giá trị. Tôi trình bày giờ đây tôi phải đi lãnh trọng trách khó khăn mà các đơn vị chính qui của Việt Nam cũng như các đơn vị yểm trợ hùng mạnh của Mỹ sẽ rút đi nên chỉ còn mong đợi vào sự hỗ trợ của tình báo kỹ thuật. Họ rất hoan hỷ để yểm trợ với sự tham gia của mọi đơn vị chuyên môn, họ là thành phần đầu tiên tiết lộ cho tôi biết là nơi mà tôi tới sẽ có đơn vị tình báo Hải Quân với các chiến hạm của Hạm Đội 7 chạy dọc theo bờ biển Việt Nam với những khẩu hải pháo có tầm xa có thể bao trùm toàn lãnh thổ Bình Thuận, họ hứa sẽ biệt phái cho tôi một chuyên viên để phối hợp khi cần biết rằng về kỹ thuật tôi đã tham dự hai khóa tình báo Mỹ tại Okinawa Nhật và khóa Tình báo cao cấp cho đồng minh tại Fort Holla Bird tại Hoa Kỳ.

Ngày đáo nhậm Bình Thuận đã đến, trên máy bay tôi băn khoăn lo lắng, thấy tương lai còn mờ mịt, tự hỏi có phép lạ nào có thể giúp đảo ngược được tình thế như vậy, nhưng thôi hãy cương quyết ôm hai chữ “CHẤP NHẬN” vì “DANH DỰ và TỔ QUỐC” và tin tưởng vì không còn cách nào khác ngoài sự dấn thân.

Cảm tưởng đầu tiên khi đặt chân tới Tỉnh thấy đây đâu phải là Tòa Tỉnh mà là một tiền đồn vì chung quanh toàn là bao cát chất cao nghệu và hàng rào kẽm gai chằng chịt chung quanh, ngăn cách các nơi làm việc giữa Văn Phòng Tỉnh và Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu mà vị tiền nhiệm khi qua lại đã dùng xe jeep với cận vệ sẵn sàng trong tư thế chiến đấu.

Trong những ngày bàn giao, ngoài giờ thảo luận tôi đã ra ngoài đi thăm dân cho biết sự tình, quan sát các hoạt động hàng ngày, tới chiều tối đi ra vòng đai thị xã và đã chứng kiến những đoàn người về thị xã ngủ cho được an toàn . Những đoàn xe Honda chở đôi, chở ba, trên xe có đủ loại màu sắc: binh sĩ, cảnh sát, cán bộ XDNT, kể cả cấp Trung và Đại Đội Trưởng. Ngày sau thuật lại chuyện quan sát cho anh tiền nhiệm nghe, anh khuyên tôi nên thận trọng và muốn ra tới cầu Phú Hài thi hãy cần xe cơ giới yểm trợ. Tuy nhiên, tôi vẫn đơn phương tiếp tục du hành quan sát những ngày kế tiếp. Những nhận định này đã giúp việc thiết kế được sát với hoàn cảnh hơn.

QUAN NIỆM HÀNH QUÂN – Quan niệm rằng ta không thể có cơ thắng thế về quân sự vì các lực lượng yểm trợ đã bi lấy đi theo chương trình VNHCT (Việt Nam Hóa Chiến Tranh) khiến binh sĩ bị giao động về tinh thần chiến đấu vì khi lực lượng hùng hậu còn ta vẫn bị thụ động mà nay lực lượng yểm trợ không còn nữa nên địch sẽ lên tình thần và sẽ tăng cường tấn công và phá hoại. Vì lý do chính yếu và thực tế đó tôi phải chuyển qua chương trình “GIẢI ĐỘC”, nói cách khác là “PHẢN TUYÊN TRUYỀN” nhưng giải độc hay phản tuyên truyền đã là công việc hàng ngày của các cơ quan chính phủ và quân đội chỉ đem lại những kết quả khiêm tốn nay với tình thế đặc biệt khẩn cấp tôi phải nâng lên thành chiến tranh cân não hay chiến tranh QUỐC - CỘNg và muốn thi hành ý nguyện này tôi phải là người dấn thân hướng dẫn thi hành.
Lúc này người dân và quân đều mù mờ về ý thức chống cộng nên cộng sản đã dùng chiêu bài “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” để tuyên truyền lôi cuốn gây tác hại đáng kể cho ta.

Kế hoạch đã định, tôi ra lệnh triệu tập cuộc họp “CẤP TRƯỞNG” nghĩa là bên Hành Chánh, Xã Ấp cũng như quân đội ĐPQ + NQ + CS và XDNT bất cứ người nào chức vụ có chữ trưởng đều được mời. Cuộc họp đã có được trên 2500 người tham dự. Trong buổi họp kéo dài tôi đã trình bày rõ tình hình và hoàn cảnh hiện tại và nói rằng nếu ta không có sự thay đổi dấn thân thì tình hình càng ngày càng bi đát hơn hiện nay với các trục lộ giao thông bị bế tắt, CS công khai thu thuế nhiều nơi, viêc chuyển vận từ Nam lên Bắc phải dùng ghe thuyền, đêm thì các đồn bót co rút trong đồn, ngoài âp CS mặc tình thao túng, tôi cũng không giấu giếm là các lực lượng chính qui và Mỹ sẽ rút đi hết rất gần đây mà ta phải tự lực cảnh sinh vậy chúng ta phải đặt nặng tinh thần trách nhiệm và hy sinh hướng về các ấp dùng chiến thuật của CS là “GIẶC LÙI TA TIẾN, GIẶC TIẾN TA LÙI” để phản công chúng nhưng ta quyết không lùi mà chỉ có tiến. Tôi biết các em đã có số người bị giao động, tinh thần hoang mang nhưng các em sẽ không bị cô đơn vì tôi là người xung phong đi với các em đến các ấp, bất kể gần xa, hẻo lánh sẽ có sự hiện diện cuả tôi trong giờ phút khẩn trương.

Những ngày sau buổi hội, tôi bắt đầu thực hành liền, bất thần tới những đồn cấp Trung đội và Đại đội khi vừa xẩm tối, vì bất thần đơn vị chạy tán lo ạn thay quân phục để vào hàng trình diện, trong những ngày đầu có những đơn vị bị thiếu quân số đáng kể nhưng rồi tiếng báo động truyền khẩu đã loan đi tới các đơn vị khác cho nên những ngày sau đó sự vắng mặt đã giảm thiểu. Tôi tỏ ra thân thiện, thương yêu binh sĩ và tâm tình, thăm viếng vỗ về, ủy lạo các cấp nên chẳng bao lâu các em đã tặng cho tôi biệt hiệu “ÔNG GIÀ” độ lượng đầy tình thương. Sau này tôi đi ngủ ấp binh sĩ không còn sợ sệt mà tỏ ra mừng rỡ.

Trong khi tôi kiểm tra đơn vị và tâm tình với các em quân nhân thì giàn loa phóng thanh được thiết trí, đầy đủ cho cả ấp nghe sau khi đồng bào đi làm đồng áng về vừa cơm nước xong là tôi bắt đầu lên tiếng vấn an đồng bào và chiến sĩ trong xã, ấp, buổi nói chuyện nhấn mạnh về đề tài CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC.

Anh chị em ấp... thân mến,
Tôi Đại tá Ngô Tấn Nghĩa, Tỉnh trưởng Bình Thuận, đêm nay về ấp thăm và tâm tình cùng anh chị em, để chia sẻ nỗi niềm tâm sự, giải tỏa những thắc mắc, khó khăn và bực tức mà đồng bào phải chất chứa trong lòng, không dám tỏ cùng ai, đó là nguồn gốc nảy sanh ra sự căm thù, oán hận. Vì vậy nên tôi đã quyết đi từng ấp và tất cả các ấp trong tỉnh để hoàn thành nhiệm vụ.

Tôi biết đồng bào đang gánh chịu một cổ hai tròng, Việt cộng đã sách nhiễu, bắt đóng góp quá nhiều để nuôi quân và nhất là cho quỹ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. Vì vậy tôi thấy vấn đề rất quan trọng, nêu ra đây một số câu hỏi rất thực tế và giản dị để đồng bào hiểu được sự láo khoét của chúng.

Nước nào đã đánh bại nhóm quân phiệt Đức - Nhật đề chấm dứt chiến tranh thế giới lần thứ hai?
Sau chiến tranh các nước Á châu đã được đã được trả lại độc lập cho xứ sở họ và đã củng cố nền độc lập, bầu cử tự do nhưng tại sao HCM lại bắt dân tộc ta phải tiếp tục chém giết nhau, phải cưỡng nhận chế độ Cộng sản, tiêu diệt tất cả những ai không theo chúng, hãy kiểm điểm lại ấp mình đây đã bao nhiêu người bị áp sát, bắt cóc và bao nhiêu gia đình giờ này còn tang chế.
Ta hãy nhìn kỹ tấm gương sáng tại hai nước láng giềng là Nam Hàn và Nhật Bản. Nhật Bản là tội phạm chiến tranh, đã chiếm đóng hà khắc trên nhiều nước Á Châu kể cả Việt Nam ta nhưng khi bị Mỹ đánh bại rồi Mỹ đã không chiếm cứ, đô hộ Nhật mà trái lại đã giúp cho Nhật nhân tài, kỹ thuật chuyên môn để sản xuất đủ mọi thứ từ máy thâu thanh nhỏ cầm tay tới xe hơi, cơ giới hạng nặng và bất cứ những gì nước Mỹ có thì Nhật cũng sản xuất được mà sản xuất mạnh ngang hàng với Mỹ nhưng sức tiêu thụ lại mạnh và mau hơn vì giá thành lại rẻ hơn đồ Mỹ nên chẳng bao lâu sau chiến tranh nước Nhật đã thành một cường quốc kinh tế sắp hạng nhất nhì trên thế giới.
Tại vùng thôn quê hẻo lánh này giờ này quí vị hãy ngó chung quanh nhà, thấy tất cả vật dụng ta dùng, từ máy thâu thanh lớn nhỏ, máy truyền hình đến những món lớn như Honda, máy cày, phương tiện phổ thông di chuyển... tất cả đều sản xuất từ Nhật Bản.

Tấm gương thứ hai với hoàn cảnh rất giống Việt Nam ta đó là nước Triều Tiên (Đại Hàn) với hai vùng gọi Nam Hàn và Bắc Hàn. Hai phần đất này cũng được độc lập tự do sau Đệ Nhị thế chiến năm 1945 nhưng hai Miền có hai ảnh hưởng khác nhau, Bắc Hàn thì thiên về Cộng sản Nga – Tàu, trong khi Nam Hàn cương quyết giữ thể chế tự do thân phương tây nhưng chỉ được 5 năm sau tức năm 1950 tháng 6 - Quân Trung cộng đã xúi Bắc Hàn phải “GIẢI PHÓNG NAM HÀN” để CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC với quân của hai nước dùng chiến thuật biển người tràn xuống Miền Nam như nước lũ chỉ trong mấy ngày đã chiếm được thủ đô Hán Thành và đang tiếp tục tiến về nam gần tới điểm cuối cùng ra biển, thì Mỹ đã kịp thời phản công, lộ quân Mỹ dưới quyền Tư Lệnh Tướng MacArthur đã đổ bộ cắt ngang giữa Nam và Bắc Hàn, đánh xuống tiêu diệt đại bộ phận liên quân Trung Cộng - Bắc Hàn và tiếp tục đánh ngược lên Bắc, cuộc chiến qua lại đã kéo dài ba năm 1950 -1953, rốt cuộc Bắc Hàn phải cố thủ tại vĩ quyến 38, ranh giới cũ nhưng đã sát hại trên hai triệu dân. Rồi 17 năm sau cho tới hiện tại, Bắc Hàn với chế độ cộng sản độc tài hà khắc khiến dân Bắc Hàn phải chịu khốn đốn và hàng triệu người chết đói triền miên năm này qua năm khác ngay cả trong hiện tại trong khi đó Nam Hàn đã thành quốc gia có nền kinh tế, kỹ nghệ gần theo kịp với Nhật Bản. Đó là những bằng chứng cụ thể, trước mắt, không thể chối cãi.

Mong đồng bào lắng nghe, ngay cả cán bộ cộng sản, giờ này có thể các anh ở trong hay ngoài ấp hãy nhìn thẳng vào thực tế, suy nghĩ cho chín chắn và sâu xa, nhìn rõ sự thật và hãy trở về làng cũ lo cho gia đình và cha mẹ.

Bài tâm sự này của tôi sẽ được in ra rất nhiều bản, được phổ biến rộng rãi không những trong các ấp mà sẽ được rải trên các vùng rừng núi trong toàn tỉnh. Tôi thiết tha kêu gọi sự hồi tỉnh của các anh, tôi biết các anh còn đắn đo, nghi kỵ sợ bị lường gạt kêu gọi các anh về rồi bị hãm hại nhưng tôi bảo đảm với các anh đây là lời gọi tâm huyết, các anh có thể cầm thơ kêu gọi của tôi tới bất cứ nơi nào xã, ấp hay thị xã và cho hay rằng các anh đáp lời mời của tôi về thăm bà con trong 15 ngày, hay nhờ bà con liên lạc trước với tôi, trong dịp này các anh có quyết định ở lại luôn hay tự do trở về lại chiến khu.

Rồi lời tâm huyết với bốn chữ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC đã được rải trên các mật khu trong toàn tỉnh, trong khi đó tôi đã phối hợp các cơ quan đến các ấp lo Dân Sự Vụ, nhất là lúc chương trình NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG vừa mới được ban hành.

Lần lượt dù ngày hay đêm tôi đã đi qua được hết 173 ấp trong toàn tỉnh. Kết quả kêu gọi của tôi đã thành công bất ngờ nhưng rất bí mật và âm thầm. Không ai ngờ là các là các bô lão tại Phan Thiết thường ngày không ưa chính quyền và tới văn phòng tỉnh với vẻ mặt sát khí đằng đằng, nay lại tới tâm tình với Đại Tá Tỉnh Trưởng, thì ra các cụ thổ lộ là có thằng cháu muốn đáp ứng lời kêu gọi của Đại Tá trở về và tôi đã bảo đảm với nó là lời kêu gọi của Đại Tá rất thành khẩn và tôi sẽ bảo đảm cho nó.

