http://themesbybrendarose.multiply.com/
~Magickal Graphics~
themesbybrendarose
2
33
34
https://scontent-sjc3-1.xx.fbcdn.net/v/t39.30808-6/307928106_400461415601695_5550242506370854823_n.jpg?_nc_cat=103&ccb=1-7&_nc_sid=efb6e6&_nc_ohc=6fLIGDswAFMAX_wT8y5&_nc_ht=scontent-sjc3-1.xx&oh=00_AfChahoo45_LCXadPr5TatzaU9lTSmTNUwAvkHlNoVVUTg&oe=65B5A20B
4
00000000000000000000000000000
Hani first touched on this almost two years ago in his Color Names, codes and much more post here in Multiply Design. At that time IE did not support RGBA colors and browser support in general was quite limited so the information may have been forgotten. There was no point in using code which the majority of browsers in use couldn't understand. Now the use of RGBA colors is much more practical so here is a refresher course on what they are and how to use them. RGBA Colors, Opacity Plus Color All In One
Nói đến chuyện người Việt trong nước đi du lịch nước ngoài mới thấy sự xuẩn ngốc đến tận cùng của loài Việt Cộng.
Xét về mặt kinh tế, thật đơn giản để hiểu rằng đi du lịch nước ngoài (trừ dạng làm điếm đi bán dâm ở ngoại quốc) thì sẽ phải tiêu xài hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ tại nước ngoài, nghĩa là người đi du lịch sẽ mất đi tiền bạc, của cải dưới dạng USD hoặc vàng cho dù giá niêm yết của các công ty dịch vụ du lịch đối với những chuyến đi này là VND hay USD. Thế mà mấy thằng/con Việt Cộng ngu dốt đến mức tự huyễn hoặc rằng khi liệt kê giá các chuyến du lịch kia bằng tiền Hồ thì sẽ giảm được "thất thoát ngoại tệ (USD)".
Điều tương tự cũng xảy ra đối với các mặt hàng điện tử, máy điện toán. Chúng ngốc nghếch đến mức cho rằng bảng giá máy điện toán ghi bằng VND thì không dùng ngoại tệ để nhập hàng từ Đài Loan, Singapore.
------------------------
#f0e1ff
| 255 204 255 FFCCFF |
||||||||||||||
| 255 153 255 FF99FF |
204 153 204 CC99CC |
204 153 255 CC99FF |
||||||||||||
| 255 102 255 FF66FF |
204 102 204 CC66CC |
153 102 153 996699 |
204 102 255 CC66FF |
153 102 204 9966CC |
153 102 255 9966FF |
|||||||||
| 255 51 255 FF33FF |
204 51 204 CC33CC |
153 51 153 993399 |
102 51 102 663366 |
204 51 255 CC33FF |
153 51 204 9933CC |
102 51 153 663399 |
153 51 255 9933FF |
102 51 204 6633CC |
102 51 255 6633FF |
|||||
| 255 0 255 FF00FF |
204 0 204 CC00CC |
153 0 153 990099 |
102 0 102 660066 |
51 0 51 330033 |
204 0 255 CC00FF |
153 0 204 9900CC |
102 0 153 660099 |
51 0 102 330066 |
153 0 255 9900FF |
102 0 204 6600CC |
51 0 153 330099 |
102 0 255 6600FF |
51 0 204 3300CC |
51 0 255 3300FF |
**************************************************************
**************************************************************
rgba(76, 175, 80, 0.3) Green background with 30% opacity
형
| English | Mandarin | Vietnamese | Japan | Korean |
|---|---|---|---|---|
| 0 zero | 零 Líng | 空 không / lẻ | 零 rei | 零 형 yeong |
| 1 one | 一 yi | 一 Nhất 𠬠 một | 一 ichi | 一 il |
| 2 two | 二 èr | 二 nhị/nhì 𠄩 hai | 二 ni | 二 i |
| 3 three | 三 sam | 三 Tam 𠀧 ba | 三 sam | 三 sam |
| 4 four | si | 四 tứ/tư 𦊚 bốn | am | m |
| 5 five | w | 五 Ngũ 𠄼 năm | m | m |
| 6 six | m | 六 lục 𦒹 sáu | m | m |
| 7 seven | m | 七 thất | m | m |
