Tuesday, June 12, 2018



Writing In Vietnam
https://youtu.be/zI9AF7sj1Bk?si=TtNqlx3-__2FXoRE




The race to decode a mysterious language - Susan Lupack
https://youtu.be/iePEw_cHp8s?si=50fT8w6xSbuAfVvQ


How Do We Decipher Forgotten Languages?‬
https://youtu.be/wrt80DXVk7M?si=zGO_jh6refDynJS_


The Decipherment of Maya Script
https://youtu.be/YvLs3gDLCOI?si=U6Vtcgh4oKzXePHm


===========================================
Sở 楚 LÀ VIỆT 越... và là Văn-Lang

- Sở có phải là Việt Không?


Phải! Sử Ký Tư Mã Thiên ghi rõ Sở và Việt đồng tông đồng tộc, ngày xưa là ngôn ngữ giống nhau, sau nầy thì còn giống nhau 1/2 (phân nửa), ngày nay tiếng Quan-Thoại đã chiếm lĩnh vùng đất Sở, nhưng vẫn còn nhiều từ ngữ cổ Việt được dùng, và đối chiếu với tiếng Việt bên Ngô-Việt và Mân-Việt là giống nhau, và dĩ nhiên có từ ngữ cũng giống như tiếng Việt-Nam.

Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà.


Văn Hóa Sở có thời xưng mình là Shan 商 -Thương, Ân Thương 殷商  Âu-Nhân 甌 人 (Âu-Nhân chỉ là phiên âm, Âu-Nhân 甌 人= Ân, tức là Ân Thương) rồi xưng là Sở 楚.

Sở là một quốc gia rộng lớn, văn hóa và ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ và văn minh Sở tiến bộ rất sớm, đã tồn tại và ảnh hưởng bao trùm nhiều nơi, "Sử Ký" chép rằng Vua Sở Chúc Hùng 楚鬻熊 là Thầy dạy học cho Châu Văn Vương Nhà CHU.

- Sở còn có nhiều tên gọi của Đất Sở, Nước Sở, Người Sở, do cách phiên âm khác nhau của chữ "Sở" thành ra nhiều chữ sở. Phiên âm là một hình thức dùng chữ đã có rồi để diễn đạt chữ chưa có của tiếng nói, ví dụ cụ thể là cho đến ngày nay thì rất nhiều tiếng Việt vùng Quảng-Đông và 20% tiếng Mân-Việt / Triều-châu còn chưa có chữ viết. 

Sở còn gọi là Kinh, Kinh Sơ, Cửu Khuẩn, Kinh Man, và một số tên khác cũng trong phạm vi SỞ.

- Còn gọi là Si-Vưu, là Triều-Ca, Thương Ngô, Cứ Âu.

- Còn gọi là Phù Dung Quốc, Dương Việt.

- Còn gọi là Cộng Nhân, Quỉ Phương, Cổ Muội.

- Còn gọi là Việt-Khu.

- Phạm vi của Sở gồm phần đất ngày nay thuộc:

Các tỉnh 湖南Hồ Nam、湖北Hồ Bắc、重庆Trùng Khánh、河南Hà Nam、安徽 An Huy、江苏Giang Tô、江西 Giang Tây v. v... và các bộ tộc "Cửu-Lê 九黎".

         ***Giải mã Bí mật cổ sử Sở bằng tiếng Việt ***

- Sở 楚: Chữ xưa là tượng hình, chữ Sở gồm hai cây (Chữ Lâm 林 phía trên gồm hai chữ mộc 木) và phía dưới là dây leo quấn hai chân cây  疋 = Sơ (chữ Sơ 疋 bộ tẩu) phát âm theo Tiếng Quan Thoại (Mandarin) là Chsùa, tiếng Mân-Việt là chsó, tiếng Việt-Quảng-Châu, Phiên Ngung là chsỏ; đúng ra thì phải đọc phát âm là "Sở " theo chiếc tự của Sơ-Lâm, nhưng lại có một cách đọc phát âm là: "Trầu", và dấu tích của âm đọc là Trầu còn lưu lại quá nhiều...

Chữ Si-vưu chính là phiên âm của chữ Trầu: Si-Vưu = 蚩尤, bởi vì Si-Vưu vô nghĩa, Si-Vưu chỉ là phiên âm, và đánh vần phiên âm là ra chữ Trầu mới là "có nghĩa" và "đúng nghĩa " với chữ tượng hình đã thể hiện, nếu như phiên âm đánh vần là "Sưu" hoặc "Sừu" thì lại vô nghĩa, nhưng dân vùng Phiên Ngung ở Quảng Châu ngày nay vẫn đọc 蚩尤 là Chsia-Dầu, Chsia-ầu-Chsầu, tức là thật ra là "Trầu"
(Đọc theo tiếng Việt chuẩn là giọng nói của Miền Bắc thì TR phát âm như là CH, "Trầu" là "Chầu") và đã có một âm Sơ-Lâm là Sở thì mới đúng Chữ 楚  đã vẽ hình dây Trầu quấn trên cây, bởi vì xét về thực vật: dây trầu quấn cây cau là đúng nhất cho chữ Sở, và khi cổ sử nói về Si-Vưu / Chsia-Dầu là luôn nói về Si-Vưu ở vùng đất Sở.  

