Monday, September 19, 2016

 



http://themesbybrendarose.multiply.com/

Friendship Comments & Graphics
~Magickal Graphics~


themesbybrendarose


2

33


34



https://scontent-sjc3-1.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/307928106_400461415601695_5550242506370854823_n.jpg?_nc_cat=103&ccb=1-7&_nc_sid=efb6e6&_nc_ohc=6fLIGDswAFMAX_wT8y5&_nc_ht=scontent-sjc3-1.xx&oh=00_AfChahoo45_LCXadPr5TatzaU9lTSmTNUwAvkHlNoVVUTg&oe=65B5A20B

4



00000000000000000000000000000

điêu ngoa, gian xảo, trí trá

Hani first touched on this almost two years ago in his Color Names, codes and much more post here in Multiply Design. At that time IE did not support RGBA colors and browser support in general was quite limited so the information may have been forgotten. There was no point in using code which the majority of browsers in use couldn't understand. Now the use of RGBA colors is much more practical so here is a refresher course on what they are and how to use them. RGBA Colors, Opacity Plus Color All In One

Nói đến chuyện người Việt trong nước đi du lịch nước ngoài mới thấy sự xuẩn ngốc đến tận cùng của loài Việt Cộng.

Xét về mặt kinh tế, thật đơn giản để hiểu rằng đi du lịch nước ngoài (trừ dạng làm điếm đi bán dâm ở ngoại quốc) thì sẽ phải tiêu xài hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ tại nước ngoài, nghĩa là người đi du lịch sẽ mất đi tiền bạc, của cải dưới dạng USD hoặc vàng cho dù giá niêm yết của các công ty dịch vụ du lịch đối với những chuyến đi này là VND hay USD. Thế mà mấy thằng/con Việt Cộng ngu dốt đến mức tự huyễn hoặc rằng khi liệt kê giá các chuyến du lịch kia bằng tiền Hồ thì sẽ giảm được "thất thoát ngoại tệ (USD)".

Điều tương tự cũng xảy ra đối với các mặt hàng điện tử, máy điện toán. Chúng ngốc nghếch đến mức cho rằng bảng giá máy điện toán ghi bằng VND thì không dùng ngoại tệ để nhập hàng từ Đài Loan, Singapore.

------------------------



klematis
http://i870.photobucket.com/albums/ab261/mayman11/bgi0207a.gif

klematis

klematis

 

---------------------

#f0e1ff

 

255
204
255
FFCCFF
255
153
255
FF99FF
204
153
204
CC99CC
204
153
255
CC99FF
255
102
255
FF66FF
204
102
204
CC66CC
153
102
153
996699
204
102
255
CC66FF
153
102
204
9966CC
153
102
255
9966FF
255
51
255
FF33FF
204
51
204
CC33CC
153
51
153
993399
102
51
102
663366
204
51
255
CC33FF
153
51
204
9933CC
102
51
153
663399
153
51
255
9933FF
102
51
204
6633CC
102
51
255
6633FF
255
0
255
FF00FF
204
0
204
CC00CC
153
0
153
990099
102
0
102
660066
51
0
51
330033
204
0
255
CC00FF
153
0
204
9900CC
102
0
153
660099
51
0
102
330066
153
0
255
9900FF
102
0
204
6600CC
51
0
153
330099
102
0
255
6600FF
51
0
204
3300CC
51
0
255
3300FF

 

**************************************************************

 

**************************************************************

 

형

 

1

flam12

2

flam12

3

flam12

4

5

flam12

6

flam12

[]

7

flam12

8

flam12

9

flam12

10

scorpio9412

11

flam12

12

flam12

13

flam12

14

flam12

15

flam12

16

 

 

rgba(76, 175, 80, 0.3) Green background with 30% opacity

 

 

1

flam12

2

flam12

3

flam12

4

5

flam12

6

flam12

[]