| 8 eight | m | 八 bát | m | m |
| 9 nine | m | 九 cửu 𠃩 chín | m | m |
| 10 ten | m | 十 thập 𠄼 mười | m | m |
| 11 eleven | m | thập nhất | m | m |
| 12 twelve | m | thập nhị | m | m |
| 21 twenty-one | m | hai mươi mốt | m | m |
------------------------------------
"ông" 翁, "bà" 婆,
the Nôm character 𠬠 (một 'one') comes from the right part of the Chinese character 没 (Sino-Vietnamese reading: một 𠬠 ).[77]
As in the Chinese writing system, the most common kind of invented character in Nom is the phono-semantic compound, made by combining two characters or components, one suggesting the word's meaning and the other its approximate sound. For example,[72]
- 𠀧 (ba
'three') is composed of the phonetic part
巴 (Sino-Vietnamese reading: ba) and the semantic part 三 'three'. 'Father' is also ba, but written as
爸 (⿱父巴)
while 'turtle' is con ba ba 昆蚆蚆. - Âm Hán Việt / Chữ Nho tiêu chuẩn: âm tiếng Hán thời Đường Thời Trung cổ. Ví dụ:
"ông" 翁,
"bà" 婆,
"thuận lợi" 順利,
"công thành danh toại" 功成名遂. - Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Hán Việt thời cổ nhà Tần và Hán
Ví dụ:
"mùa" 務 (âm Hán Việt là"vụ"),
"bay" 飛 (âm Hán Việt là "phi"),
"buồng" 房 (âm Hán Việt là "phòng"). - Âm Hán Việt Việt hoá: là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt. Ví dụ: "thêm" 添 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "thiêm"), "nhà" 家 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "gia"), "khăn" 巾 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "cân"), "ghế" 几 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "kỉ").
- Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn: chữ "một" 沒 có nghĩa là "chìm" được mượn dùng để ghi chữ "một" trong "một mình", chữ "tốt" 卒 có nghĩa là "binh lính" được mượn dùng để ghi từ "tốt" trong "tốt xấu", chữ "xương" 昌 có nghĩa là "hưng thịnh" được mượn dùng để ghi từ "xương" trong "xương thịt", chữ "qua" 戈 là tên gọi của một loại binh khí được mượn dùng để ghi chữ "qua" trong "hôm qua".
- Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn: "gió" 這 (mượn âm "giá"), "cửa" 舉 (mượn âm "cử"), "đêm" 店 (mượn âm "điếm"), "chạy" 豸 (mượn âm "trãi").
- Đọc giống như âm Hán Việt cổ: chữ "keo" 膠 ("keo" trong "keo dán", âm Hán Việt tiêu chuẩn là "giao") được dùng để ghi lại từ "keo" trong "keo kiệt", chữ "búa" 斧 ("búa" trong "cái búa", âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phủ") được dùng để ghi lại từ "búa" trong "chợ búa" ("búa" trong "chợ búa" là âm Hán Việt cổ của chữ "phố" 鋪).
- "chân" 蹎 ("chân" trong "chân tay"): chữ này được cấu thành từ chữ "túc" 足 và chữ "chân" 真. "Túc" 足 có nghĩa là "chân" được dùng làm "nghĩa phù" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. Trong chữ ghép chữ "túc" 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là "bàng chữ túc" ⻊. Chữ "chân" 真 ("chân" trong "chân thành") đồng âm với "chân" trong "chân tay" được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép.
- "gạch" 𥗳 ("gạch" trong "gạch ngói"): chữ này được cấu thành từ chữ "thạch" 石 và chữ "ngạch" 額. "Thạch" 石 có nghĩa là "đá" được dùng làm nghĩa phù, ý là gạch thì được làm bằng đất đá. "Ngạch" 額 dùng làm thanh phù.