Tới đây thì tôi lại dùng xảo thuật khác nói -- tôi sẽ giúp các cháu nhưng cần phải lo an toàn cho nó vì nếu nó về thẳng Phan Thiết thì sợ Việt cộng sẽ ám hại gia đình nó, nên tôi đề nghị các ông là cho cháu về Sài Gòn, tại một địa điểm như Cầu Ông Lãnh, nơi lui tới của các ghe cá, mắm của Phan Thiết rồi mình sẽ kín đáo gặp nó, ở đó tôi sẽ nghe nó nói tại sao nó muốn về và tinh thần của những người còn lại như thế nào? Thế rồi những cuộc gặp đã được sắp đặt, mỗi tháng tôi phải về Saigon. Tôi đã cố giữ bí mật bằng cách cho tài xế và con trai Lễ đi du hí, tôi tự lái xe đi tới chỗ hẹn với hai cảnh sát chìm của Ty Cảnh Sát Quận 5 theo dõi ngầm từ xa xa. Mặc dầu bảo mật tối đa, nhưng bất ngờ cũng bị lòi đuôi vì các cụ tới nhà tôi tình cờ gặp tài xế và anh hỏi:

-- Thưa Đại tá có việc gì mà có các ông như Năm Tho, Phan Vũ Lộc v.v... tới tìm Đai Tá?

- Đó là chuyện lạ đối đối với chú tài nhưng tôi chỉ phớt tỉnh trả lời 'vì các ông có hứa khi có dịp đi Sài Gòn sẽ ghé thăm' thôi.
Trong dịp gặp gỡ với những cán bộ muốn hồi cư tôi vận dụng hết tình cảm để thâu đưọc những chi tiết quí giá như: Những đêm phát thanh ở ấp của tôi rất hữu hiệu, Việt cộng cứng họng không thể có lập luận phản biện, chúng đã ra lệnh cho các cán bộ hạ tầng địa phương rút về vùng an toàn, các đồng đội phải dòm ngó nhau di chuyển cặp kè chận đứng mọi sự đào ngũ nhưng có nhiều trường hợp đào ngũ đã xảy ra. Tinh thần bộ đội giao động vì các cuộc pháo kích quá chính xác, lại thường xuyên hơn trước kia nên chúng nghi có nội gián phải di động bất ngờ. Các mũi công tác bị tổn hại nhiều vì mìn tự động, sợ đến nỗi khi xâm nhập ấp phải đem theo một xấp giấy trắng dễ thấy ban đêm, người tiền đạo phải rải trên đường xâm nhập vô ấp và khi đi ra cũng phải ngó theo đường cũ nhưng vẫn bị chạm mìn. Hiện tình họ rất lúng túng, hoang mang, giao động.

- Lúc này là lúc tôi “đầu độc” trở lại đưa ra những tin kinh hoàng như: “anh biết tại sao pháo kích lại quá chính xác không? Vì tôi được trang bị nhiều máy điện tử tối tân, thí dụ như máy phát giác những điểm nóng, chỗ nào có đóng quân là có nấu nướng, máy tầm nhiệt sẽ phát hiện điểm nhiệt lên trên màn hình, thêm vào đó cũng có máy theo dõi sự di chuyển của các đoàn quân, hay tiếp tế dầu đêm hay ngày... nên đã làm tê liệt được mọi mưu toan tấn công. Tinh thần như vậy còn đâu ý chí tấn công mà chỉ lo chạy. Bình Thuận được an toàn ngày đêm là vậy.
Trên đây là sơ kết thành tích trong sáu năm cho Bình Thuận, nhưng một con én làm sao đem lại được mùa xuân! Tôi đã thành công nhờ sự cộng tác chân thành của mọi giới và các tôn giáo.

A- QUÂN ĐÔI – Đoàn kết keo sơn với tinh thần kỷ luật cao độ, mặc dầu có số sĩ quan xuất thân từ các khóa đàn anh tại trường VÕ BỊ QUỐC GIA như Trung Tá Phong, khóa 3, Trung Tá Út khóa 7, Trung Tá Luông khóa 8, một khóa với Thiếu Tướng Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn. Tôi thuộc khóa 9 nhưng sắp về tuổi tác tôi lại là người cao niên và giàu kinh nghiệm hơn hết.

B - HÀNH CHÁNH – Tôi đã có được những Đốc sự, trẻ tuổi, can đảm dấn thân, hăng say tham gia mọi công tác dân sự và hành quân theo quân đội. Có lần để thay thế ông phó Tiên xin thuyên chuyển về Bình Dương, Bộ Nội Vụ gởi ra một Đốc Sự cao niên, ông đã đi nhiều tỉnh và tại Bộ Nội Vụ, có gốc lớn ở Trung Ương mà tỉnh nào cũng phải vị nể. Bắt đầu làm việc được hai tháng, một hôm ông đem chồng giấy tờ qua văn phòng tôi và bắt đầu đòi hỏi điều kiện, ông nói đại tá ủy nhiệm cho tôi ký giấy tờ để tôi có thể “Lo” cho Đại Tá, tôi trả lời ông

“Cám ơn ông phó, khỏi cần lo cho tôi vì tôi muốn ký những giấy tờ gì thuộc về quyền hạn và trách nhiệm của Tỉnh trưởng.

Tôi không dám phán đoán về chữ "lo" mà ông sử dụng vì nó có thể bao hàm dụng ý khác nhau, nhưng ngày sau tôi bay vào trình với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm xin thuyên chuyển ông phó vì ông không có khả năng đi hoạt động với tôi tại xã ấp.
Thủ tướng chỉ hỏi tôi một câu bây giờ anh đề nghị ai? Tôi trình ra tên ông Phạm Ngọc Cửu, Chánh Văn Phòng, người tôi đã quan sát từ ngày nhậm chức và trước đó đã có nhiều thành tích xông pha cho Binh thuận. Thủ tướng ra lệnh cho ông Chánh Văn Phòng gọi Bộ Nội Vụ làm lệnh. Kể từ đó ông phó đã phối hợp, điều hòa nền hành chánh với các ty sở với sự đoàn kết khăng khít giữa các ngành chuyên môn, phối hợp nhịp nhàng và thương yêu giữa các Đốc Sự trẻ tuổi.

C-TÔN GIÁO – Tôn giáo thì nhiều nhưng không phức tạp, từ ngày đầu tôi đáo nhậm đã đi từng đơn vị chính như nhà thờ, chùa Phật và chùa Chàm và đâu đâu tôi cũng được sự đón nhận thân tình. Phía người Hoa được phép tổ chức “RƯỚC ÔNG” một tục lệ cổ truyền nhưng họ không được phép thực hiện từ nhiều năm qua, nay họ được phép làm lễ mà lại được RƯỚC ÔNG vào cả tòa Tỉnh họ vui mừng xiết kể, tôi không ngại đêm tối và an ninh tôi đã tới chủ tọa cuộc đấu bóng rổ với Chợ Lớn.

Với giới ngư phủ, mỗi khi có cá ông “lụy” tôi đều tới tham dự lễ phát tang, chôn cất.

Khi tới Phan Thiết anh Bảy Hoành đã ân cần giới thiệu tôi với các giới có uy tín với Tỉnh hội Phật giáo. Món quà đầu tiên của tôi là số thực phẩm CARITAS được đem tới chùa Tỉnh Hội tặng cho Phật tử. Tại sao lại có việc trái khoáy như vậy? Vì tôi đã bay ra Nha Trang trình với Đức cha (Hồng Y) Nguyễn Văn Thuận kế hoạch hài hòa tôn giáo của tôi làm sao vô hiệu hóa vấn đề TRANH ĐẤU, xuống đường. Nghe xong Đức cha rất đồng ý và ngài đã vượt qua giới hạn của Tòa thánh, chập nhận lời thỉnh cầu của tôi. Đức cha đã có cảm tình với tôi từ trước từ sau ngày Tổng Thống Diệm bi thất sủng, tôi đã lo cho gia đình ngài và khi người em ruột ngài là Thiếu Tá Nguyễn Linh Tuyên, một sĩ quan Quân Cụ bị đày đi Pleiku với lệnh cho đi đơn vị tác chiến nhưng khi tới Pleiku tôi đã bảo lãnh đi theo tôi làm tại Phòng Nhì.

Với Tỉnh hội Phật giáo tôi leo thang hơn nữa bằng cách tiết lộ kế hoạch thiết trí tượng Phật bà cao 12 m trên lầu Ông Hoàng, tượng dơ tay, đăm chiêu nhìn ra biển lo âu, như sẵn sàng đón nhận, độ trì cho những đứa con ngư phủ trong lúc gặp phong ba bão táp. Khi pho tượng đã hoàn thành bên Tỉnh hội đề nghị mời bên Ấn Quang ra khánh thành tôi cũng tán thành. Buổi lễ an vị tượng đài đã được diễn ra vô cùng long trọng với hàng ngàn Tăng Ni và Phật tư cung nghinh. Các bạn bè trong Sài Gòn rất lo ngại cho tôi hỏi tại sao dám gồng mình như vậy không sợ bị “bay” sao?
Tôi nói tôi có bổn phận nắm dân tạo hậu thuẫn trong dân càng nhiều càng tốt. Cộng sản tỏ vẻ tức tối về vụ này đã tung tin đầu độc vào Trung Ương xuyên tạc việc làm của tôi nhưng đa số đều tán thành cho đây chỉ là một xảo thuật chính trị được tán đồng.

Việt cộng/Cộng sản vẫn không chịu buông tha, chặt đầu này chúng mọc đầu khác, không bao lâu sau đó chúng đã xúi học sinh trường Phan Bội Châu đi rải truyền đơn kêu gọi người dân chống chánh quyền và kêu gọi tham gia phong trào CHỐNG MY CỨU NƯỚC, hai học sinh đã bị cảnh sát bắt, Ông Cò Nhị đã cho tôi hay là đám này hoạt động do xúi giục mà không có tổ chức đằng sau, trong lúc đó thày Vĩnh Giêng đã xăng xái theo dõi diễn tiến cuộc điều tra nhưng hậu ý không phải là để lo cho học trò mà có ý tìm kẽ hở nếu học sinh bị tra tấn hay bị xử tù thì sẽ có phong trào sinh viên xuống đường chống chánh quyền đàn áp sinh viên.

 photo pbcpt1_zpszrbmjx6v.jpg

Nhưng tôi đã biết nguồn gốc đấu tranh của thầy nên lạnh lùng trả lời còn đang đợi cuộc điều tra kết thúc. Bất ngờ cho dân chúng Phan Thiết là tôi đã trả tự do cho hai học sinh bằng cách tập họp toàn trường PBC với tất cả các thầy cô và học sinh lại để nghe hát bài CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC trước khi trả tự do cho hai học sinh này với lý do các em học sinh ngây thơ đã bị bọn VC/CS lợi dụng, nhưng chính quyền không nỡ trừng phạt các em, e sẽ cắt đứt tương lai thăng tiến của các mầm non cho thế hệ mai sau. Nghe đâu hai học sinh này cũng có mặt tại Mỹ.
Đối với Công giáo bất cứ hoạt động ở ấp nào tôi cũng đến thăm nhà thờ hàn huyên vớí các Cha tôi cũng đã yểm trợ trong các ngày lễ,có vài Cha như Gò Bồi, Thuận Nghĩa, nhất là cha Thiện Giáo, trước những ngày lễ Cha đều tới Đại Tá:

-- Đại tá ơi, giáo dân đi làm ngoài rẫy phát hiện được VC cấp Tiểu Đoàn đóng cách đây vài cây số.

Biết rằng thâm ý Cha chỉ muốn che dù trước khi mưa nhưng tôi cũng vui vẻ trả lời

-- Cha cứ yên chí đêm thánh lễ thế nào cũng có Đại Tá Tỉnh Trưởng tham dự.

Và rồi tôi đã đến và được phường “TRẮC” dàn chào danh dự.

Đối với Công giáo không hề có chuyện gì xảy ra xích mích với chánh quyền và đã sống với nhau như một gia đình. Tôi là vị Tỉnh Trưởng đầu tiên đạt cho được một dân biểu Công giáo.
Đối với sắc tộc Chàm, tôi cũng chia sẻ đồng đều thăm viếng như các tôn giáo khác, tôi rất thương mến các “CẢ” và ngược lại cũng được các “CẢ” quí mến, đã đi sâu vào các chùa tham dự các lễ quan trọng, cũng tham gia đám ma của dân tộc Chàm, theo tục lệ chôn người nằm xấp mà dân bản địa nói là khi nào có xét đánh thì thây sẽ được lật ngửa trở lại. Tôi nhớ mãi những nụ cười của các Cả, nhất là cả Tào và cả Thường Hòn mỗi lúc tôi tới thăm chùa đều nói “Đại tá rất thực tế”.
Tôi không hiểu thế nào là thực tế, có lẽ mỗi khi tới thăm chùa tôi “dúi” chút ít gọi là để cúng kiến và tu bổ chùa?

Đảo Phú Quí là nơi xa đất liền xưa nay vẫn ít có vị Tỉnh Trưởng thăm viếng vì muốn liên lạc phải dùng ghe thuyền, sóng gió bất thường nên rất khó khăn cho việc tải thương, bệnh nhân cần cứu cấp cũng như sản phụ gặp khó khăn trong khi sinh nở, đã có những trường hợp phải tử vong. Từ khi về Bình Thuận nhờ có sự ngoại giao mật thiết với cố vấn đoàn của Mỹ, tôi đã nhờ cung cấp trực thăng của USAID để thực hiện những cuộc viếng thăm đảo để tiếp tế, chở phái đoàn y tế lo sức khỏe cho đồng bào, lúc đầu có Mỹ đi theo chứng minh là họ sử dụng vì họ tính mỗi giờ trực thăng trên trời phải chi phí 400 đô la, sau lần hồi tôi được sử dụng tự do vì sự kính nể của họ đối với sự hoạt động hăng say và tận tình của tôi.