CHƯA CÓ AI PHÂN TÍCH THEO KIỂU NẦY, VÌ:

Theo tài liệu sử thì Sở là Việt, cho nên tôi thử dùng các "phương ngôn: "Vit" để giải mã những điều khó hiểu, và đây là một lối suy luận hữu lý, chứ không có tài liệu sử sách để dẫn chứng, đúng hay sai? Thời gian và sự tiến bộ trong việc tp trung tài liệu của nhiều người nghiên cứu sẽ kiểm chứng lp lun của tôi và sẽ có câu trả lời...


- Vậy Si-Vưu theo cổ Việt - Nhã ngữ là Chsén-Dầu, đó là phiên âm Chs-ầu.

=>  chsầu=Trầu; Si-Vưu = 蚩尤 = Trầu. 

Tương tợ Chsầu, chsỏ, chsó, chsùa, tsù... viết là:

... Sở là Việt, mà lại dính líu với chữ "Trầu"?

Đúng vậy! Người Việt Nam và người Đài Loan ngày nay vẫn còn rất nhiều người ăn Trầu, và là một đc điểm hiếm hoi của nhân loại.

(Ngoài ra:  Người Mèo tôn Si-Vưu là thần "Thái tổ", và gọi là "txiv -yawg"... đọc nhanh cũng đúng là một dạng của âm chữ TRẦU...

Đây là một đặc tính Bách Việt mà ngày nay người ta còn chưa hiểu hết. Nghĩa là ngày xưa Sở hay Việt -Trầu đã thống lãnh hàng trăm bộ tộc "Bách –Việt.").


- Theo Khảo cứu của tôi thì Si-Vưu.

Ở nước Sở và chính là Sở, vì bản thân chữ Si-Vưu đã là "Trầu" là "Sở" như phân tích...  Nhưng có quá nhiều thuyết, nhiều đến mức kinh-hoàng cho những người khảo cứu đầy đủ, có thuyết tôn Si-Vưu và Viêm Đế là một, có thuyết: Si-Vưu và Viêm Đế là hai đế khác nhau, có thuyết Si-Vưu là Quan dưới quyền Viêm Đế v. v...

- Xin trích một đoạn chữ Cổ-Việt / Hoa nói về Si-Vưu có liên quan đến Cửu Lê: 蚩尤為首的九黎族 = Si vưu vi thủ đích Cửu Lê tộc, có quá nhiều truyền thuyết nói về Si-Vưu, có thuyết nói Si-Vưu ở tây, có thuyết nói ở đông, có thuyết nói ở nam với người Mèo / Hmong, có thuyết nói ở Bắc như người Korea có quyển sách 《Hằng Đàn Cổ ký -  桓檀古記》 -(환단고기)nói rằng Si-Vưu là Vua ở Bán Đảo Triều Tiên; nhưng, chú ý: Si-Vưu được tôn làm "Chiến Thần" nên nhiều người tranh dành... cũng phải!

Và quý vị thích nghiên cứu sử cần chú ý điều nầy: phiên-âm chữ "Cửu- lê" sẽ ra chữ "kỳ", phiên âm chữ "Giao-Chỉ" hay "cao-chỳ" sẽ ra chữ "kỳ",  và đặc biệt là Cửu-Lê lại rất giống... gần như 100 phần trăm với "Cao-Lệ -高麗 - Korea", và cũng có tài liệu Korea liên quan đến Bách Việt, ngày nay các bạn trẻ người Việt khi học tiếng Hàn Quốc - Korea sẽ không lạ gì các ch "Han kok" là Hàn Quốc, "huynhdai" là Hiện Đại, "yu Hạc senh" là Du học sinh, tên gọi "Kim Yang" là Kim - Anh, "Dong kun" là Đông Quân v. v...

- Vì theo những khảo cứu vừa được nêu trên thì chữ viết trong sử "Si-Vưu": chẳng qua chỉ là phiên âm chữ "Trầu", mà người ta đã lầm, không dùng tiếng Việt, phủ nhận gốc Việt, không biết hay không đọc là Trầu mà lại đi đọc là Si-Vưu cho nên vô nghĩa, và từ cái vô nghĩa, cái không hiểu nghĩa đã sinh ra ngộ nhận và cho là "Hán Tự - chữ Tàu", rồi thêu dệt truyền thuyết.

Truyền thuyết đã thêu dệt "Ông" Si-Vưu là lãnh tụ rất thin chiến, khi ra trn biết phun lửa, chặt đầu nầy lại có đầu khác, rõ ràng đó là sự diễn tả Si-Vưu là một tập thể thiện chiến, giỏi trận pháp, dương đông kích tây, du kíck chiến, mai phục v v... và biết dùng hỏa công chứ không phải là một người! Chẳng qua vì sự ng nhận của các đời sau phủ nhn gốc Việt hay không hiểu tiếng Việt mà người ta dựng ra một nhân vật như thần tiên vậy!