- "khói" 𤌋: chữ này được cấu thành từ chữ "hỏa" 火 và chữ "khối" 塊 bị tỉnh lược một phần (tỉnh lược bộ "thổ" 土 ở bên trái chữ "khối" 塊). "Hỏa" 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép (lửa cháy tạo ra khói), "khối" 塊 gợi âm đọc của chữ ghép.
- "ra" 𦋦: chữ này được cấu thành từ chữ "la" 羅 giản hóa và chữ "xuất" 出. "Xuất" 出 có nghĩa là "ra" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép.
- "trời" 𡗶: chữ này được cấu thành từ chữ "thiên" 天 có nghĩa là "trời" và chữ "thượng" 上 có nghĩa là "trên", ý là "trời" thì nằm ở trên cao.
- "lử" 𠢬 ("lữ" trong "mệt lữ") gồm chữ "vô" 無 có nghĩa là "không có" và chữ "lực" 力 có nghĩa là "sức, sức lực", ý là "lữ" là không còn sức lực gì nữa.
本 𦊚 lang="vi" title="Vietnamese-language text">bản ('root', 'foundation'), from EMC /pənˀ/
일,이,심,사,오,육,칠팔,구,싶
(in the order sound are il, i, sam, sa, oh, yuk, chil, pal,gu and sip)
would be 一、二、三、四、五、六、七、八、九、十
with hepburn romanizations "ichi", "ni", "san", "shi"/"yon", "go", "roku", "shichi"/"nana", "hachi", "kyuu", "juu".
while Vietnamese is an Austroasiatic language.. Burmese is closer to Chinese than Vietnamese, because Burmese is a Sino-Tibeten language,
people of each Asian country speak only one language?
most spoken language would be Hindi, followed by Mandarin and then Cantonese. However, most of our Chinese folks would actually be from Cantonese speaking Hong Kong, because they would have left before the UK handed it back to China.
Hepburn Romanization: How to Read Japanese in the Latin Alphabet
https://www.reddit.com/r/hackernews/comments/1wdx0sa/hepburn_romanization_how_to_read_japanese_in_the/
https://external-preview.redd.it/hepburn-romanization-how-to-read-japanese-in-the-latin-v0-CAJRU9M5sdgq5auY43J1ldizzqI8l002qBqMS1lAwAk.png?width=1080&crop=smart&auto=webp&s=1af7d86b47893f4c548a5bbcad8d7ed61b4b12b5
105 Chinese => 一百零五 one hundred zero five
105 Vietnamese => một trăm lẻ năm |𠬠 𤾓 空 𠄼 | one hundred zero five
𠬠 một
𤾓 trăm
空 lẻ
𠄼 năm
0000000000000000000000000000000000000000000000000000
Chữ Nôm
So với chữ Quốc ngữ chỉ có thể biểu âm nhưng không có khả năng biểu nghĩa, thì chữ Hán và chữ Nôm tuy khó đọc hơn nhưng nó có khả năng biểu nghĩa rất hiệu quả vì các chữ đồng âm nhưng khác nét viết và mỗi chữ chỉ mang một nghĩa, nên nó giải quyết được vấn đề Chữ đồng âm khác nghĩa khi viết tiếng Việt. Vậy nên hai hệ chữ này tuy khác nhau nhưng vẫn có thể được dùng song hành để bổ trợ cho nhau. Thời VNCH, Chữ nôm dạy ở Đại Học cho người trong Ban B chọn ngành Văn Chương, Lịch Sử, Triết Học.Những cách tạo chữ Nôm
Chữ Hán Việt: tương đồng về âm và nghĩa (âm đọc)
Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các chữ Chữ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là:
Ba loại âm Hán Việt kể trên đều được dùng trong chữ Nôm.