Năm sau tôi đã được biệt phái một trực thăng của Không Quân Việt Nam để dùng làm máy bay chỉ huy, tôi đi thăm Phú Quý thường hơn và mỗi lần đều chở về tỉnh những cán bộ, nhân viên, bệnh nhân và sản phụ, trực thăng đã trở thành phương tiện thông thường cho người dân trên đảo, mỗi khi có trường hợp khẩn trương đều ới ông “GIÀ” nên tôi đã tạo được nhiều thiện cảm và biết ơn của người dân ngoài đảo. Vì quá thương tiếc nên sau ngày tháng Tư, 1975, khi bị đày đọa trong tù người dân Phú Quý vẫn còn kể cho nhau những chuyện hoang đường nào là Đại Tá Nghĩa vẫn còn chỉ huy anh em trong vùng Bình Tuy-Bình Thuận, nào là cán binh Cộng sản nói là vẫn còn thấy trực thăng Đại Tá Nghĩa bay trên đầu v.v…

Tôi đã mời Tổng Thống Thiệu ra thăm dân tình ngoài đảo, và trong lúc hàn huyên tôi đã đề nghị kiến thiết đảo, thành một phi trường bao hết chiều dài của đảo, phi trường này sẽ có tác dụng cho các Công ty dầu hỏa lập văn phòng điều hành và phi trường có thể xử dụng như một Hàng Không Mẫu Hạm cố định, chứa các phóng pháo cơ cho đơn vị không quân đồng minh, có thể dùng căn cứ này để đi trừng phạt địch quân trên các nước liên bang không cần phải mướn những căn cứ chiến lược như Utapao ỏ Thái Lan, Phi Luật Tân v.v… Tỉnh sẽ có nguồn lợi to lớn, có thể chi viện lớn cho quốc gia, nhưng tổng thống nói là 'đã quá muộn màng'.

Chuyện dài Bình Thuận còn quá nhiều nhưng trong bài này, chính yếu chỉ là để trả lời câu hỏi hiếu kỳ của đồng bào và chiến hữu: BẰNG CÁI GÌ MÀ ĐẠI TÁ TIỂU KHU TRƯỞNG NGÔ TẤN NGHĨA LẬP ĐƯỢC KỲ CÔNG NÀY? Trong bài ngắn gọn “CHUYẾN SĂN ĐÊM”.

Người Lính Già 229 đã cô đọng những điểm chính trong kế hoạch của tôi như “Khi về nhậm chức năm 1969, việc đầu tiên của Đại Tá Nghĩa là bằng mọi giá phải lập lại an ninh trong toàn lãnh thổ Tính. Con đường QL1 xuyên qua Bình Thuận được khai thông hoàn toàn vào năm 1970 những xe đò có thể hoạt động trở lại, những đoàn quân xa di chuyển hàng ngày không còn bị phục kích. Đời sống người dân trong Tỉnh trở lại bình thường. VC bị đẩy lui về các mật khu của chúng. Cũng chừng đó đơn vị cơ hữu chiến đấu nhưng dưới sự chỉ huy quả cảm, biết dấn thân mình tới các tiền đồn heo hút. Sự có mặt của vị đầu Tỉnh là liều thuốc kích thích tinh thần binh sĩ chiến đấu lên cao độ. Họ không còn cảm giác bị bỏ rơi, vì biết cấp chỉ huy cao cấp của mình cũng đang có mặt nơi nào đó, nơi tiền đồn heo hút, hoặc đang có mặt ở một thôn xã hẻo lánh như La Gàn, Lương Sơn, Chợ Lầu, Cây Số 25, Gió Ngàn Phương hay Vĩnh Hảo.

Những đêm thăm viếng bất ngờ như thế làm cho các đơn vị trưởng địa phương không dám lơ là bỏ đơn vị, và quân số phải luôn luôn đầy đủ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trong đời binh nghiệp tôi chưa thấy vị chỉ huy nào phục vụ tân tụy như thế. Tôi đã chứng kiến nhiều lần Đại Tá đến với đơn vị tôi âm thầm lặng lẽ, nhiều lúc vào tám, chín giờ tối làm các vị Tiểu Đoàn Trưởng hoặc Liên Đội Trưởng phải ngạc nhiên. Sau khi ông đi qua Chợ Lầu bằng chiếc Jeep do con trai Lễ lái, anh cũng là người cận vệ tin cẩn của cha mình, cùng với hai Âm thoại viên. Đường từ Chợ Lầu đến Phan Rí Cửa phải băng qua Quán Mía, Khu ba Liêm Bình, khi trời xụp tối vạn phần nguy hiểm, thế mà ông vẫn đi một cách bình thường.

Một lần vào mùa hè năm 1971. Đại tá đến Yếu Khu Phan Rí Cửa bất thần khoảng 8 giờ tối. Đại úy Nguyễn Đình Thụy, Liên Đội Trưởng 2/8 ĐP hỏi Đại tá và anh em tùy tùng có ăn gì chưa, Đại tá trả lời 'không cần lo' và ông nhắc lại chỉ thị của ông mối khi tới thăm đơn vị là với “HAI KHÔNG = Không dàn chào và không ăn uống vì lý do “bất ngờ và bảo mật”.

Đại Tá hỏi tình hình bố phòng khu vực thế nào nhất là khu Lâm Lộc, Thượng Văn. Dĩ nhiên Liên Đội Trưởng phải nói là rất tốt, các mũi đột nhập vào Lâm Lộc đã bị chận đứng, với bốn Trung Đội Nghĩa Quân bảo vệ Lâm Lộc và Đại Đội 730/ĐPQ bảo vệ Hội Tâm thật an toàn. Đại tá rất lấy làm hài lòng và nói hôm nay tôi muốn đi săn tại dốc Hội Long…. Nếu đổi lại tôi với cương vị của ông, tôi không dám đi săn như vậy; Nghe anh em Nam Bình thuận kể lại, có lần ông đã cùng TT Nguyễn Văn Thiệu đi săn ở cây số 25. Thú thật tôi ái mộ sự can đảm của hai vị vô cùng. (hết trích).

 photo a Phng Quacircn_zpsblwh1yax.jpg Nói tới cây số 25, sở dĩ tôi vào rừng đó nhiều lần vì tôi đã đặt được vị trụ trì ở đó theo dõi và báo cáo đồng đều cho nên tôi mới mạnh dạn mời TT Thiệu đi để chứng kiến việc làm tình báo cao siêu. Có lần tôi ra lệnh cho Đại Úy Sâm Đại Đội 290 hành quân tảo bạch hóa khu CS25, Đại Úy Sâm tỏ vẻ ngại ngùng, không phải vì sợ địch nhưng nói rằng em ngại vì đơn vị em thành phần đa số là Công giáo nếu vào tảo thanh trong chùa e có phản ứng bất lợi, tôi bảo đảm đây là theo lời yêu cầu của chính vị trụ trì trong chùa, ông tiết lộ là không chịu nỗi Việt cộng vì chỉ có bảy thằng ở đây có bốn tiểu liên và ba súng trường để đón nhận tiếp tế và đoàn xâm nhập đổ bộ lên đây và bọn này có nhiệm vụ làm liên lạc hướng dẫn về mật khu ĐĂNG GIA, nhưng bọn này rất hỗn xược, ăn cả gạo và rau cỏ của nhà chùa trồng, nhiều khi còn bắt thầy khiêng vác phụ nữa, cho nên vì uất ức thầy muốn tiêu diệt tụi nó. Tôi cũng đã cho thầy biết là Hải Quân Mỹ đã toan san bằng chùa nhưng tôi không cho nói là phải để làm mục tiêu theo dõi, hơn nữa theo đức tin của người Việt Nam thì phá chùa hay nhà thờ là điều cấm kỵ. Vụ này Đại Úy Sâm đã trường thuật trong tập san Ân Tình số trước, đọc giả có ít người để ý và đã hỏi tôi và tôi đã xác nhận.

Hồng nào mà chẳng có gai, mề đay nào không có mặt trái, đâu phải lúc nào cũng được thuận buồm xuôi gió, nên trong nhiệm vụ vào rừng vuốt râu cọp làm sao tránh khỏi lúc bị cọp vồ, trường hợp của tôi cũng không là ngoại lệ, trong những lúc mạo hiểm ở Bình Thuận tôi đã nhiều lần bị tấn công điển hình nhất là:
Khi đi hoạt động tại ấp Bình An và Bình Lâm thuộc xã Bình Mỹ Thuận, Quận Thiện Giáo là hai ấp sôi động nhất của quận, luôn luôn có mặt Việt cộng hoạt động ngày đêm, đặt mìn, ám sát, thu thuế công khai nên tôi đã đặt ưu tiên hoạt động tại hai ấp này. Trong lúc đi thăm từng nhà dân do đoàn trường CBXDNT Nguyễn Phương hướng dẫn thì Việt cộng ở ngoài rào ấp nhắm bắn sẻ, tôi vô sự nhưng tội nghiệp anh Phương đi song song với tôi đã bị tử thương. Tôi vẫn ở lại xã và sáng ra yêu cầu đồng bào trước khi ra đồng nghe tôi nói chuyện. Sau khi ca bài Chống Mỹ Cứu Nước, tôi vận dụng hết tình cảm nói lên điều thực tế của địa phương, thấy người dân tỏ vẻ thấm thía có người đã chảy nước mắt nên tôi biết tôi đã chinh phục được nhân tâm.

Cũng tại Thiên Giáo trong năm 1970 trong cuộc hành quân trong quận, trong khi tôi theo dõi hành quân tôi leo đứng trên một đống rơm để dùng ống nhòm theo dõi cuộc tiến quân, tôi đã đứng trên đống rơm khá lâu mới di chuyển, và chỉ sau đó chừng vài chục phút chiếc xe bò phải leo qua đống rơm để ra đồng chở lúa thi xe bò đã bị mìn nổ tung, đây có thể là mìn chống chiến xa nên thân người tôi không đủ nặng để đủ sức ép cho mìn nổ.

Lần kế đó trong khi đi dời một ấp độc nhất ở phía bắc tỉnh ở La Gàn quận Tuy Phong, một ấp gai góc nhất trong tỉnh ở cách xã trên ba cây số vào trong rừng sâu VC hoàn toàn kiểm soát ngày đêm, các Tỉnh trưởng tiền nhiệm đã nhiều lần tính đời về gần xã nhưng đã bị dân biểu địa phương phản đối với nhiều lý lẽ mị dân, phi lý nhưng tới phiên tôi, tôi đã quyết định dứt khoát là phải dời để lo cho dân. Ngày tôi quyết định khởi sự và trong khi chạy gần vào ấp tôi đã bị phục kích và trái B40 bắn trực diện cũng chỉ sớt qua mà không gây thương tích, ngay cả xe cố vấn chạy kế sau cũng vô sự.

Photo:

Trái B40 thứ nhì bắn trực diện tại mật khu Lê Hồng Phong cũng không gây thiệt hại. Thật ra thì hiếm có bao giờ vị tỉnh trưởng nào lại đi hành quân trong Mật Khu Lê Hồng Phong nhưng tôi quả quyết đi vì lúc đó tôi được tin tình báo cho biết là VC sẽ có mặt tại mật khu này để tiếp nhận và hộ tống một số cán bộ cao cấp từ Miền Bắc đưa vào Quân Khu 6 đóng giáp ranh giữa Lâm Đồng và Bình Thuận. Sau khi đụng độ không lâu cách khoảng đó không xa, Thiết Vận Xa bị sụt hầm, ta không để ý và vẫn tiếp tục đi nhưng sau này được biết là dưới hầm đó đã có 41 thằng chết ngộp nhưng không có tên cán bộ mới xâm nhập nào. Năm tên cán bộ xâm nhập đã được tàu ngầm Nga đưa đi lọt và đổ lên mật khu. Tin này đã được đăng trên tờ Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội.

Trong những lần di chuyển về Saigon để tiếp xúc với dân hồi chánh viên tôi luôn luôn thay đổi màu xe và di chuyển thất thường. Nhưng có một lần tôi đã bị phục kích ở Rừng Lá, lúc tôi đi vào thì dùng chiếc xe đen của tỉnh nhưng lúc ra về tôi có mời một bạn ra chơi, anh đã dùng xe màu trắng. Khi ra đi tôi ngồi trong xe trắng và xe đen chạy theo, ra khỏi Saigon nửa chừng tôi ngừng lại trước một quán dọc đường, đợi đến khi xe du lịch chạy tới khá đông, tôi xen vào giữa đoàn xe, cho xe đen chạy trước, đằng sau tôi còn mấy xe đen trắng chạy sau, khi qua Rừng Lá xe tôi chạy trước, qua khu rừng thì Việt cộng nổ súng vào mấy xe sau nhưng tôi không biết có xe nào bị nạn không? Vì đây là ngoài ranh giới Bình Thuận nên không thể đoán chắc Việt cộng đã phục kích mình hay không.

Trực thăng rớt – Tôi còn nhớ ngày Thứ Sáu 13, ngày xui xẻo, nhưng năm nay lạ thường là có ba ngày Thứ sáu 13 trong một năm nhưng làm sao tránh được khi phải đi hội tại Quân Đoàn. Trên đường về cùng ngày khi còn cách ranh giới Bình Thuận khoảng nửa giờ thì trực thăng bị bể ống dầu, phi công cho tôi hay có thể bị nguy hiểm nhưng nếu trực thăng chết máy thì cố gắng cho hạ bằng cánh quạt được, tuy nhiên cũng cố gắng bay dọc theo trục lộ, khi về tới Sông Mao thì trực thăng không còn bay nổi phải rớt xuống nhưng may thay! rớt trên một vũng sình kế cạnh con rạch chạy theo Sông Mao, chúng tôi vô sự và gọi đơn vị địa phương chở về, trực thăng hủy tại chỗ.