Ở Trung-Quốc từ xưa và cho đến nay vìngười ta đã tôn thờ "ông" Si-Vưu là "chiến-thần", nên trước khi ra trận đánh giặc là làm lễ cúng bái "Chiến thần" là ông Si-Vưu. 

Thật ra..."Chiến Thần" đó phải là nước Trầu  và lại là lãnh đạo, là "Vua" của các bộ tộc Cửu - Lê 九黎 – Cửu lê lại vô nghĩa !!! 

Theo truyền thuyết thì liên quan đến Cửu lê có đến hàng 100 bộ tộc, thuyết nói 9 bộ tộc là căn cứ theo chữ "Cửu 九", thuyết chánh yếu mà nhiều người tin và trích dẫn nói là có đến 81 bộ tộc- 81 lại là cách dùng 9 x 9 ... 81 hay hàng 100 bộ tộc thì không thể là "Cửu  -  九". 

"Cửu -Lê 九黎" chỉ là phiên âm để chỉ hàng trăm bộ tộc ở phía nam có tên gọi là "Kỳ",  Sở trong Hoa sử có đất KINH, mà lại có "Trầu" lãnh đạo 九黎 Cửu-Lê là Kỳ. 

Sử Việt thì gọi đất Vit là Đất Kinh và Đất Kỳ! 

Nghiên cứu mới cho thấy rõ đường thiên di của nhân loại là từ Đông Nam Á tiến lên phía bắc v. v....  nếu đánh vần theo giọng Việt Quảng Đông, thì Cửu-Lê là "Cao-chìa" sẽ ra chữ "kỳ"... còn đọc theo "Cửu-Lê" sẽ ra âm "kê" hay "kề", đọc Cửu-Li sẽ ra âm "KY" hay "KỲ", tiếng phổ thông cũng đọc "li" chứ không đọc "lê", về sau thì xuất hin chữ "Giao Chỉ " mà nếu đánh vần phiên âm cũng là "kỳ", dân thành phố Phiên Ngung ngày nay ở tỉnh Quảng Đông vẫn đọc Giao Chỉ là "Cao-Chĩa/ cao chìa", đối chiếu lại thì thấy rõ ràng "Cửu Lê " và "Giao Chỉ" chỉ là một tên có phát âm là "kỳ", và GIAO-CHỈ hay CỬU-LÊ là vô nghĩa, cho đến thế kỷ 21 mà khi tra cứu tự điển Bách Khoa và cổ thư v. v... thì thấy giải thích sở dĩ gọi là "Giao Chỉ"  vì dân vùng đó có hai ngón cái của hai bàn chân chìa ra, khi đứng thì giao nhau, nên gọi là Giao Chỉ? 

Và lại có cách giải thích khác là dân vùng đó... khi ngủ thì hai chân để chéo chữ thập, hai chân giao nhau nên gọi là giao chỉ.

Cách giải thích như viết truyện thần thoại hay làm phim "khoa học ging" như vậy mà đã tồn tại trong lịch sử mấy ngàn năm... thì rõ ràng là những người có tâm huyết ở thế kỷ 21 nầy nên phải bỏ công ra để viết lại lịch sử là một điều bắt buộc phải nên làm.    

Âm Quảng Đông của "Cửu-Lê" lại có một phát âm là "Cẩu-lỳ", có lẽ chính vì âm "Cẩu" không tốt khi ĐỌC và NGHE, cho nên mới được người ta tránh mà sau nầy không còn dùng "Cửu-Lê" nữa, chỉ còn có âm Cao-Chỳ, Giao-Chỉ xuất hiện mà thôi, những tên xưa thường hay được dính líu và kéo dài để dùng đến tn ngày nay.  Vùng Lạng-Sơn có sông Kỳ-Cùng và Phố Kỳ-Lừa là một thí dụ thú vị.

Chữ viết ngày xưa khác nhau từng vùng vì giao thông đâu có thuận tin và tính thống nhất đâu có mạnh như bây giờ, cho nên sau nầy Tần Thủy Hoàng mới ra lịnh thống nhất chữ viết:

- Hàng 100 bộ tộc Cửu-Lê/ Kỳ có lãnh đạo là Si-Vưu / Trầu nhập lại... tính ra hẳn là bờ cõi phải mêng mông lắm và cổ thư còn ghi lại gọi là "Liệt-San thị"
: Thật ra "Liệt-San" đó chính là phiên âm chữ "Lang-sang" tức là Lang.

"Lang" là khi ngôn ngữ đó đã được đơn âm hóa, và "Lang-sang" hay "Van", "Lang-Sang" hay người Hoa viết sử gọi vắng tắt là Shan 商  "có nghĩa là "Vạn Tượng" chính là nước "VĂN-LANG"...   