7

flam12

8

flam12

9

flam12

10

scorpio9412

11

flam12

12

flam12

13

flam12

14

15

16

형

English Mandarin Vietnamese Japan Korean
0 zero 零 Líng 空 không / lẻ 零 rei 零 형 yeong
1 one 一 yi 一 Nhất 𠬠 một 一 ichi 一 il
2 two 二 èr 二 nhị/nhì 𠄩 hai 二 ni 二 i
3 three 三 sam 三 Tam 𠀧 ba 三 sam 三 sam
4 four si 四 tứ/tư 𦊚 bốn am m
5 five w 五 Ngũ 𠄼 năm m m
6 six m 六 lục 𦒹 sáu m m
7 seven m 七 thất m m
8 eight m 八 bát m m
9 nine m 九 cửu 𠃩 chín m m
10 ten m 十 thập 𠄼 mười m m
11 eleven m thập nhất m m
12 twelve m thập nhị m m
21 twenty-one m hai mươi mốt m m

------------------------------------

"ông" 翁, "bà" 婆,

the Nôm character 𠬠 (một 'one') comes from the right part of the Chinese character 没 (Sino-Vietnamese reading: một 𠬠 ).[77]

As in the Chinese writing system, the most common kind of invented character in Nom is the phono-semantic compound, made by combining two characters or components, one suggesting the word's meaning and the other its approximate sound. For example,[72]



  • 𠀧 (ba 'three') is composed of the phonetic part

    巴 (Sino-Vietnamese reading: ba) and the semantic part 三 'three'. 'Father' is also ba, but written as

    爸 (⿱父巴
    )

    while 'turtle' is con ba ba 昆蚆蚆.


  • 本 𦊚 lang="vi" title="Vietnamese-language text">bản ('root', 'foundation'), from EMC /pənˀ/

    일,이,심,사,오,육,칠팔,구,싶

    (in the order sound are il, i, sam, sa, oh, yuk, chil, pal,gu and sip)

    would be 一、二、三、四、五、六、七、八、九、十

    with hepburn romanizations "ichi", "ni", "san", "shi"/"yon", "go", "roku", "shichi"/"nana", "hachi", "kyuu", "juu".

    while Vietnamese is an Austroasiatic language.. Burmese is closer to Chinese than Vietnamese, because Burmese is a Sino-Tibeten language,

    people of each Asian country speak only one language?

    most spoken language would be Hindi, followed by Mandarin and then Cantonese. However, most of our Chinese folks would actually be from Cantonese speaking Hong Kong, because they would have left before the UK handed it back to China.

    Hepburn Romanization: How to Read Japanese in the Latin Alphabet

    https://www.reddit.com/r/hackernews/comments/1wdx0sa/hepburn_romanization_how_to_read_japanese_in_the/

    https://external-preview.redd.it/hepburn-romanization-how-to-read-japanese-in-the-latin-v0-CAJRU9M5sdgq5auY43J1ldizzqI8l002qBqMS1lAwAk.png?width=1080&crop=smart&auto=webp&s=1af7d86b47893f4c548a5bbcad8d7ed61b4b12b5

    105 Chinese => 一百零五 one hundred zero five

    105 Vietnamese => một trăm lẻ năm |𠬠 𤾓 空 𠄼 | one hundred zero five

    𠬠 một
    𤾓 trăm
    空 lẻ
    𠄼 năm



    0000000000000000000000000000000000000000000000000000

    Chữ Nôm

    So với chữ Quốc ngữ chỉ có thể biểu âm nhưng không có khả năng biểu nghĩa, thì chữ Hán và chữ Nôm tuy khó đọc hơn nhưng nó có khả năng biểu nghĩa rất hiệu quả vì các chữ đồng âm nhưng khác nét viết và mỗi chữ chỉ mang một nghĩa, nên nó giải quyết được vấn đề Chữ đồng âm khác nghĩa khi viết tiếng Việt. Vậy nên hai hệ chữ này tuy khác nhau nhưng vẫn có thể được dùng song hành để bổ trợ cho nhau.

    Thời VNCH, Chữ nôm dạy ở Đại Học cho người trong Ban B chọn ngành Văn Chương, Lịch Sử, Triết Học.

    Những cách tạo chữ Nôm

    Ba câu lục bát đầu của Truyện Kiều

    Chữ Hán Việt: tương đồng về âm và nghĩa (âm đọc)

    Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các chữ Chữ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là:

    • Âm Hán Việt / Chữ Nho tiêu chuẩn: âm tiếng Hán thời Đường Thời Trung cổ. Ví dụ:
      "ông" 翁,
      "bà" 婆,
      "thuận lợi" 順利,
      "công thành danh toại" 功成名遂.


    • Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Hán Việt thời cổ nhà Tần và Hán
      Ví dụ:
      "mùa" 務 (âm Hán Việt là"vụ"),
      "bay" 飛 (âm Hán Việt là "phi"),
      "buồng" 房 (âm Hán Việt là "phòng").

    • Âm Hán Việt Việt hoá: là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt. Ví dụ: "thêm" 添 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "thiêm"), "nhà" 家 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "gia"), "khăn" 巾 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "cân"), "ghế" 几 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "kỉ").

    Ba loại âm Hán Việt kể trên đều được dùng trong chữ Nôm.

    Một số chữ Hán Việt cổ như "thấy", xuất phát từ chữ gốc là 睇 nhưng không dùng từ gốc để ghi Nôm mà ghi bằng chữ ghép 𫌠. Chữ "sông" vốn bắt nguồn từ âm cổ của Bách Việt, người Việt cổ, chữ "giang" (江), nhưng khi ghi Nôm được ghi bằng chữ hình thanh là 滝. Một số âm Hán Việt đọc trại như huê-hoa, trường-tràng thì không có chữ Nôm bổ sung mà vẫn dùng chữ Hán để ghi.

    Dùng âm chữ Hán, không dùng nghĩa (giả tá)

    Mượn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. Âm mượn có thể là âm Hán Việt tiêu chuẩn, âm Hán Việt cổ hoặc âm Hán Việt Việt hóa. Khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc chệch đi. Ví dụ:

    • Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn: chữ "một" 沒 có nghĩa là "chìm" được mượn dùng để ghi chữ "một" trong "một mình", chữ "tốt" 卒 có nghĩa là "binh lính" được mượn dùng để ghi từ "tốt" trong "tốt xấu", chữ "xương" 昌 có nghĩa là "hưng thịnh" được mượn dùng để ghi từ "xương" trong "xương thịt", chữ "qua" 戈 là tên gọi của một loại binh khí được mượn dùng để ghi chữ "qua" trong "hôm qua".
    • Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn: "gió" 這 (mượn âm "giá"), "cửa" 舉 (mượn âm "cử"), "đêm" 店 (mượn âm "điếm"), "chạy" 豸 (mượn âm "trãi").
    • Đọc giống như âm Hán Việt cổ: chữ "keo" 膠 ("keo" trong "keo dán", âm Hán Việt tiêu chuẩn là "giao") được dùng để ghi lại từ "keo" trong "keo kiệt", chữ "búa" 斧 ("búa" trong "cái búa", âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phủ") được dùng để ghi lại từ "búa" trong "chợ búa" ("búa" trong "chợ búa" là âm Hán Việt cổ của chữ "phố" 鋪).

    Dùng_nghĩa_chữ_Hán,_không_dùng_âm_(huấn_đọc [sửa | sửa mã nguồn]

    Mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt. Ví dụ: chữ "dịch" 腋 có nghĩa nghĩa là "nách" được dùng để ghi lại từ "nách" trong "hôi nách", chữ "năng" 能 có nghĩa là "có tài, có năng lực" được dùng để ghi lại từ "hay" trong "văn hay chữ tốt".

    Chữ ghép (tạo tự)[sửa | sửa mã nguồn]

    Chữ ghép, còn gọi chữ là chữ hợp thể, là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ. Các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù (bộ phận biểu thị âm đọc của chữ ghép) hoặc nghĩa phù (bộ phận biểu thị ý nghĩa của chữ ghép) hoặc vừa là thanh phù vừa là nghĩa phù hoặc dùng làm phù hiệu chỉnh âm chỉ báo cho người đọc biết chữ này cần phải đọc chệch đi. Chúng có thể được viết nguyên dạng hoặc bị viết tỉnh lược mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép. Phù hiệu chỉnh âm được dùng trong chữ Nôm là bộ "khẩu" 口 (đặt ở bên trái chữ ghép), dấu "cá" 亇 (bắt nguồn từ chữ "cá" 个 viết theo thể thảo thư, đặt ở bên phải chữ ghép), dấu nháy "𡿨" (đặt ở bên phải chữ ghép), bộ "tư" 厶 (đặt ở bên trên hoặc bên phải chữ ghép), dấu "冫" (đặt bên trái chữ ghép, chỉ thấy dùng trong các bản văn bản Nôm ở vùng miền Nam Việt Nam).