Trong đời quân ngũ, không biết bao nhiêu lần gặp nạn nhưng không có khi nào gặp trực diện như thời gian ở Bình Thuận. Trước khi đi Bình thuận hai tháng cũng đã gặp một tai nạn nhưng cũng từ xa bắn tới. Ở Pleiku trong một ngày Chúa Nhật, nơi đơn vị Mỹ tại Dakto thông báo cho Quân Đoàn là đã hạ sát nhiều tên cộng sản Bắc Việt và thu được rất nhiều tài liệu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn cho Phòng Nhì và Phòng Ba đi khai thác. Bên Phòng B có hai sĩ quan Mỹ, bên Phòng Nhì thì có tôi và cố vấn Mỹ.

Khi bay lên đến Dakto thì trời mây mù bao phủ không thấy được khoảng trống để đáp, phi công tìm mãi mới thấy được lỗ trống và hạ cánh xuống căn cứ, rồi phi công nói rằng thời tiết xấu bao phủ anh sẽ bay về Kontum và khi xong thì gọi hắn ta trở lại đón. Xế chiều trời có vẻ quang đãng, bốn chúng tôi ra bãi đáp đợi, cách 20 phút khi trực thăng tới thì một quả pháo 130 ly của Việt cộng bắn trúng ngay địa điểm chúng tôi đứng, sau tiếng nổ tôi thấy cố vấn của tôi nằm rạp xuống đất, tôi tưỏng anh nằm để tránh viên đạn kế tiếp nhưng anh đã bị trúng mảnh đạn cứa ngay cổ và cuống họng nên đã từ trần, tôi may mắn có lẽ là nhờ lùn mà mảnh đạn có thể bay cao hơn nên tôi thoát chết, tôi rất thương tiếc một trung tá dễ thương, vừa hết nhiệm kỳ làm tùy viên quân sự ở Nga Sô, về hưởng những ngày phép với gia đình và khi hết phép được chỉ định đi Việt Nam thì đã tới với tôi, tôi rất thương tiếc anh và cũng chỉ biết an ủi “Âu cũng là định mệnh”.

 photo 1492561392-bt1_zpsl4e3qupq.jpg

Đôi khi tôi cũng tin ở định mệnh nhưng vì nhiệm vụ phải liều, liều đây không có nghĩa là liều lĩnh, mà là liều chết hy sinh cho lý tưởng cố đạt được mục tiêu đề ra, tôi cũng có người bạn là Đại Tá Đặng Hữu Hồng, Tỉnh Trưởng Quảng Đức người cũng liều, gan dạ nhưng vì định mệnh anh đã bị hy sinh khi liều mình dẫn đoàn quân đi tiếp viện.

Tôi cũng liều trong các công tác tình báo, Hải Quân Mỹ đã rải bằng trực thăng những máy dò điện tử xuống nhiều vùng trong tỉnh, có ngày họ đã giao những máy điện tử (sensors) cho mình đi rải, họ nhận định rằng mình sẽ rải chính xác hơn họ.

Cố vấn trưởng cho hay là chiều nay Hải Quân sẽ gởi vào một trực thăng do phi công của đội cảm tử (Navy seal) lái vào Tiểu Khu để chở sĩ quan đi hướng dẫn mục tiêu các mật khu, trực thăng tới cố vấn nhờ tôi chỉ định sĩ quan đi hướng dẫn, tôi vỗ ngực, nói người sĩ quan đó là tôi, thế rồi tôi và con trai Lễ mang máy truyền tin lên trực thăng đi thi hành nhiệm vụ, thấy thế Cố Vấn Phillip Cook cũng nhảy lên theo. Suốt hai giờ quần thảo qua các mật khu, phải bay sát ngọn cây, nhiều chỗ VC đã bị bất ngờ, còn nằm trên võng, máy bay “rẹt” qua bỏ chạy. Những máy điện tử này, giống y hệt như một khúc cây, có lá cũng một màu với lá cây rừng nên dầu có đi tìm cũng khó phát giác được. Rồi kế đó đêm đêm ta nghe những trái đại bác hạng nặng nổ trên các mật khu nhưng ngưòi dân đã nhàm chán với những tiếng nổ hàng đêm chẳng ai cần biết là ở đâu và là gì?

Ban ngày thì Việt cộng cũng không được yên thân, những đợt Phản Lực A 37 của Không Đoàn < Ó ĐEN > từ Phan Rang, từng đoàn bốn chiếc tung hoành trên các mật khu vùng nào cũng là vùng oanh kích tự do, cứ vài ba ngày dân Phan Thiết lại chứng kiến những đoàn phản lực, với những tiếng kêu xé trời nhào thẳng xuống tòa tỉnh trưởng làm như để thanh toán một mục tiêu chỉ định nhưng trong máy truyền tin chỉ phát ra những lời báo cáo: “Bố ơi! Nhiệm vụ thi hành xong chúng con chào bố”.

Lời nói rất cảm động và dễ thương và chỉ trong khoảnh khắc đoàn phản lực lấy lại cao độ và biến mất dạng về hướng Phan Rang.

KẾT LUẬN - Với tuổi già gần kết liễu cuộc đời, an hưởng cuộc sống thanh bình nơi đất tạm dung, đôi khi hồi tưởng lại tôi vẫn tiếc những ngày nào oai hùng chống giặc, có những đêm nằm mơ tôi vẫn thấy đang hành quân diệt cộng tại tỉnh nhà và tỉnh dậy đã vô cùng tức giận kẻ gọi là đồng minh nhưng đã phản bội, trong lúc túng quẫn họ đã bán rẻ danh dự họ và giết hại một quân đội hùng mạnh của chúng ta. Trong khi bán nước Việt Nam, TT Nixon và Kissinger đã hy vọng rằng nếu bang giao kinh tế với Trung Cộng họ sẽ có nguồn lợi khổng lồ so với hàng trăm tỷ đã tổn phí cho chiến tranh Việt Nam, Nixon đưa ra những thí dụ ấu trĩ như nếu dân Trung Cộng mua một bàn chải đánh răng, một viên Aspirin cho trên một tỷ dân thì cũng đã có trên một tỷ đồng lợi nhuận và mơ tưởng một nền kinh tế vĩ đại và trong cuốn Beyond peace (viễn ảnh hòa bình).

Nixon tiên đoán sau này Trung cộng sẽ trở lên một cường quốc kinh tế. Tiên đoán này đến nay tỏ ra đúng nhưng với Mỹ thì cả là một thảm bại, những sản phẩm của Mỹ đã cung cấp công thức cho Trung cộng và Trung cộng đã sản xuất bán lại cho Mỹ và toàn thế giới với giá rẻ mạt nên ngày nay Trung cộng đã lắm tiền nhiều bạc đi mua nhiều nước trên thế giới.

Mỹ trái lại nghèo mạt nhưng vẫn tiêu xài như công tử nhà giàu vẫn dùng tiền nợ đi mua chuộc các nước giàu, nghèo trên thế giới, không tiền đi cho nhưng phải vay mượn để cho nên nay đã mắc nợ các nước đàn em và nhiều nhất là Trung cộng tất cả lên tới trên một ngàn tỷ đô la, cho tới năm nay Quốc hội Mỹ vẫn chí chóe về việc được phép tăng nâng cao tột đỉnh mức nợ và nhiều phen đã xiểng niểng trong vấn đề phá sản, và nếu bị phá sản thì những gì sẽ xảy ra?

Ngày nay đã sáng mắt ra, vội vàng tuyên bố trở lại Thái Bình Dương, nhưng hãy nhìn kỹ nanh vuốt Trung cộng đã bấu tới đâu! Tiền “Chú Ba” vung ra không hạn chế, hãy nhìn xem chỉ một việc xúi Cambodia không ra thông cáo chung sau khi bế mạc hội nghị các nước Á Châu để tránh việc tố cáo với Tổ chức Quốc Tế - Trung Cộng chiếm biển Đông bất hợp pháp, Trung Cộng đã dúi cho Cao Miên tám tỷ đô la với lý do là món nợ vay không hoàn trả. Cứ đà này thì con cháu chúng ta sẽ phải bị nướng dã man trong một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba.

Thời gian trôi quá mau, nay đã 40 năm, đành rằng Bình Thuận chúng ta cũng bị lôi theo định mệnh của đất nước bị xóa nhòa nhưng chúng ta người chiến sĩ kiên cường của Bình Thuận vẫn hãnh diện ngửa mặt với những gì chúng ta làm cho Bình Thuận, vẫn tin tưởng chính nghĩa quốc gia là lý tưởng, vì sự dã man mọi rợ của cộng sản áp đặt trên dân lành nên ngày nay ta vẫn thấy không thế nào chúng tồn tại được vì người dân đã phẫn uất tới cực độ. Đúng như lời nhận xét của tướng Pháp Vanuxem, người đã chạy đôn đáo trong giờ phút cuối cùng tháng tư/1975 để tìm giải pháp cứu Việt Nam, ông nhận định rằng muốn giải phóng Việt Nam thì hãy để Việt cộng chiếm trọn và cai trị đất nước, khi đó người dân sẽ thấy rõ cộng sản là gì, chúng sẽ tàn ác, độc đoán vơ vét dân sẽ nghèo khổ, chúng hết đường tuyên truyền, người dân sẽ nổi dậy và tiêu diệt chúng. Sự tiên đoán này nay đã thể hiện đúng như dụ trù và nay chúng ta cần yểm trợ cho người dân trong nước và ngày trở về sẽ đầy hứa hẹn, tôi chỉ tiếc là không thể sống đến ngày đó để dự ngày khải hoàn ca cùng các chiến hữu.

Từ ba năm nay năm nào tôi cũng từ giã chiến hữu nói đây là năm chót nhưng hết năm Thượng Đế lại “gia hạn” cho tôi thêm năm nữa, khi còn lái xe, tập thể dục, đi lại không khó khăn thì tôi không thể không đi tìm các em được, nhưng năm nay thì thật tình là năm chót, với tuổi 90 bước qua 91 thấy quá yếu, đi đứng không còn vững chãi như xưa nên dầu Thượng Đế có gia hạn thêm cho năm nữa thì cũng không còn nghị lực đi nữa, tôi đã tham dự buổi họp với hội Thân Hữu Bình Thuận/Houston tháng ba năm nay 2013, tôi rất thích dự hội này vì thành phần tham dự gồm số đông các vị cao niên, một số sĩ quan thuộc các cấp Quân, Cán Chính, những người đã chứng kiến những gì tôi đã làm cho Bình Thuận và cũng các vị này đã ban cho tôi bản Tuyên Dương “NHỜ ANH”.

Ngô Tấn Nghĩa

Ngày 13 tháng 3 năm 2013

http://nguyentin.tripod.com/dt_ngotannghia.htm




http://hoiquanphidung.com/content.php?2420-Tr%C3%AAn-V%C3%B9ng-Tr%E1%BB%9Di-%C4%90%E1%BA%A5t-N%C6%B0%E1%BB%9Bc

 

 

 

Tuesday, May 22, 2018

Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn Trong Rặng Bình Bát

Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn Trong Rặng Bình Bát…
- Nguyễn Bữu Thoại
https://youtu.be/67HVmzxWQDY

 

 




Đôi Mắt Người Bị Xử Bắn~~~
Trong Rặng Bình Bát…


Nguyễn Bửu Thoại

Đến Kinh Cai Tổng Cang, một con kinh cắt ngang Rạch Bà Đầm - Thát Lát, Tiểu Đoàn chia làm hai cánh. Cánh A: Tiểu Đoàn trừ (-), trách nhiệm bờ Nam. Cánh B: Đại Đội I, bờ Bắc.
Hai cánh quân song song lục soát về hướng quận lỵ Thuận Nhơn, một quận lỵ đang bị áp lực rất nặng của Cộng quân khiến trục giao thông đường thủy từ quận lỵ ra Cần Thơ gần như bị cắt đứt hoàn toàn từ ba hôm trước. Xuất phát lúc 7:00 giờ sáng từ gần Kinh Ranh Hạt và Kinh số 7, với khoảng cách trên dưới năm cây số, Tiểu Đoàn di chuyển nhanh và không gây tiếng động.

Photo: Soldati sudvietnamiti attraversano una zonna allagata nella provincia meridionale di Camau, 24 agosto 1962. (AP Photo/Horst Faas)
Tiểu Đoàn chia làm hai cánh. Cánh A: Tiểu Đoàn trừ (-), trách nhiệm bờ Nam. Cánh B: Đại Đội I, bờ Bắc.

Đúng 11:00 giờ sáng, Đại Đội 1 của tôi vượt qua con rạch Bà Đầm-Thát Lát, một con rạch mỗi lần đọc đến tên tôi lại liên tưởng đến Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 42 BĐQ đã hy sinh tại đây gần hai năm về trước. Bình bát, một loại cây thuộc họ mãng cầu, “lựu lê, bình bát, mãng cầu”, có trái bằng nắm tay khi chín vàng rực, thơm lừng nhưng ăn chẳng ra gì cả. Tuy cùng họ nhưng mãng cầu mọc trên bờ còn bình bát mọc dưới nước. Bình bát thuộc họ trầm thủy, nên rễ đâm thành cây con, cây con nhô lên thành cây lớn… cứ thế bình bát nhảy bạt ngàn dày đặc hơn cả rừng nhiệt đới bên…. Mã Lai. Một địa hình kỳ lạ, tôi chưa thấy qua.

Photo:

Cho Đại Đội dừng quân và bố trí, tôi đứng quan sát chung quanh… Nhất thời, tôi chưa hình dung được cách dàn quân như thế nào nếu ngay bây giờ địch khai hỏa? Đất gần như hoang địa, có thể trước đây có người ở, nhưng bỏ phế đã lâu, những bờ và mương đã “lạn” hết! Bình bát mọc thành rừng, không gò cao, không trũng sâu, nhưng địa thế cũng không bằng phẳng và nhất là không thể đào hố cá nhân được vì dưới chân chẳng hề có đất mà chỉ có rễ và cây bình bát nằm ngổn ngang sấp lớp! Suy nghĩ một lúc tôi tìm ra… chân lý: mình vô kế khả thi thì thằng địch cũng thế, chẳng lẽ ở đây nó biến thành chuột biết đào hang?