Quý vị nào hiểu nghĩa tiếng Thái, Lào, Choang ngày nay sẽ hiểu nghĩa nầy, "Van" là "Vạn" của một vạn, "Lang" là "lang-sang" là "Liệt -San" hay Shan 商, hay "Văn Lang".

Văn-Lang của người Việt cũng chỉ là một quốc gia duy nhất mà người ta đã viết và đọc theo nhiều cách, quý vị chú ý chữ Shan 商 dịch theo từ Hán-Việt là "Thương" hoàn toàn trùng hợp với tiếng Việt là "Tượng"  tức là "Voi", "Tượng" ngày xưa đọc là "Tương" là lẽ thường tình!

Bởi vì Việt ngữ cổ đâu có A B C và dấu nặng!

Vùng "Sở", "Trầu" "Văn-lang" phải là rất rộng như truyền thuyết - Nước Văn-Lang bắc giáp Động-Đình Hồ, Đông Giáp biển và Nam giáp nước Hồ-Tôn, Hồ-Tôn là giọng Mân-Việt - Ô-sinh > Ying, giọng Quảng-Đông là Wùa hay Huà-siń > wiǹg, âm Wìng, hay Ying̃ / yin đều là chữ Vin / Vân của Vân-Nam là tỉnh Vân Nam bây giờ; còn âm của chữ viết  là Liệt-San, yue-Lang, Văn Lang đều phát âm giống nhau, nghĩa là nước "VanLangshan" của người Việt.

"Văn-Lang" quá rng vì các bộ tc quá nhiều và có "đánh nhau" cũng là chuyện thường, điều đó càng làm cho Bách Việt Sử rối mù bởi "Tinh thần địa phương", truyền thuyết Phù-Đổng thiên vương chống giặc "Ân Thương" nếu xét cho kỹ lưỡng biết đâu là chuyện nội bộ?

Truyện Trụ-Vương mê Đắc-Kỷ, sa đọa và phung phí ở cung đình nên phải thu thuế tô địa nhiều, bắt lao công v. v... nên nhiều dân địa phương phải chống lại và tự lập lãnh địa "quốc" riêng là đúng thôi.

Ai chứng minh được Trụ Vương là Du Mục hay là Hung-Nô?

Chữ viết lưu lại là Trụ Vương tên Đế Tân, chữ Trụ chẳng qua là Chữ "Trư" là "Con heo" của tiếng Việt, "Đắc-Kỷ", "Na-tra", "Khương Tử-Nha", "Cơ Phát", "Cơ Xương" đều là tiếng Việt, một số những tên tiếng Việt đa-âm còn sót lại trong câu truyện tự nó sẽ làm rõ nguồn gốc Việt!

Những ai hiểu Hoa văn 100 phần trăm ngày nay có thể nào giải thích cho tôi nghe "Trụ" Vương và "Đắc-Kỷ" nghĩa là gì?

Nỗi oán hận của người dân thời đó theo tiếng Việt đã chửi "Đế Tân" là "Heo" vì dâm dục mê gái cho nên gọi là vua Heo - "Trư", "Đắc-Kỷ" là dấu tích tiếng Việt đa-âm, đa-âm "Đắc-Kỷ" là "Đĩ ", khi biến thành đơn âm, chỉ có tiếng Việt và người Việt mới hiểu nổi chứ còn ai vào đây được?

Theo tôi thì khi "Trụ" Vương tỏ tình với "Đắc-Kỷ" thì nói là "Anh yêu em" chứ không phải là giọng "Wò ái nìa" của Hung-Nô!

Ngày nay chúng ta vẫn còn dùng ch đa âm nhiều, quá nhiều, ví dụ như: lang-thang, lôi-thôi, thẩn-thờ, lác-đác, ngoe-ngoẩy, kẽo-kẹt, lệch-lạc, lung-tung, liếng-thoắng, bạc-bẽo, tiu-nghỉu, mênh-mông, lung-linh, dịu-dàng v. v... nhiều kinh khủng lắm –

Xin quý vị đọc bài khảo cứu trước của tôi - là tiếng Việt sinh ra Hoa ngữ và Hoa ngữ chỉ là những b tộc khác học được một phần của tiếng Việt mà thôi!  Và cũng chính vì vậy mà Hoa ngữ không thể phiên dịch được hết Việt ngữ, còn Việt ngữ có thể phiên dịch được hết Hoa ngữ một cách dễ dàng, có những sách và những người lập luận rằng Từ ngữ Hán-Việt được du nhập từ Trung Hoa sang Việt Nam vào thời nhà Đường. 

Xin chân thành cảm ơn những sách và những người đó.

Lập luận đó tự thân nó đã khẳng định là từ xưa cho đến đời nhà Đường là bên Trung Hoa vẫn còn dùng tiếng Việt. Có một bài "Việt Nhân Ca" cổ đại đã hơn hai ngàn mấy trăm năm và nổi tiếng toàn thế giới, tiếng Hoa, tiếng Anh và tiếng Pháp v. v... đều đã "phiên dịch" bài nầy một cách... sai bét!  