    Một số ví dụ về chữ ghép:

    • "chân" 蹎 ("chân" trong "chân tay"): chữ này được cấu thành từ chữ "túc" 足 và chữ "chân" 真. "Túc" 足 có nghĩa là "chân" được dùng làm "nghĩa phù" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. Trong chữ ghép chữ "túc" 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là "bàng chữ túc" ⻊. Chữ "chân" 真 ("chân" trong "chân thành") đồng âm với "chân" trong "chân tay" được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép.
    • "gạch" 𥗳 ("gạch" trong "gạch ngói"): chữ này được cấu thành từ chữ "thạch" 石 và chữ "ngạch" 額. "Thạch" 石 có nghĩa là "đá" được dùng làm nghĩa phù, ý là gạch thì được làm bằng đất đá. "Ngạch" 額 dùng làm thanh phù.
    • "khói" 𤌋: chữ này được cấu thành từ chữ "hỏa" 火 và chữ "khối" 塊 bị tỉnh lược một phần (tỉnh lược bộ "thổ" 土 ở bên trái chữ "khối" 塊). "Hỏa" 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép (lửa cháy tạo ra khói), "khối" 塊 gợi âm đọc của chữ ghép.
    • "ra" 𦋦: chữ này được cấu thành từ chữ "la" 羅 giản hóa và chữ "xuất" 出. "Xuất" 出 có nghĩa là "ra" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép.
    • "trời" 𡗶: chữ này được cấu thành từ chữ "thiên" 天 có nghĩa là "trời" và chữ "thượng" 上 có nghĩa là "trên", ý là "trời" thì nằm ở trên cao.
    • "lử" 𠢬 ("lữ" trong "mệt lữ") gồm chữ "vô" 無 có nghĩa là "không có" và chữ "lực" 力 có nghĩa là "sức, sức lực", ý là "lữ" là không còn sức lực gì nữa.

    Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì lại có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể để biểu thị các phụ âm kép người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Nếu dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Ví dụ:



    Chữ Quốc ngữ
    Bình thường
    Đầu lòng hai ả tố nga
    Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
    Mai cốt cách tuyết tinh thần
    Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
    Nếu phải viết dọc
    Tách chữ Xoay chữ
    Đầu
    lòng
    hai
    ả
    tố
    nga
    Thúy
    Kiều
    là
    chị
    em
    là
    Thúy
    Vân
    Mai
    cốt
    cách
    tuyết
    tinh
    thần
    Mỗi
    người
    một
    vẻ
    mười
    phân
    vẹn
    mười
    Đầu lòng hai ả tố nga,
    Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
    Mai cốt cách tuyết tinh thần,
    Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.


    Chinese numbers

    0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 102 103 104 106 108 1012

    Normal

    (小寫 / 小写) 〇, 零, 空 一 二 三 四 五 六 七 八 九 十 百 千 萬 / 万 百萬 / 百万,

    桶(Philippines),

    面桶 (Philippines) 億 / 亿 兆

    萬億 / 万亿 (Mainland China)

    Financial

    (大寫 / 大写) 零 壹 貳 / 贰 參 / 叁 肆 伍 陸 / 陆 柒 捌 玖 拾 佰 仟 萬 / 万 億 / 亿

    -------------------------------

    没 một /𠬠

    空 không

    𠬠 một

    𠄩 hai

    𠀧 ba

    本𦊚 bốn

    𠄼 số 5

    𦒹 sáu

    𠃩 chín

    𨑮 10 𨑮 mười

    𤾓 trăm 𢆥 năm year

    𠬠 một 𤾓 trăm 空 lẻ 𠄼 năm = 105

    cả chữ Nôm cùng chữ Hán hay chữ Quốc ngữ Latinh đều là chữ viết tiếng Việt.

 

No comments:

Post a Comment