Quyết định thật nhanh, tôi mời ba ông Trung Đội Trưởng đến và phân công: Thiếu úy Đại, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1 kiêm Đại Đội Phó, bên trái, Chuẩn úy Liêm, Trung Đội Trưởng Trung Đội 3, bên phải, hai trung đội bắt tay nhau, đội hình hàng ngang. Liêm phải rải em út sát bờ sông, phải nhớ kiểm soát được bờ sông và đừng quên bên kia bờ Nam là Tiểu Đoàn, là bạn! Chuẩn úy Cần, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 làm cái râu cạnh sườn trái. Lưu ý nếu chạm địch, Cần giữ cạnh sườn, hướng tác xạ bên trái. Ba anh em bắt tay thật chặt chẽ, di chuyển chậm, giữ khoảng cách hợp lý, quan sát phải thấy nhau. Tôi lặp lại cho anh em là phải thấy nhau vì với địa hình này cách xa hơn hai thước là không ai thấy ai nữa. Do đó khi chạm địch, đội hình hàng ngang không còn, có khi anh em phía sau bắn bừa lên đồng đội mình ở phía trước, ở bên hông.

Lòng tôi nặng nề chùn xuống. Tết Mậu Thân kia, khi lôi chứng kiến những em bé bộ đội miền Bắc 15, 16 tuổi, miệng mếu máo, mặt mày dáo dác như con lạc mẹ, lạc cha, lúc đơn vị các em bị đánh tan tác; hoặc từng chùm hai người gục chết với cây đại liên phòng không, chân còn bị xích cứng với càng súng….. Người lính miền Nam, đối diện với lực lượng xâm lăng miền Bắc, chỉ để tự vệ và giữ gìn cuộc sống êm ấm cho đồng bào.

Quân Lực VNCH không dạy người chiến sĩ mang trong lòng sự thù hận nào.

Ba ông sĩ quan Trung Đội Trưởng nhận lệnh và bắt đầu dàn quân tiến lên phía trước. Tôi quay qua Thượng Sĩ Bình, Thường Vụ Đại Đội, TSI Hiển Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, dặn hai ông trách nhiệm mặt sau lưng không được lơ đãng vì địch có thể bọc hậu sát bên, mình vẫn không phát giác.

Đúng như dự đoán của tôi, địa hình thật quái dị: dưới chân đất không cứng hẳn, có đoạn phập phồng vì nước ngập lên khỏi lớp rễ khá cao. Có đoạn đất lại khô cứng trải dài. Những đoạn đường như vậy bình bát rất rậm, che khuất cả mặt trời buổi trưa, giống như hoàng hôn ở vùng rừng núi. Tầm nhìn hết sức hạn chế. Đại Đội đến chậm vì phải quan sát và giữ khoảng cách. Cây cối chằng chịt, ngoằn ngoèo rất khó đi; sơ ý vướng rễ cây là té sấp. Do đó anh em đi đầu luôn luôn phải hú hí nhau cho khỏi lạc.

Bên kia bờ sông cũng có bình bát nhưng thưa thớt hơn nhiều. Tiểu Đoàn di chuyển dễ dàng và nhanh. Ông Tiểu Đoàn Trưởng cũng biết chúng tôi không sao đi kịp được nên Tiểu đoàn tiến lên một khoảng rồi dừng lại chờ, rồi lại tiến!

Hai giờ chiều, sau ba giờ di chuyển, đối chiếu lại với bản đồ, tôi biết chúng tôi vượt điểm xuất phát không hơn bốn cây số, quân, chúng tôi chưa khám phá được gì quan trọng ngoài mấy cái chòi nhỏ bỏ hoang.

Bắt đầu nản, tôi vừa có ý xin Tiểu Đoàn cho đơn vị dừng quân để anh em ăn cơm vắt. Chưa kịp gọi Tiểu Đoàn thì Binh I An, âm thoại viên mang máy nội bộ, bước lại đưa ống liên hợp cho tôi:

– Ông Trường Thành 3 xin gặp Mười Một.

Tôi bấm ống liên hợp:

– Trường Thành 3 có gì nói đi!

Tiếng Chuẩn Úy Liêm gấp gáp:

– Trình Mười Một! Trình Mười Một! Cỏ cái trạm xá của Việt cộng chứa nhiều thương binh… Mười Một cho biết… cho biết… biện pháp.

Chuẩn Úy Liêm là một sĩ quan trẻ độc thân, mấy tuần qua chứng tỏ anh cũng cố làm quen với chiến trường, rất gan dạ và dễ thương, có điều gặp chuyện gì cấp bách là Liêm hay… cà lăm!

Tôi cắt ngang:

– Anh đã kiểm soát được trạm xá chưa?

– Dạ rồi, Mười Một!

– Bố trí em út cẩn thận. Tôi sẽ tới anh ngay

Gọi luôn các trung đội còn lại, tôi chỉ thị:

– Trường Thành 1 và 2 nghe rõ chưa? Các anh dừng lại bố trí tại chỗ chờ lệnh. Riêng Trường Thành 1 lưu ý yểm trợ thằng 3.

– Trường Thành 1 nghe rõ 5.

– Trường Thành 2 nghe rõ 5.

Tôi vỗ vai Lữ, âm thoại viên mang máy liên lạc Tiểu Đoàn, bảo:

– Anh thông báo cho Tiểu Đoàn biết; Đạt Đội phải dừng quân vì khám phá trên. Yêu cầu Tiểu Đoàn sẵn sàng yểm trợ.

2

Chưa đầy một phút sau tôi đã tới… trạm xá. Chuẩn Úy Liêm đón ở góc ngoài trạm và lưu ý tôi một số lựu đạn nội hóa chất chung quanh.
Quan sát một vòng, tôi lấy làm lạ khi thấy các chiến sĩ Trung Đội 3 đứng dang ra khá xa vách trạm và ai nấy đều đưa tay bịt mũi. Mấy ông lính mình bữa nay lại làm duyên làm dáng gì nữa đây? Tôi bước nhanh tới và thật là khủng khiếp!!! Một mùi hôi thối nồng nặc bao trùm cả trạm xá! Mùi của tử thi? Nhưng, có lẽ cũng không giống như vậy vì mùi xác chết sình tụi tôi cũng “thưởng thức” khá quen mũi hôn Tết Mậu Thân khi phải nằm nhiều ngày cạnh xác chết VC trong mấy con hẻm của thành phố mà không làm sao có thì giờ tống khứ đi chỗ khác hoặc tìm ra đất để chôn. Phải dùng đến mền, mùng, chiếu, ni- lông, hay bất cứ thứ gì để đắp, đậy tạm cho đỡ khổ cái lỗ mũi rồi tiếp tục… chiến đấu. Nhưng cái này thì không phải! Tôi nhìn Chuẩn ủy Liêm. Liêm hiểu ý tôi, nhăn mũi lắc đầu:

– Không có tử thi nào cả. Mười Một nhìn vào trạm xá sẽ hiểu!

Tôi bước tới trạm và nhìn vào…

Tôi không tin rằng đây là một cái trạm xá!
Trạm xá, dù là dã chiến đi nữa, ít ra cũng phải có cái tiện nghi tối thiểu của nó, nghĩa là phải có giường kê lên cao, có tấm trải giường, (hay chiếu, cói), có mền để đắp, có mùng tránh muỗi, nhất là ở giữa rừng. Đàng này! Tôi không sao tưởng tượng và hình dung được!
Đây phải gọi là cái chòi thì đúng hơn, có khi còn thua cả cái chòi giữ vịt của nông dân miệt Cần Thơ, Sóc Trăng.

Photo
Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Lực VNCH lội bùn một trạm ở rừng U Minh, ngày 1-8-1971


Trạm hình chữ nhật dài khoảng 8 mét, ngang 4 mét. Trong trạm trống trơn, không một chiếc giương, một bộ ván nào cả. Nền nhà không ngập nước nhưng ẩm ướt vì mới dứt mùa mưa dầm, ánh nắng lại không soi rọi tới, đất chưa kịp khô… Mái trạm lợp bằng lá dừa nước, vách cũng lá dừa nước, bốn bề từ ngực trở lên để trống. Toàn khu nền nhà được rải một lớp rơm khá dầy. Đó là tất cả những “tiện nghi” của một trạm xá VC! Phía góc trong của căn trạm có bốn thương binh Việt Cộng đang nằm. Bốn anh giương mắt nhìn tôi, ánh mắt vừa tò mò vừa lo sợ. Cả bốn còn tỉnh, mặc dù thương tích có vẻ rất trầm trọng.

Tôi bước qua khung cửa để vào chỗ các anh đang nằm. Mùi hôi thối đúng là phát ra từ đây! Cả bốn anh mình mẩy đều bê bết máu tươi và khô, nước vàng, mủ nung núc. Vương vãi khắp nơi là những loại quần áo cũ, khăn rằn quấn cổ, bị xé ra làm băng, làm vải thấm thay cho compress, trộn lẫn tất cả các thứ xú uế kể trên, được ném khắp nền nhà. Vì cơ thể bốn anh liên tục phóng thích những chất kinh khủng đó suốt ngày nên quyến rũ hằng đàn, hằng đống ruồi, nhặng vo ve. Mùi hôi thối của những chất này còn khủng khiếp hơn cả thây ma. Ghê tởm hơn nữa, dưới nền nhà, những con giòi trắng bò lễnh nghễnh.

Tôi thật tình không thể tin rằng bốn anh tính của “Bác” có thể sinh tồn nhiều ngày trong điều kiện như vậy được.

3

Đang suy nghĩ, bỗng chiếc loa nhỏ gắn sau các máy PRC.25 phát ra. Tiếng gọi của ông Tiểu Đoàn Trưởng. Có lẽ ông muốn biết tình hình vì báo cáo ban nãy:

– Trường thành! Đây số Sáu gọi.

Tôi nhặt ống liên hợp gắn sau lưng Lữ và đáp ngay:

– Mười Một tôi nghe số Sáu!

– Anh đến chỗ trạm xá chưa và thấy thế nào?

– Đã đến hơn ba phút. Đang quan sát tìm hiểu, chưa tìm thấy gì cụ thể. Sẽ báo cho số Sáu sau.

– Cố khai thác nó xem: thằng nào, tên gì, đang đóng quân ở khu vực này? Bóp cổ nó tìm củi đuốc1 coi có được gì không? Nửa tháng nay, không có chấm mút gì ráo!

Nói xong ông buông một tràng cười. Tính ông hay pha trò nhưng là con người rất nguyên tắc. Ông là một Tiểu Đoàn Trưởng giỏi nhưng cũng có nhiều tật lạ đời như là: quy y Phật, không bao giờ chửi thề, nhưng, khi giận, ông là vua nói tục! Có khi đang tụng kinh lâm râm vậy mà nghe bắt sống được Việt cộng thì bảo lính đem “cất” liền khỏi cần giải giao về Trung Đoàn hay Tiểu Khu cho mất công. Lính như thiên lôi, có lệnh là làm. Ở đơn vị hành quân, trong vùng địch, không dân cư, đối diện với những sinh tử bất chợt, luật lệ ở đây là họng súng. Đó là một hệ quả tất nhiên của sự rình rập ngày đêm giữa hai mãnh thú săn mồi. (Cái này dù có mười ông nhiếp ảnh viên Eddie Adams, người chụp bức hình nổi tiếng Tướng Nguyễn Ngọc Loan trong vụ xử bắn tên đặc công Việt cộng tại Sài Gòn trong Tết Mậu Thân, cũng không có điều kiện để bấm máy). Mỗi lần đem “cất” như vậy ông tâm sự với tôi: tụi nó là quỷ vương, giết cho sạch ma quỷ để Phật xuất thế! (Ông chỉ thị cho sĩ quan truyền tin ghi trong Đặc Lệnh Truyền Tin danh xưng của ông là số 6, Tiểu Đoàn Phó số 7, Đại Đội Trưởng Đại Đội I số 11, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 là 22… Ông còn nói thêm số 6 là Lục Tự Di Đà đó, ông biết không?).

Tôi không có ý kiến về cách tu hành và pháp môn niệm Phật của ông, nhưng quả tình tôi với ông có những quan điểm rất dị biệt về cách đối xử với tù, hàng, thương binh của địch…

Dù mùa hôi thối có thế nào tôi cũng phải đến tận chỗ nằm của bốn anh thương binh.

Người nằm sát chân tôi là một thanh niên trẻ, cũng chừng tuổi tôi, nghĩa là trên dưới 25. Anh mặc một chiếc áo sơ mi.
Người thứ hai trên ba mươi tuổi, một chân bị cưa khỏi đầu gối, chắc có lẽ vết cắt chưa lâu lắm nên máu và nước vàng thấm ướt cả vải băng.

Người thứ ba tôi không tài nào đoán được tuổi vì gương mặt bị cháy xém nhiều chỗ, khắp thân hình anh nhăn nhúm và loang lổ. Chỗ nào da đã tuột mất thì phơi bày máu mủ bầy nhầy, nước vàng kinh khiếp. Chỗ nào còn da thì đổi màu đen và nhăn nhúm lại. Khắp người không có mảnh vải nào để che đắp vì những vết phỏng nhầy nhụa. Bộ phận sinh dục, xin lỗi, bị cháy teo không còn hình thù. Anh cho tôi biết anh bị napalm hơn tuần lễ trước.