Tiếng Việt phiên dịch lại từ bản "Hoa - văn" nên cũng sai luôn!

Vì người ta không hiểu tiếng Việt... và người "Hoa" đã dùng bài nầy để chứng minh cổ sử của Trung quốc là "Hoa" chứ không phải Việt!

Với lập luận vì là "hoa" nên không hiểu được tiếng Việt của "Việt Nhân Ca", và chuyện bài hát "Việt Nhân ca" nầy xảy ra ở nước Sở, xin quý đọc giả đón đọc những bài khảo cứu sau thì tôi sẽ trình bài rõ ràng chung quanh bài "Việt Nhân Ca" ở nước Sở ngày xưa chính là một bằng chứng Sở là Việt.   

Điều nầy là rất quang trọng: Có thể nói rằng đây là tâm điểm của sự nhập nhằng Vit và Hoa, bởi vì ông Lưu Bang và ông Hạng Võ đều là người Sở, và Lưu Bang đã lập nên nhà Hán, có thể nói rằng: - Chứng minh được Sở là Hoa thì nghĩa là Hoa đồng hóa Việt!

Và chứng minh được rằng Sở là Việt thì nghĩa là Việt đồng Hóa Hung-Nô thành Vit mà đổi tên là Hoa. Bài nầy đã chứng minh rõ ràng Sở là Việt để làm mất đi lớp bụi mờ của lịch sử.  

Tuy nhiên, để cho rõ ràng và chi tiết thêm thì tôi sẽ viết thêm bài "Tự điển thuyết văn của Hứa Thận thời nhà "Hán" và "Việt nhân Ca".

Xin trở lại chủ đề:

- Đánh vần cổ ngữ "Liệt-San" > tức là Li(ệt)- (S)an =>Lan = Lang.

- Viêm Đế / Si-Vưu / Trầu / Kỳ / Văn Lang là thị tc Vit  "Hùng", chữ viết trong sử là "Hữu hùng Thị": đọc là "Dồ Hùng'', đó là một âm của Dit Hùng, tức là Việt Hùng (xin xem bài khảo cứu Bách Việt Sử khác sắp đưa ra online) và Con cháu các đời vua sau luôn xưng là Hùng Vương như Hùng Tảo  熊蚤, Hùng LỆ  熊麗, HÙNG CUỒNG  熊狂, HÙNG Dịch 熊繹, HÙNG NGẢI 熊艾, HÙNG ĐẢN  熊䵣, HÙNG THẮNG  熊勝, Hùng Dương  熊楊, Hùng cừ  熊渠, Hùng Chí 熊摯, Hùng Diên  熊延, Hùng Dũng  熊勇, Hùng Nghiêm 熊嚴, Hùng Tương  熊霜, Hùng Tuân  熊徇, Hùng Ngạc  熊咢, Hùng Nghi  熊儀, Hùng Khảm  熊坎, Hùng Thông 熊通, Hùng Chất  熊貲, Hùng Giang  熊艱, Hùng Uẩn  熊惲, Hùng Thương -Thần 熊商臣, Hùng Lữ  熊侶 , Hùng Thẩm 熊審, Hùng Chiêu  熊招, Hùng Viên  熊員 Hùng Vi,  v. v...
   
Theo Truyền Thuyết: Hoàng Đế 黄帝

Có một người con là Xương Ý 昌意...- Xương Ý 昌意 là một trong 25 người con của Hoàng đế 黄帝, Xương-Ý  cưới vợ là người của Thục Sơn thị 蜀山氏 tên là Xương Bộc 昌僕 có được một người con là Đoan - Hạn 颛顼.   Hậu duệ của Đoan Hạn sinh ra Cổn 鯀, Cổn Sinh Ra Vũ 禹 (... Con của Vũ Là Khải lập ra triều Hạ).

- Đế Đoan-Hạn 颛顼 là Con của Xương-Ý.

- Ngô Hồi 吳回 là Cháu đời thứ 5 của đế Đoan Hạn 颛顼.

- Lục-Tung 陸終, hay Lộc-Tục do cách đọc khác nhau, là con của Ngô Hồi 吳回.

- Quý Liên 季連, về sau gọi là Chúc Hùng là con của của "Lộc Tung" hay Lộc Tục: có 6 người con, con út là Quý-Liên.

- Chúc Hùng là Cha của Hùng Tảo, Hùng Tảo là Cha của Hùng Lệ, Hùng Lệ là cha của Hùng Cuồng.

- Sở Hùng Dịch 楚熊繹 là con của Hùng Cuồng, là cháu chít của Quý Liên/Chúc Hùng và là Thầy của Châu Văn Vương của nhà Chu... và Sau đây là phần tên Vua được đưa vào Sách Sử... viết bằng cổ văn.