Một số chữ Hán Việt cổ như "thấy", xuất phát từ chữ gốc là 睇 nhưng không dùng từ gốc để ghi Nôm mà ghi bằng chữ ghép 𫌠. Chữ "sông" vốn bắt nguồn từ âm cổ của Bách Việt, người Việt cổ, chữ "giang" (江), nhưng khi ghi Nôm được ghi bằng chữ hình thanh là 滝. Một số âm Hán Việt đọc trại như huê-hoa, trường-tràng thì không có chữ Nôm bổ sung mà vẫn dùng chữ Hán để ghi.
Dùng âm chữ Hán, không dùng nghĩa (giả tá)
Mượn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. Âm mượn có thể là âm Hán Việt tiêu chuẩn, âm Hán Việt cổ hoặc âm Hán Việt Việt hóa. Khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc chệch đi. Ví dụ:
Dùng_nghĩa_chữ_Hán,_không_dùng_âm_(huấn_đọc [sửa | sửa mã nguồn]
Mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt. Ví dụ: chữ "dịch" 腋 có nghĩa nghĩa là "nách" được dùng để ghi lại từ "nách" trong "hôi nách", chữ "năng" 能 có nghĩa là "có tài, có năng lực" được dùng để ghi lại từ "hay" trong "văn hay chữ tốt".
Chữ ghép (tạo tự)[sửa | sửa mã nguồn]
Chữ ghép, còn gọi chữ là chữ hợp thể, là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ. Các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù (bộ phận biểu thị âm đọc của chữ ghép) hoặc nghĩa phù (bộ phận biểu thị ý nghĩa của chữ ghép) hoặc vừa là thanh phù vừa là nghĩa phù hoặc dùng làm phù hiệu chỉnh âm chỉ báo cho người đọc biết chữ này cần phải đọc chệch đi. Chúng có thể được viết nguyên dạng hoặc bị viết tỉnh lược mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép. Phù hiệu chỉnh âm được dùng trong chữ Nôm là bộ "khẩu" 口 (đặt ở bên trái chữ ghép), dấu "cá" 亇 (bắt nguồn từ chữ "cá" 个 viết theo thể thảo thư, đặt ở bên phải chữ ghép), dấu nháy "𡿨" (đặt ở bên phải chữ ghép), bộ "tư" 厶 (đặt ở bên trên hoặc bên phải chữ ghép), dấu "冫" (đặt bên trái chữ ghép, chỉ thấy dùng trong các bản văn bản Nôm ở vùng miền Nam Việt Nam).
Một số ví dụ về chữ ghép:
Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì lại có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể để biểu thị các phụ âm kép người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Nếu dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Ví dụ:
| Chữ Quốc ngữ | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Bình thường | |||||
Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân Mai cốt cách tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười | |||||
| Nếu phải viết dọc | |||||
| Tách chữ | Xoay chữ | ||||
|
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân. Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười. | ||||
Chinese numbers
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 102 103 104 106 108 1012
Normal
(小寫 / 小写) 〇, 零, 空 一 二 三 四 五 六 七 八 九 十 百 千 萬 / 万 百萬 / 百万,
桶(Philippines),
面桶 (Philippines) 億 / 亿 兆
萬億 / 万亿 (Mainland China)
Financial
(大寫 / 大写) 零 壹 貳 / 贰 參 / 叁 肆 伍 陸 / 陆 柒 捌 玖 拾 佰 仟 萬 / 万 億 / 亿
-------------------------------
没 một /𠬠
空 không
𠬠 một
𠄩 hai
𠀧 ba
本𦊚 bốn
𠄼 số 5
𦒹 sáu
𠃩 chín
𨑮 10 𨑮 mười
𤾓 trăm 𢆥 năm year
𠬠 một 𤾓 trăm 空 lẻ 𠄼 năm = 105
cả chữ Nôm cùng chữ Hán hay chữ Quốc ngữ Latinh đều là chữ viết tiếng Việt.
No comments:
Post a Comment