Ngươi thứ tư có lẽ rất nguy kịch vì anh bị trúng pháo binh nên phần ngực và bụng bị rách và bể nhiều chỗ. Anh đắp trên bụng một cái mùng vải tám, màu vải nguyên thủy là màu trắng ngà, bây giờ không biết gọi màu gì sau khi nó thấm, nhuộm đủ thứ nào là máu, mủ nước vàng, đất v.v… Hạ Sĩ I Thạch Chêm, Trưỏng Toán Quân Báo Đại Đội dùng đầu súng M16 hất cái mùng ra để kiểm tra bên dưới. Tôi đã suýt kêu lên: Một đoạn ruột của anh lòi ra khỏi bụng và đã ngã màu đen!


Hai nhà văn “lớn” cộng sản/Việt cộng, Dương Thu Hương với tác phẩm “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết...” (TTVĐ, trang 16)
Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo VNCH cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông. (NBCT, trang 52)

Lòng tôi nặng nề chùn xuống. Là con người, là đồng loại, tôi ngỡ ngàng thương cảm cho các anh! Không phải bây giờ tôi mới thương các anh mà đã tư lâu rồi, từ Tết Mậu Thân kia, khi lôi chứng kiến những em bé bộ đội miền Bắc 15, 16 tuổi, miệng mếu máo, mặt mày dáo dác như con lạc mẹ, lạc cha, lúc đơn vị các em bị đánh tan tác; hoặc từng chùm hai người gục chết với cây đại liên phòng không, chân còn bị xích cứng với càng súng….! Nhưng chưa bao giờ lòng thương cảm của tôi đối với các anh lại biến thành nỗi đau xót cùng tột như bây giờ. Người lính miền Nam, đối diện với lực lượng xâm lăng miền Bắc, chỉ để tự vệ và giữ gìn cuộc sống êm ấm cho đồng bào. Quân Lực VNCH không dạy người chiến sĩ mang trong lòng sự thù hận nào. Không có quốc gia văn minh, có truyền thống nhân bản nào lại dạy người lính của họ bài học nhập môn là Lòng Thù Hận. Quân đội miền Nam, được đào tạo để bảo vệ xứ sở, bảo vệ chủ quyền, chứ không bảo vệ chủ… thuyết, nhất là loại chủ thuyết ngoại lai hảo huyền.

Tôi thương các anh, tôi không chịu nổi hình ảnh người thương binh, dù là thương binh ở hàng ngũ nào, bị đối xử còn thua con vật. Nhưng tôi làm được gì? Quyền lực của tôi rất giới hạn. Tôi sẽ giúp được các anh nếu các anh thật lòng và tạo điều kiện để tôi thực hiện được sự giúp đỡ đó.

Nhìn gần hai chục quả lựu đạn, đa số là nội hóa, nằm rải rác quanh trạm xá, tôi hỏi:

– Ai trang bị và xử dụng mấy quả lưu đạn này?

Sáu đôi mắt đổ dồn về người thương binh cụt chân, lớn tuổi. Tôi biết anh là người lãnh đạo của nhóm, một thứ “bí thư chi bộ”. Tôi nhìn anh chờ đợi. Anh liếc chung quanh: Lính Sư 21 bố trí dày đặc khắp trạm. Anh sợ sệt nhìn tôi, giọng run run:

– Thưa, thưa… ông! Bốn anh em chúng tôi ngồi còn không nổi, không ai xử dụng được vũ khí, có lẽ các anh bảo vệ bỏ lại.

– Các anh Bảo Vệ? Bao nhiêu anh và xử dụng vũ khí gì?

Thưa ông, tất cả có sáu anh với 5 khẩu AK47. Tên thương binh cụt chân đáp. Hắn thêm luôn:

– Các anh ấy đã chạy chừng mười phút, trước khi ông chỉ huy này đến, vừa nói hắn vừa chỉ Chuẩn Úy Liêm…. Tôi nói thật với các anh, và cũng nói thật với lương tâm của mình, rằng:

– Tôi muốn cứu các anh được sống bằng cách xin chuyển các anh về Quân Y Viện của chúng tôi để được điều trị. Nhưng để thực hiện được điều đó, các anh cũng phải thực tâm khai báo tin tức về những đơn vị đang trú đóng quanh đây hoặc là ít ra, các anh cũng phải chỉ cho chúng tôi vũ khí đạn dược đã chôn giấu.

Tên thương binh lớn tuổi có vẻ khổ sở, y thề thốt bán mạng với tôi rằng y không biết được gì vì thương tích quá nặng, mê man nhiều ngày. Hơn nữa, các anh giờ đây đã trở thành gánh nặng cho đồng đội, đâu còn được giao công tác gì mà biết được kế hoạch, đơn vị, và vũ khí?

Sau hơn 30 phút tiếp xúc và tra hỏi, tôi đánh giá có lẽ y chẳng biết gì thật. Tôi chạnh lòng nên thật tâm muốn cứu các anh nhưng không phải là không có điều kiện bởi vì quyền quyết định không phải do tôi. Trong cuộc đổi chác, các anh không có gì để trao nên cũng chẳng nhận được gì. Đó là sự trao đổi bình đẳng. Tôi rất lấy làm tiếc…

Tôi vừa định bảo An ra lệnh cho các Trung Đội tiếp tục lên đường thì chiếc loa nhỏ lại phát ra tiếng nói của ông Tiểu Đoàn Trưởng:

– Trường thành, Trường thành! Số Sáu gọi!

An bấm máy:

– Dạ Trường thành nghe số Sáu!

– Cho ông thầy anh đầu máy.

Tôi nhặt ống liên hợp trên tay An:

– Mười Một tôi nghe số Sáu!

– Có khai thác được gì không, Tango?

– Chẳng có gì cả, số Sáu, ngoại trừ gần 20 trái bình bát nội hóa.

– Mở chốt, thảy vô cho nó xài!

Sau câu nói là một tràng cười Ngừng mấy giây, ông dứt khoát:

– Thôi bỏ! Chiều lắm rồi! Cho em út tiếp tục zulu 2. Nhớ trước khi đi, đem “cất” hết bốn thằng đó nhé!

– Nhận rõ, số Sáu!

Chiếc loa nhỏ, âm thanh yếu, nhưng rõ ràng. Trong bán kính 3, 4 mét, bất cứ ai cũng nghe không sót tiếng nào. Đó là lệnh của cấp chỉ huy. Lệnh tại chiến trường: Lệnh Xử Bắn! Loại mệnh lệnh này chỉ có thi hành chứ không có bàn cãi.

4

Bọn thương binh Việt cộng nằm ngay dưới chân tôi. Người mang máy lại luôn luôn di chuyển sát cạnh Đại Đội Trưởng, nên từ chiếc loa đến cả bốn anh chỉ cách khoảng từ một mét đến hơn hai mét. Nghĩa là họ nghe rõ ràng!

Động từ “cất” là một tiếng lóng của chúng tôi, nhưng tiếng lóng này không khó hiểu, ai nghe cũng đoán được nghĩa. Hạ Sĩ I Thạch Chêm gỡ súng M 16 ra khỏi vai trong tư thế sẵn sàng. Anh là Tiểu Đội Trưởng Quân Báo, một đơn vị thuộc loại trinh sát của Đại Đội, có nhiệm vụ, nếu cần, sẽ thi hành những mission như vậy.

Trong khi ấy, cả bốn thương binh đều cố ngồi dậy, nhưng chỉ có hai anh gãy chân là ráng ngồi được, hai anh còn lại, dù cố gượng, nhưng quá đau đớn phải quỵ trở lại. Bốn anh, kẻ nằm người ngồi, giương bốn cặp mắt trắng dã, cặp mắt đứng tròng không còn thần sắc nhìn tôi. Khóe miệng thì co giật liên hồi. Đó có phải là phản xạ của cơ thể con người khi hay tin mình bị xừ chết chăng?

Mãi nhiều năm sau này trong trại cải tạo, chứng kiến sự gào thét, nhục mạ, hành hạ, hăm dọa, thủ tiêu của cán bộ quản giáo đối với người tù cải tạo sa cơ, tôi thường liên tưởng đến những đôi mắt này, đôi mắt đỏ, đôi mắt rưng rưng không còn thần sắc, và tôi hình dung lại thật rõ ràng…. đôi mắt rã rời của bốn người… thua cuộc ngày xưa, nay đã thuộc về… dĩ vãng!

Tôi nhìn từng anh từ đầu đến chân.
Tôi không có ý bỏ lên bàn cân để tính thử trọng lượng cuộc sống của một con người.
Tôi cũng không hề có ý đánh giá hoặc so sánh sinh mạng con người ở hai giới tuyến khác nhau, vì khi sinh ra vạn vật muôn loàí, tạo hóa ban cho họ tất cả một giá trị bình đẳng như nhau! Chỉ có cái chết vô nghĩa, sự hy sinh bị lợi dụng, chứ không có cuộc sống nào là bỏ đi cả.

Tia nhìn của tôi dừng lại ở anh thương binh lớn tuổi. Tôi bắt gặp anh cũng đang nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của anh chảy dài tư hố mắt trũng sâu. Tôi chớp mắt lại một giây. Mắt tôi không cay nhưng lòng tôi chua xót! Chua xót cho một kiếp con người! Chua xót cho những thân phận đầu thai lầm…. chủ thuyết!

Dưới chân tôi có vật gì nhúc nhích. Tôi nhìn xuống: một con cóc ruộng thật lớn ở dưới lớp rơm, nhoi ra nhảy và ngồi trên mũi giày tôi. Cóc đang lè lưỡi... cuốn mấy con giòi trắng bò lễnh nghễnh trên nền trại. Tôi rùng mình hất nhẹ cho cóc nhảy đi. Cùng lúc, một hình ảnh vô cùng tội nghiệp của giống vật lưỡng thể lưỡng cư, vừa sống được dưới nước cũng sống được trên cạn này, gây xót xa trong lòng tôi. Đó là hình ảnh mấy chú cóc, mấy chú ếch khi bị cắt cổ làm thịt, chúng luôn luôn dùng hai chân chõi mạnh lưỡi dao để đẩy ra, chõi cho đến khi đầu bị cắt lìa, hai chân vẫn còn chõi. Thật thảm thương!

Tôi đã có quyết định.

Tôi nói với… bốn cặp mắt thất thần đang nhìn tôi:

– Các anh đã nghe rõ rồi, tôi được lệnh phải bắn các anh trước khi di chuyển. Nhưng, tôi không làm điều đó vì hai lý do sau đây: thứ nhất, tôi không có thói quen đánh người bị trói, nên cũng không giết người đã bị thương nặng, bị loại khỏi vòng chiến. Lương tâm và truyền thống đạo đức không cho phép tôi thực hiện điều đó. Người chiến sĩ chân chính không bắn đối phương khi đối phương đã xuôi tay không còn vũ khí! Hơn nữa, hình ảnh thê lương của các anh gây ra một sự hụt hẫng thảm hại trong suy tư của tôi. Tôi không thể tin rằng: là con người với nhau, tầng lớp này lại có thể gạt gẫm và đọa đày tầng lớp kia và tầng lớp kia lại mù quáng, điên dại, lao thân vào chỗ chết để phục vụ cho một tham vọng, một chủ thuyết mơ hồ, xa vời và không tưởng!

Tôi không hề làm công tác Chiến Tranh Chính Trị trong lúc này và cũng không có ý tranh luận với các anh về chủ thuyết, cái nào ưa việt, cái nào tệ hại. Công tác đó thuộc bộ phận khác, không hiện diện với đơn vị tác chiến. Tôi chỉ muốn bày tỏ với các anh một điều hết sức giản di rằng: là người lính, khi sức lực còn khang kiện, chúng ta cống hiến sức lực đó cho quốc gia, cho lý tưởng. Chẳng may khi bị thương tật, chúng ta đòi hỏi phải được chăm sóc và điều trị tới nơi tới chốn. Thứ hai, hoàn cảnh của các anh làm chúng tôi kinh tởm, kinh tởm trước hết cho những người lãnh đạo các anh, và cũng kinh tởm cho chính các anh nữa! Tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nuôi những loại gia cầm như: mèo, chó, trâu, bò… Khi khỏe mạnh chúng giúp đỡ cho chủ, nhưng khi chúng bị bệnh hoạn hay thương tật, người chủ cũng tận tụy săn sóc chữa chạy cho chúng như đã săn sóc một thành viên thân thiết trong gia đình, có khi còn vất vả hơn vì con vật vốn không biết… nói! Tôi thành thật xin lỗi bốn anh khi phải đưa ra sự so sánh này, một sự so sánh tôi biết dù ít dù nhiều cũng làm thương tổn đến sự tự ái của các anh, nhưng tôi mong có dịp các anh sẽ suy nghĩ về lời tôi. Tôi không có bất cứ điều kiện nào khi tha cho các anh, kể cả điều kiện dạy… đời các anh. Tôi phải nói hết như thế để bốn anh hiểu và cũng để các chiến hữu của tôi hiểu về quyết định của tôi.

Nói xong, tôi day qua Thạch Chêm, chỉ tay ra góc vườn:

– Anh bước ra góc kia và bắn hai băng M16 vào bụi bình bát đó! Còn Lư, chú mày báo cho ông số Sáu biết là mình đã cất xong mấy tên VC và chuẩn bị lên đường đây.