     ***Bảng  tên hiệu Sở: Hùng Vương / Tên Họ / năm lên ngôi / năm thoái vị...
bằng Cổ Vit Văn: gồm tên các vua ...



***
Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket Photobucket
***
Sở Bá Vương 楚霸王_Hạng Võ 項羽 là con cháu đích tôn của Hùng Triều họ Mi 米 (Mi hay Mị, Mì, Mễ) vì tổ tiên được phong đất cho ở Đất Hạn, cho nên lập Tổ dòng họ Hạn; (cũng như Khuất Nguyên vậy, thời phong kiến thì dòng họ vua thường hay được phong cho đất để lập ấp, lập quốc nhỏ làm chúa nơi địa phương nhỏ và thường hay đổi họ theo đất mình được làm chúa nơi đó).

...Sở Bá vương Hạng Võ và Lưu Bang lãnh đạo dân Quân Sở - Việt lật đổ nhà Tần...

***Khảo cứu một số phong tục vùng Sở - (Trầu / Kỳ / Liệt San-yue Lang -Văn Lang- Việt Lang mà ngày xưa goị là "Sở") và ngay nay quý vị có thể tìm hiểu và tham khảo dễ dàng trên các web của các bloger hay trên trang web của tỉnh Hồ Nam hay Hồ Bắc của Tân Hoa Xã:

- Khách đến nhà khi đã mời ngồi rồi thì kỵ lau bàn hay quét nhà, vì như vậy là có ý đuổi khách.

- Khi mời khách ăn trứng gà thì không được đãi ăn số trứng lẽ 1 hay 3, nhưng kỵ nhất là đãi khách ăn 2 trứng, vì "ăn hai" giống như tiếng chửi..."ăn hại" của tiếng Sở.

- Trước khi ăn, không được dùng đũa gõ chén, vì chỉ có ăn mày mới gõ chén ăn xin.

- Sau khi ăn, không được gác đũa lên chén, vì gác đũa lên chén là cúng cơm cho vong linh.

- Đầu của phái nam, và vùng eo của phái nữ là chỉ được nhìn, không được rờ, nếu bị tùy ý đụng chạm thì coi như là một điều bị sỉ nhục.

- Phải phơi quần áo phụ nữ nơi kín đáo, không được cầm sào phơi quần áo phụ nữ băng qua đường; đồ lót của phụ nữ khi phơi phải tìm ở chỗ người ta không nhìn thấy; khi phụ nữ có thai thì không được tham gia tiệc đám cưới; phụ nữ đang có kinh kỳ thì không được vào chùa, miếu; phụ nữ không được tham gia việc xây bếp hay dựng kèo cột trong xây cất.

- Kỵ những từ ngữ hung hiểm, ví dụ: không nói "Chết́" mà nói "Đi" rồi, hay "không còn nữa", quan tài thì nói "thọ tài", "thọ mộc"; ngày tết không được nói "thấy bà"," thấy qu", "đồ... qu sứ"... nói chung là kỵ từ ngữ hung hiểm hay xui xẻo.

- Cha mẹ qua đời thì con trai không cắt tóc trong thời gian 7 thất (tuần) để tỏ lòng hiếu thảo khi để tang.

- Kêu chut bằng "ông", chut rất khôn lanh, nên sợ chuột cắn phá quần áo v. v... nên tỏ ra tôn kính mà gọi là "ông" Tí.

- Con một của gia đình thì thường gọi là "Chó con", "Bé", "Nữ", "Nố", "Náo"...  Vì sợ ma quỉ xâm hại, sợ khó nuôi.               

Ngày nay thì Văn Hóa Sở đã biến thành đã biến thành văn hóa của tiếng Phổ thông / Quan Thoại, nhưng những nghiên cứu về từ ngữ cổ của lịch Sử còn sót lại mà người ta còn dùng và được biết ở các vùng thuộc đất Sở lại làm cho tôi giật mình:

- Dù đã bị tiếng phổ thông - quan-thoại thay đổi, nhưng nhiều vùng "Sở" ngày nay vẫn gọi con của mình là phái nam bằng "trai " như tiếng Việt, đó là vùng: Nam Xương 南昌/ đọc là "ʦai" như "Chai " Hay "Trai" 、đó là các vùng Đô Xương 都昌、An Nghĩa 安義、Tu Thủy 修水、Bình Giang 平江, Dương Tân 陽新, Tuyên Phong 宜豐、Tân DU 新喻 、v v... 
Họ vẫn gọi con trai là "TSai".

 và....

- Hai chân giang rộng ra gọi là: "Mở" và viết là chữ 摸 /Mạc - nhưng đọc là "mở".

- Con ngỗng gọi là Ngan, ngo.

- Lớn, gọi là "Đại", viết là 軚 / đọc là Đại.

- Cái rổ làm bằng bằng tre: gọi là Rổ, viết là 蘿 / đọc là Rổ; có nơi nay đọc lô hay lo, loa, lóa...

- "Hiểu",  vùng Kiến-Ninh  建寧 ngày nay vẫn đọc "Hiểu'' 曉 như tiếng Việt.

- "Phan", vất đồ vật gọi là Phan, viết là 拌 / đọc là "Phan".

- Bất kể, bất cần mạng sống gọi là "Bán mạng", những vùng còn nói là  "bán mạng" là:
(phát âm có khác nhau một chút giữa các vùng): Nam xương 南昌 / pʰɔn miaŋ、An Nghĩa  安義 / pʰɔn miaŋ、Cao An 高安 / pʰɛn miaŋ、Tân Du 新喻 / pʰɔn miaŋ、Bình Hương 萍鄉 / pʰɔ̃ miã、Lễ Lăng 醴陵 / pʰõŋ miaŋ、Kiến Ninh 建寧 / pʰɔn miaŋ、Thiệu Vũ 邵武 / pʰon miaŋ。

- Lá cây Trúc gọi là Lá, viết là 箬 / đọc là "lá".

- Thấy, viết là 睇 đọc là "Thấy".

- Vùng nước sâu gọi là "thầm" hay "Than", nghĩa là "Đầm" so với tiếng Việt.
       
Tất cả những phần khảo cứu tiếng nói và phong tục Sở nêu trên là vào trang nhà trên Internet của tỉnh Hồ Bắc thuộc Tân Hoa Xã là sẽ đọc thấy (trong hiện tại).

Từ những chứng cứ nêu trên, có thể thấy ngày xưa vùng Sở vừa đúng là "Trầu", vừa đúng là Nước Việt / Văn Lang rộng lớn với hàng trăm b tc "kỳ - Cửu Lê" nói tiếng Việt. Nếu vậy thì nên đọc địa danh và tên người của cổ sử theo tiếng Việt...

- Khảo cứu một số tên Sở theo hướng "Việt-Ngữ" thì  thấy là, ví dụ:

1/ CAN TƯƠNG: phiên âm Can-Tương > "Cương" hay  "Cường" / vì chẳng có ai tên là Can -Tương, nếu Can-Tương đúng là tên một người thì trước đây đã có người dùng, sau nầy phải có người dùng, và bây giờ cũng phải có người dùng; suy ra, Can-Tương là "Cường".

2/ MẠC TÀ:
... chưa thấy có ai trong sử sách có tên là "Mà", "Tà" hay "Mạ" "tà", phiên âm nầy chỉ theo Mân Việt ngữ mới có nghĩa, đọc là "Bạc-ghé'' > "Bé", còn một cách đọc khác là "mo-ghé" ra âm "Moẽ"- (Moẽ là bé gái), ở đâu có người Triều-Châu và tiếng Mân-Việt thì có người gọi con gái là "Moẽ", ở đâu có người Việt là ở đó có người gọi con gái là "Bé"

*** Ghi chú: Tiếng Mân-Việt là Phước Kiến và Triều-Châu giữ được rất nhiều tiếng Việt Cổ Ngữ, khi phục chế ngôn ngữ Sở hay đối chiếu để rõ nghĩa thì các học giả bên Trung Quốc hay so sánh với Mân Ngữ mà tìm đáp số. 

Ngày nay chúng ta đọc là Mạc-tà, nhưng theo phân tích kỹ lưỡng của tôi thì "bạc-chsé"> tức là "Bé" là tên đúng nhất của người vợ của Can-tương > Cường.

3/CỬU KHUẨN: ... Vần phiên âm "Cửu -khuân" > là "Quân" nầy độc đáo, dù đọc theo giọng Quảng Đông / Triều Châu / Phước Kiến hay Việt Nam đều có kết quả là "Quân", đất "Quân" (Đất Quân hay Quan, Âm thanh gần nhau là tên một vùng đất nơi... được gọi là: Sở, Vậy… không thể nào là "cửu-khuẩn" vì nó hoàn toàn vô nghĩa...

4/ TRIỀU CA: kinh đô của triều Thương / Trụ Vương là Triều Ca, phiên âm giọng Việt Quảng Đông là Chsiều -Co >Chso / chsò, chính là vùng đất "Trầu" hay "Sở",  vậy không có "Triều -Ca " chỉ có "Trà" là phiên âm của Triều Ca và phát âm rất giống âm "Trầu", chỉ có chso, chsò, Trầu, Sở...

Bởi vậy cho nên không có ai tìm ra được kinh đô "Triều Ca" của Trụ Vương ở đâu.

Ngày nay người ta cho rằng Triều-Ca ở huyện Kỳ của tỉnh Hà Nam... và đó cũng là lý do tôi tin rằng Trụ Vương / nhà Thương là người Việt vì kinh đô Mang tên "Triều- ca" thì chính là Sở, và vua nhà Thương họ Chữ, là con cháu đế Nghiêu,và có chứng cứ tài liệu là họ biết nuôi voi thì càng đúng là "VanLangshan" tức là Văn-Lang, thần thánh "phong phú như truyện "phong Thần" là sản phẩm của văn minh nông nghiệp lúa nước đã định cư thì mới có được truyện như vậy v. v...

Và người Việt Nam không xa lạ với họ Chữ... qua truyện "Chữ Đồng Tử";
Triều-Ca là 楚  sở. 