Sau khi chứng kiến Chêm trút hết hai băng M16 vào bụi bình bát xử bắn giả, bốn tên thương binh Việt cộng mới tin rằng tôi tha chúng thật. Tên lãnh đạo nói với tôi trong nỗi xúc động nghẹn ngào:

– Thưa ông, tôi biết ông là người chỉ huy cánh quân này. Tôi không thấy ông đeo lon nên không hiểu cấp bậc của ông, nhưng chắc chắn ông phải là sĩ quan, một tầng lớp mà chúng tôi vừa thù, vừa sợ. Tôi được học tập rằng sĩ quan Quốc Gia gặp chúng tôi là tàn sát, trẻ không tha, già không thương… Đây là lần đầu tiên tôi gặp được một sĩ quan bằng xương bằng thịt và thấy rằng ông đã không phải con người ghê gớm như vậy. Ông không giống với hình ảnh những sĩ quan sắt máu mà chúng tôi đã có trong ý tưởng lâu nay. Xin thay mặt cho ba anh em, tôi chân thành đội ơn ông…

Đưa tay ngăn anh lại, tôi đáp:

– Tôi không dám nhận sự cảm ơn! Tôn chỉ làm điều mà lương tâm và bổn phận hướng dẫn tôi phải làm. Khi tha chết cho các anh, tôi đã vi phạm vào Huấn Lệnh Quân Sự của quân đội tôi tại mặt trận. Có thể tôi sẽ bị kỷ luật, hoặc bị đưa ra Tòa Án Binh không chừng, nhưng tôi vẫn làm vì tôi chưa đánh mất nhân tính và vẫn tin ở chủ trương: “Đem đạo nghĩa để thắng hung tàn” của Quân Đội tôi. Tôi đã suy nghĩ chín chắn, đã cân nhắc nặng nhẹ giữa đạo đức và lương tâm con người với trách nhiệm mà quân đội giao phó và tôi hoàn toàn chấp nhận mọi hậu quả do quyết định của mình. Tôi chỉ mong rằng các anh có dịp hiểu biết rõ hơn về chúng tôi và quân đội Quốc Gia, như anh vừa nói, để đối chiếu với những điều các anh đã được học. Chỉ có vậy! Thôi nhé! Xin chào. Chúng tôi cần phải đi.


– Tôn chỉ làm điều mà lương tâm và bổn phận hướng dẫn tôi phải làm. Khi tha chết cho các anh, tôi đã vi phạm vào Huấn Lệnh Quân Sự của quân đội tôi tại mặt trận. Có thể tôi sẽ bị phạt kỷ luật, hoặc bị đưa ra Tòa Án Quân Binh không chừng, nhưng tôi vẫn làm vì tôi chưa đánh mất nhân tính và vẫn tin ở chủ trương: “Đem đạo nghĩa để thắng hung tàn” của Quân Đội tôi.

Tôi đã suy nghĩ chín chắn, đã cân nhắc nặng nhẹ giữa đạo đức và lương tâm con người với trách nhiệm mà quân đội giao phó và tôi hoàn toàn chấp nhận mọi hậu quả do quyết định của mình. Tôi chỉ mong rằng các anh có dịp hiểu biết rõ hơn về quân đội Quốc Gia, để đối chiếu với những điều các anh đã được học.

Tên cán bộ ráng nói thêm:

– Xin cho tôi một câu chót…

Tôi dừng lại nhìn anh:

– Anh nói đi!

Tên cán bộ câu hai tay để trước bụng, nói nhỏ:

– Chúng tôi xin thành tâm cầu mong mọi điều may mắn, bình an cho ông suốt cả cuộc đời. (!?!)

Có lẽ đây là câu nói xúc động phát ra từ tấm lòng chân thật của anh.
Tôi gật nhẹ đầu cảm ơn và chào anh ta! Tôi mỉm cười khi suy nghiệm về câu cầu chúc của anh ta. Tôi may mắn bình an mỗi lần “tao ngộ” chiến với phía các anh, thì các anh sẽ ra sao?

5

Đến đây, tôi nghĩ mọi chuyện đã xong, đã mất rất nhiều thời giờ. Buổi chiều cũng sắp về, buổi chiều ở vùng rừng rậm xuống rất nhanh và chỗ trú quân đêm, trong vùng đất xa lạ này, phải được quan sát khi trời còn sáng. Tôi báo cáo lên Tiểu Đoàn: công tác đã thi hành xong và xin tiếp tục di chuyển.

Photo: Soldati sudvietnamiti attraversano una zonna allagata nella provincia meridionale di Camau, 24 agosto 1962. (AP Photo/Horst Faas)
Hai cánh quân song song lục soát về hướng quận lỵ Thuận Nhơn, một quận lỵ đang bị áp lực rất nặng của Cộng quân.

Chúng tôi theo lộ trình cũ. Đi chưa được 50 mét thì ông số Sáu lại gọi tôi: anh dừng lại cho em út bố trí giữ an ninh. Hai “thằng” cố vấn đang lội sông qua bên anh đó. Nó muốn ngắm nghía trạm xá của VC.

Tôi… chới với ngẩn người. Vậy là bể rồi! Nhưng không còn cách nào khác! Cho các trung đội dừng quân xong, tôi và BCH đứng ở bờ sông đợi hai ông… Cố. Khúc sông này của con rạch Cai Tổng Cang lạ đời thật: sông rộng hơn 40 mét, nước trôi lững lờ, vậy mà khúc cạn, khúc sâu như chính lòng dạ đổi thay khi vầy, khi khác của con người. Khó đo, khó đoán, khó lường! Dò sông dò biển dễ dò!
Nhìn mấy người lính đang lội qua, mực nước chỉ tới vai, còn hai ông Mẽo thì chỉ tới ngực. Phải chi nước ngập khỏi đầu như khúc trên kia thì đâu có chi rắc rối!

Thiếu Tá Calvin, Cố Vấn Trưởng, và Trung Úy Hayes, Cố Vấn Phó, lên bờ và bước lại phía tôi. Tôi đứng dậy bắt tay hai ông. (Gặp nhau hằng ngày và ở vùng hành quân, chúng tôi ít khi chào kính). Tôi bảo Thạch Chêm dẫn hai ông đi đến chỗ đó. Tôi vẫn ngồi yên ở bờ sông hút thuốc. Tôi biết sẽ có… chuyện, nhưng tôi vẫn giữ quyết định vừa rồi. Tôi thấy không cần giải thích gì thêm.
Các Cố Vấn Mỹ ở đơn vị tôi họ cũng rất lịch sự và hiểu vị trí của mình.. Từ ngày về đơn vị đến giờ, tôi chưa từng thấy họ tham gia bàn thảo kế hoạch hành quân, điều động hay chỉ huy ai cả. Họ chỉ được yêu cầu “cố vấn” chúng tôi xin trực thăng võ trang, xin phi tuần, xin tản thương, xin hỏa châu….v.v… Nghĩa là chỉ có xin dùm đủ thứ! Công tác đó họ làm kết quả nhanh gấp mấy lần mình! Ít nhất thì ở đơn vị tác chiến cấp Tiểu Đoàn, Cố Vấn đã không dám phát huy vai trò “chủ Mỹ” của mình một cách lộ liễu?

Tôi được lệnh phải bắn các anh trước khi di chuyển, nhưng tôi không làm điều đó vì hai lý do sau đây: thứ nhất, tôi không có thói quen đánh người bị trói, nên cũng không giết người đã bị thương nặng, bị loại khỏi vòng chiến.
Thứ hai, hoàn cảnh của các anh làm chúng tôi kinh tởm, kinh tởm trước hết cho những người lãnh đạo các anh, và cũng kinh tởm cho chính các anh nữa! Tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nuôi những loại gia cầm như: mèo, chó, trâu, bò… Khi khỏe mạnh chúng giúp đỡ cho chủ, nhưng khi chúng bị bệnh hoạn hay thương tật, người chủ cũng tận tụy săn sóc chữa chạy cho chúng như đã săn sóc một thành viên thân thiết trong gia đình.

Sau khi quan sát, chụp hình mấy vị trí, hai ông quay trở về. Khi đến chỗ tôi, Thiếu Tá Calvin đưa ngón tay cái lên trời và nói:

– Hi, Commander! You did a good job!

Tôi mĩm cười chào ông và nói vỏn vẹn hai tiếng: Thank You. (Tôi không hiểu ý ông qua hai chữ “good job” là good ở khía cạnh nào? Good khi khám phá ra trạm xá VC, hay good vì bắn mấy loạt M16 mà bốn tên thương binh địch vẫn còn sống nhăn?)
Đằng kia, bốn ánh mắt tê dại nhìn về hướng tôi.
Các anh tin rằng lần này mới là chết thật! Ông “chủ” Mỹ đã đến, làm sao còn sống được nữa? Sĩ quan Ngụy, được mấy cái đầu, mà dám cãi?
Mấy anh thật chẳng hiểu gì về Quân Đội VNCH cả. Khi được tiếp xúc với chúng tôi, mắt các anh sẽ mở trừng trừng, ngạc nhiên từng chập, mở cho đến độ rách cả khóe mắt!

Tôi biết bốn anh rất muốn nói chuyện với tôi trong giờ phút thời gian như dừng lại này. Nhưng tôi không có gì để nói thêm với các anh. Chuyện các anh tôi đã quyết định xong! Tôi là “Tư Lệnh” của mặt trận bờ Bắc này, là một tư lệnh nhỏ xíu thôi nhưng là người có quyền quyết định cao nhất tại đây. Không ai có quyền quyết định thay cho tôi, khi tôi chưa rời đơn vị.

Tôi ngồi chờ… bên kia sông. Tôi biết thế nào cũng sẽ có bão táp tới. Tôi chờ nghe tiếng… “đức” của ông Tiểu Đoàn Trưởng.

Năm phút sau, “bão” tới:

– Tango! Nói cho tôi biết: anh hát cái bản gì đây? Mấy thằng Tây về báo cáo rằng bốn thằng VC còn ngồi hút Quân Tiếp Vụ bên ấy. Vậy là sao? anh chống lệnh tôi? Anh chỉ huy ở đây hay tôi. Nói nghe?

Tôi làm thinh để cho ông xì bớt hơi. Trong bốn Đại Đội Trưởng, tôi là người có cấp bậc thấp nhất, Thiếu Úy, nhưng tôi cũng là người tương đồng với ông nhiều vấn đề, trong đó phải kể cả những vấn để gay go nguy hiểm mà ai cũng chê, nhưng tôi nhận! Có gì đâu! Mình chẳng có chi bận bịu! Tử sanh hữu mạng mà! Tôi chỉ lo các anh em tôi trong Đại Đội sẽ phản đối những cái gật đầu hơi nhiều của tôi thay vì bắt thăm chia đều. Thế nhưng chuyện đó chưa xảy ra vì họ tin tôi, thương tôi. Họ cũng biết tôi rất thương họ và cũng không đến đỗi… ngu lắm!

Mấy mươi giây trôi qua, không nghe tôi trả lời, ông số Sáu hỏi lớn:

– Tango đâu rồi! Anh có nghe tôi không??

Tôi cầm ống liên hợp, thẳng thắn và chân tình đáp:

– Tôi đang nghe số Sáu. Trước hết, tôi rất tiếc phải nói câu xin lỗi, nhưng thật tình tôi không hề có ý qua mặt hay chống lại lệnh của số Sáu! Đây chỉ là vấn đề lương tâm và đạo đức con người, một con người có lẽ không đủ nhẫn tâm để giết đồng loại đang bị thương tích trầm trọng. Ngoài ra, tôi cũng không dám quên những bài học ở Quân Truờng, quy định về cách đối xử với thương binh địch. Do đó, xin số Sáu cho phép tôi giữ quyết định đã ban hành về số phận của bốn thương binh địch. Tuy nhiên, nếu số Sáu cho rằng việc bắn bỏ họ là điều không thể đảo ngược được, thì đó là thẩm quyền của số Sáu. Tôi không chống đối. Đại Đội tôi xin chờ và xin số Sáu cho vài Trinh Sát hay Quân Báo Tiểu Đoàn qua đây thực hiện công tác hành quyết. Tôi muốn rằng cho đến chết người lính cộng sản vẫn giữ hình ảnh người chiến sĩ QLVNCH luôn luôn bảo tồn chữ tín.

Nói xong tôi giữ combinet để chờ ông.
Nhiều phút trôi qua, có lẽ ông đang suy tư hoặc đang chỉ thị cho Trinh Sát, Quân Báo.
Tôi trả ống liên hợp lại cho Lữ. Lữ vừa cài cái móc của ống liên hợp lên giây ba chạc thì tiếng ông Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị cho âm thoại viên với giọng dịu nhẹ hơn:

– Thôi, Lê Lai, nói với Thầy anh: số Sáu đồng ý cho Mười Một mua cái đức cho vợ con sau này. Nhưng mà… bắn… thêm vài loạt đạn nữa, rồi zulu. Lưu ý: Vị trí đã bị lộ!

Lữ nhìn tôi, tôi nhìn Lữ. Hai thầy trò trao đổi nụ cười nhẹ nhỏm! Lữ le lưỡi:

– Có lẽ chỉ có ông Thầy là được số Sáu chìu và nể như vậy mà thôi.

6

Tôi nhìn sang bên kia sông, hướng Tiểu Đoàn. Chiều xuống thật nhanh. Những tia nắng yếu ớt cuối cùng còn rơi rớt trên ngọn rặng bình bát bạt ngàn. Gió lay nhè nhẹ. Xa xa bên kia bờ, chỗ rặng cây cao, đàn cò bay về nơi trú đêm, điểm trắng cả chòm cây xanh như những bông hoa dại, âm thầm nở, âm thầm tàn trong ngôi vườn bỏ hoang không người tới lui săn sóc.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chúng tôi lại lên đường. Không như đàn cò về lại chòm cây cao, chúng tôi không có chỗ trú nhất định cho mỗi đêm…
Ba mươi ngày trong tháng thì hơn hai phần ba số đêm đó chúng tôi ngủ hoang, ngủ bậy như vậy cho người dân lành được ngon giấc trong chăn ấm, nệm êm. Chúng tôi không có ý so sánh những hình ảnh đối ngược của hai nếp sống để kể lể công lao, hay cay đắng ngậm ngùi, nhưng chúng tôi mong rằng sự hy sinh của người chiến sĩ trong cuộc chiến vừa qua không bị mỉa mai và quên lãng.

Chúng tôi lại lên đường. Không như đàn cò về lại chòm cây cao, chúng tôi không có chỗ trú nhất định cho mỗi đêm… có thể là một vùng bình bát, có thể là một khu vườn hoang, có thể là một đám rẫy, hay cũng có thể là một bãi… tha ma. Ba mươi ngày trong tháng thì hơn hai phần ba số đêm đó chúng tôi ngủ hoang, ngủ bậy như vậy cho người dân lành được ngon giấc trong chăn ấm, nệm êm. Chúng tôi không có ý so sánh những hình ảnh đối ngược của hai nếp sống để kể lể công lao, hay cay đắng ngậm ngùi, nhưng chúng tôi mong rằng sự hy sinh của người chiến sĩ trong cuộc chiến vừa qua không bị mỉa mai và quên lãng.

Phần Phụ Chú:
Sau biến cố đó, tôi không bị bất cứ một biện pháp chế tài kỷ luật nào, nhưng một tuần lễ sau, khi tập trung ra lằn chỉ đỏ, ông Tiểu Đoàn Phó xuống Đại Đội tôi chủ tọa lễ bàn giao chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 cho một sĩ quan khác! Sự trừng phạt, nếu đúng, chỉ có tính cách tượng trưng. Có điều cho đến nay, sau đúng 32 năm, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn không kết luận dứt khoát được là trong hai quyết định của ông Tiểu Đoàn Trưởng và của tôi: Ai đúng, ai sai – Đúng sai trong hai lãnh vực: giữa lương tâm và truyền thống nhân ái của dân tộc với sự tha chết cho giặc, “dưỡng hổ di họa”?

Cuộc chiến đã chấm dứt đúng 1/4 thế kỷ. Sau nhiều năm bị đọa đày trong trại cải tạo, sau hiểm nguy của gia đình qua chuyến vượt biên bằng đường biển, sau những tháng năm bình tỉnh nhìn lại cuộc chiến mà mình đã đổ máu xương để trang trải và đã bị phản bội, bị bỏ rơi thê thảm… nếu một mệnh lệnh như xưa được ban hành, tôi vẫn lấy cái quyết định như đã từng quyết định trong rặng bình bát! Đó là lương âm, là phẩm giá của người lính Việt Nam Cộng Hòa!

Tiểu Đoạn này được viết rất bất ngờ, sau khi người viết đọc được bài “Đôi Thoại Với Nhà Văn Trong Hàng Ngũ được cho Thắng Trận” của Trần Hoài Thư trên trang Internet, viết “kỷ lục” chỉ trong hai ngày để phổ biến trên truyền thông nhân buổi ra mắt tác phẩm “Về Hướng Mặt Trời Lặn” của anh Trần Hoài Thư tại Houston. Không ngờ, sau khi BNS Dân Ta, BNS Việt Báo ở Houston, rồi Nhật Báo Người Việt, Đặc San KBC ở Nam California, Đặc San Võ Khoa Thủ Đức Washington DC, phổ biến rộng rãi bài này, một vài cuộc hội thảo đã diễn ra quanh một vài chủ đề mà người viết đã “đụng” tới trong tác phẩm!

Hai nhà văn “lớn” cộng sản/Việt cộng, Dương Thu Hương với tác phẩm “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết...” (TTVĐ, trang 16)
Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo VNCH cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông. (NBCT, trang 52)

Nay, nhân khi bài viết này được đặt đúng vị trí thời gian trong tác phẩm để xuất bản, người viết muốn minh xác: tác giả không có ý định dùng mẩu chuyện thật trên đây để phản bác lại những điều hoang tưởng, xuyên tạc chiến sĩ QLVNCH của hai nhà văn “lớn” cộng sản/Việt cộng là Dương Thu Hương và Bảo Ninh. Dương Thu Hương với tác phẩm ồn ào một dạo “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
“… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết...” (TTVĐ, trang 16).

Còn Bảo Ninh với tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng gán cho Thám Báo VNCH cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ, vất xuống sông:
“Ba nhỏ đó, trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi. Mấy nhỏ khóc quá trời.” (NBCT, trang 52)
Tôi không hiểu sao các nhà văn Việt cộng lại luôn gán ghép người lính miền Nam vào hành động thích hãm hiếp và “lắt xẻo” mấy bộ phận của đàn bà?



Tôi không hiểu sao các nhà văn Việt cộng lại luôn gán ghép người lính miền Nam vào hành động thích hãm hiếp và “lắt xẻo” mấy bộ phận của đàn bà?
Tôi không nói người lính miền Nam là một thứ Khổng Tử, nhưng tôi biết chắc rằng không một quân nhân nào của chúng tôi đủ hứng thú để làm cái trò dị hợm, kỳ cục (hãm hiếp dã man còn lắt xẻo) tại chiến trường như Dương Thu Hương đã mô tả. Tôi mong bà Dương Thu Hương và ông Bảo Ninh đọc được truyện này.

Hai mươi lăm năm sau cuộc chiến, đã đến lúc phải trả lại cái gì thật sự của lịch sử cho lịch sử. Tôi không nói người lính miền Nam là một thứ Khổng Tử, nhưng tôi biết chắc rằng không một quân nhân nào của chúng tôi đủ hứng thú để làm cái trò dị hợm, kỳ cục (hãm hiếp dã man con lắt xẻo) tại chiến trường như Dương Thu Hương đã mô tả. Tôi mong đọc được những bài viết nói lên sự thật của những người cầm bút, ở cả hai phía, không bị chi phối bởi bất cứ mặc cảm, dù là tự tôn hay tự ti; bởi sự cám dỗ vật chất hay bởi bất cứ thế lực nào.

Tôi mong bà Dương Thu Hương và ông Bảo Ninh đọc được truyện này. Tôi lặp lại lần nữa là tôi không hề có ý định viết chuyện để bênh vực người lính Miền Nam, hoặc để phản bác lại hai tác phẩm của ông và bà vì một lý do rất đơn giản là: tôi không hề là một nhà văn, nên cũng không có tham vọng tranh danh, đoạt lợi bằng ngòi bút, theo lập luận đời thường: “đánh” một người nổi danh để được nổi danh hơn!

Tôi chỉ là người lính chiến trong cuộc, chứng kiến sự thật, kể lại sự thật, một sự thật nhỏ bé, trong vô vàn sự thật to tát, từ cuộc-chiến-tự-vệ của Miền Nam, một cuộc chiến bị bóp méo, bị xuyên tạc, bị sỉ vả vô tội vạ bởi những ngòi bút đứng trong hàng ngũ của kẻ thắng trận!

Photo:
Trở Lại Mật Khu Sình Lầy
- Nguyễn Bửu Thoại

Ông Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Trưởng trong truyện này hiện nay đều định cư tại thành phố Houston sau nhiều năm trong Trại Cải Tạo (viết hoa). Còn bốn anh thương binh trong truyện có lẽ hiện vẫn còn sống, nếu không đủ cả bốn, cũng còn hai, hay ba. Đây là một ấn tượng sâu sắc trong đời các anh nên, chắc chắn, các anh phải nhớ. Nếu truyện này được phổ biến trong nước và thật sự các anh là người có chút liêm sỉ, các anh sẽ không thể quay lưng lại với sự thật của “một thời” quá khứ.

Nguyễn Bửu Thoại

Trở Lại Mật Khu Sình Lầy
(In lần thứ 2, tháng 12-2000, trang 363)
1) củi đuốc = vũ khí.
2) zulu = d = di chuyển.

http://nhinrabonphuong.blogspot.com.au/2018/03/oi-mat-nguoi-bi-xu-ban-trong-rang-binh.html
https://dongsongcu.wordpress.com/2018/03/07/doi-mat-nguoi-bi-xu-ban-trong-rang-binh-bat-nguyen-buu-thoai/



 

^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^

 

Thằng Việt cộng

1

https://i.pinimg.com/originals/39/3a/c0/393ac09b15e8ecbb1e3357141d79c356.gif


Những thằng/con Việt cộng lòn đường rừng len vào kinh, kênh, rạch, mương, sông, ao hồ, lạch vào miền nam.

Việt Cộng luôn trà trộn bám theo dân chúng để di chuyển, chiến đấu. Chúng thường khống chế cưỡng ép dân làm tấm khiên che chắn để hạn chế thiệt hại, vì chúng biết rằng quân đội Mỹ và QL VNCH không bắn chúng nếu thấy thường dân nhất là người già, phụ nữ, trẻ em.
Tuy nhiên, trong những tình huống bất khả kháng; đồng bào bị thương vong vì đạn lạc, bom pháo là điều không thể tránh khỏi.

Quân đội Mỹ gọi những sự việc như vậy là "Collateral damage" - Tổn thất ngoài dự kiến hay tổn thất phụ trội, còn QL VNCH thì nói là thiệt hại nhân mạng ngoài ý muốn.


2

https://slideplayer.com/slide/3875645/13/images/5/Vietcong+Tactics+The+Vietcong+blended+into+the+civilian+population+and+vanished+after+they+struck+their+targets..jpg


3

Mật khu lõm hay chiến khu Đ (đê) chỗ núp, ẩn của những đường lòn, ăn thông trong lòng đất trong các lỗ Củ Chi của Việt cộng

https://slideplayer.com/slide/260408/1/images/11/The+tunnel+system.jpg



4
Hình: Những thằng Việt cộng từ miền bắc vượt vĩ tuyến vào nam để gây chiến, giết chóc người trong nam.
Hình) thằng Việt cộng tạ ngọc phách trần độ tập kết vào nam sống trong Mật Khu lõm ở Củ Chi


5
Lính VNCH truy lùng và đốt nơi sào huyệt, ẩn nấp của Việt cộng/VC (vi xi). Sau trận đó, VC cho dời nơi ẩn trú đi nơi khác, vào mật khu lõm khác.


. In May, the rest of the 4th Division of US conducts border missions and participates with the South Vietnamese army (ARVN), the incursion of the U.S. Army in Cambodia with the aim of destroying the Staff central military and political communist Vietcong guerrillas (COSVN), and its bases of supply.


Dương Thu Hương với tác phẩm “Tiểu Thuyết Vô Đề” đã mô tả người lính Thám Báo QLVNCH như sau:
    “… Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Cũng có thể họ đi kiếm măng… rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết...” (TTVĐ, trang 16)
Bà gán cho Thám Báo VNCH cái tội bắt ba cô gái trong mật khu rồi hãm hiếp, sau đó giết họ rồi còn cắt xẻo cửa mình, vú rồi quăng liệng vung vãi các bộ phận sinh dục đó, vất xuống sông. (NBCT, trang 52)

 

Miệng bà Dương Thu Hương nói: Bà khóc như cha chết mẹ chết khi biết mình bị miền bắc lừa gạt đi giải phóng/xâm chiếm miền nam. Thất vọng vì Miền nam giầu có và văn minh nhưng bị miền bắc lạc hậu và nghèo đói chiến thắng.
Nhưng khi tay bà Dương T H viết về Quân Lực VNCH, thì bà mô tả người lính Thám Báo QL VNCH, rằng:
"... Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng, xác đàn bà, vú và cửa mình bị xẻo, ném vun vãi..."

Đừng nghe Việt cộng nói, mà hãy nhìn Việt cộng làm.
Bà Dương Thu Hương lên án "tội ác" của lính VNCH cho hậu thế.
Sách bà Dương Thu Hương sẽ tồn tại trên dòng chữ lâu dài hơn hay cái miệng của bà ta tồn tại hơn hơn?

Lúc ấy, Bà DTH vừa được qua Pháp sống để hưởng tự do, bà được Việt cộng cho phép phát biểu rầm rộ, vì Việt cộng muốn câu nói của bà mua lòng người Việt hải ngoại để bà làm nhà văn công cho Việt cộng sách bà, lời nói bà, tên bà được nổi tiếng, ồn ào một thời, vừa đánh bóng tên tuổi bà và 'nựng yêu' đảng của bà, vừa làm nên người nổi tiếng để bán sách và vừa hướng dẫn cái đầu của đám hải ngoại "xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải, không nhắc quá khứ, và Việt cộng không có lỗi gì, rằng thì là mà... Việt cộng họ ác nhưng vì họ là nạn nhân của đảng cộng sản."
Huề vốn! Việt cộng không gây tội ác gì cả. Anti dotted! Bà Dương T. H. là liều thuốc giải độc cho bọn bắc kỳ Việt cộng.
Đảng gởi bà ra ngoại quốc với sứ mạng nhổ cỏ, phát quang con đường cho đám hậu sinh Việt cộng sau này sẽ tuồn ra hải ngoại và ngoại quốc, không bị nhắc đến tội ác và tội phá hoại của cha ông chúng và đảng của bà.

Tên tội đồ Việt cộng văn nô Dương Thu Hương tự mình biến thành nạn nhân của việc tội đồ đó của nó.


1



2
Photo:


3



4


bìa sách
1
Photo:
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg_VlaI5_6WQvrkqkH4K6qh0A87Ly9G5w-42kVxwQoGQ3X2iumA7rP5bCTa9gW7LuDumdYmSpW8iXe52PL_gzF0s2mjTZNfGvaBjjxy9-GSYauPvLUb_TS-fP7WZslHVkAk_jg6uPOQEnY/w510-h732-no/


tím
2

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgj3-gNEXjztn-5pV2JWBphG3EGWyJQyPw7iz65HoXbFxzu0UtRxMc4JYqkBEhfFF_JSCzde3A87Pm7K8sg2HVkhCViXYlq1aYKtKs3cpAlsi4FPCpaf0AgzPcsgsSMZZ2n_v9IGV1NSmo/w135-h242-no/

nâu
3

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgMA9i_tgnxcwvpLHuZsh9kK8GsAvaQhF0isBKiZKfNbPh__TTU9LC_dT_s4FEOxFRkTCDFRpeCHeC5ejuyUKv6XsVTHHAYoUdPh10D6O5qVey_UJo3RW-qQO3gM37TRGYfNcFs-iNqjEI/w562-h318-no/

nâu lợt

https://d3lfwsftijx8i.cloudfront.net/patterns/du15917-582lo.jpg

lá cây

4

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhlWPOj9GU4kqF2h9mtQ1tnVHPGkeMb_wWThuGzRnTj-Uo-5N2MM0Uc_GRXo5Yp3dJ3rSbvY0RPOfd3nKprR9TdMld4p_mCx3KoFrJnuNw77l-heBETjydnAr2PtzbBzF4WbwLPGsFUg9M/s366-no/