5/ THƯƠNG NGÔ: đọc theo phiên âm Quảng Đông là "CHSén-ngùa" > CHsùa = 楚 sở.

6/ CỨ ÂU: đọc theo phiên âm Quảng Đông "Chsìa-Ngâu" > Chsầu = 楚 sở.

7/CỘNG NHÂN: Cộng -nhân> Cân; Cong-nan> Can, Cúng -dành> Cánh; Can, cân, cánh, đều là ging Việt, mân, Quảng Đông để gọi đất "cống" (đất "Quang") là Vùng Sở.

8/ QUỈ PHƯƠNG: Quỉ -Hoang > Quang là giọng Mân Việt, Đất "Quang " là một tên khác của Đất sở,  có thể giọng "Quang" là Chính Thức vì rất phù hợp với tiếng Việt; và cũng chính là "Quang" là chủ ngữ đã sinh ra quá nhiều tên gọi theo sau: Cân / Can / Cánh, Cung, Cúng và trở thành Cống ngày nay.

19/ CỔ MUỘI: giọng phổ thông Cuà-Mi >ky hay "Kỳ".

10/ 昌意 Xương-Ý: giọng Việt Phiên-Ngung còn đọc là Chsen-ià > tức là phiên âm của Chsià 其, "Chsià" hay "Khỳ" hay "Kỳ"? "khỳ" hay "Kỳ" là tùy giọng nói của từng địa phương.

11/ 陸終 Lộc tục hay Lộc tung đều có phiên âm là > Lùn (tiếng Quảng Đông "Lùn" là Rồng), Long.

Xuyên qua những khảo cứu và đối chiếu phía trên đã đủ cho ta thấy "Bí Mật" sẽ được dần dần sáng tỏ.  

Shan 商 là Thương. Nếu Shan / Thương không bị mất vào tay Chu 周, thì thời Xuân Thu-Chiến Quốc với các nước nhỏ là Ngụy - Hàn - Triệu - Yến - Lỗ - Tề - Tần.... vẫn là một phần của Văn-Lang, là Shan 商 Thương.


SỞ là Việt, như Tư Mã Thiên đã viết trong Sử Ký là "Sở Việt đồng tông đồng tộc", và cũng thấy được nhà "Thương" - "Trụ Vương" cũng là Sở ngày trước, và còn biết được "Can-Tương" và "Mạc -Tà" tên thật là gì v. v... và người Sở là Hạng Võ và Lưu Bang lật đổ nhà Tần rồi lập nên nhà Hán, tuy xưng danh là 'nhà Hán' nhưng chính là người của nước Sở nói tiếng Sở, và Sở đó chính là "Sở" "Văn-Lang" với "Cửu-Lê / Kỳ" và ngôn ngữ chính là Việt Ngữ.

Sách "Thuyết Văn" thời Hán là đọc theo Việt Ngữ lại là một minh chứng thêm.

Sở Là Việt, là Văn Lang, người Việt làm sao quên được Văn-Lang?

Toàn bộ văn hóa Hạ, Thương, Chu, Xuân Thu - Chiến Quốc, Ngô, Việt, Sở, Văn Lang, Mân, Âu, Lạc Việt, Tần, Hán... là văn Hóa Việt.


Hoa Sử viết rằng Triều Shan (Nhà Thương) quá nhiều lần dời thủ đô, mà không nghiên cứu hoặc chối bỏ là Shan từ đâu đến! Văn-Lang đã bắc tiến từ nam... Đâu dễ gì có một ngọn núi là "Lạng Sơn" mà lại trở thành tên của một tỉnh Lạng Sơn hay Lạng-San, hay Lang-Shan, chính là tên của nước "Vănlangshan" còn sót lại khi những vùng đất kia của nước Văn-Lang đá bị đổi tên thành các vương triều và quốc gia khác nhau theo dòng lịch sử...

Vì có những ngộ nhận hay gian trá đánh tráo và hàng hàng lớp lớp bụi mờ phủ lên bề dầy lịch sử Bách Việt... cho nên bài khảo cứu nầy được suy xét rất thận trọng để làm sáng tỏ...

Sở là Việt là Văn-Lang trải dài từ phương nam lên Động Đình Hồ với nhiều đời vua với phong hiệu là Hùng Vương.

Nhạn Nam Phi / Thanh Đỗ

* Ghi chú:


Can-Tương và Mạc - Tà là tên cây kiếm và cũng là tên của cặp vợ chồng nổi danh đúc kiếm.

__________________________

- Bài nầy có tham khảo một số web sites dưới đây:

•    楚國

•    贛語的歷史

•    贛語中的古百越語詞一覽

•    贛語中的古吳語詞一覽
Nguồn

********************************************

Lời Giới Thiệu: Vì muốn tìm về cội nguồn của mình, và vì sự phát âm lơ lớ giống giống nhau của tiếng Việt và tiếng Hoa (Tàu) đã thúc đẩy tác giả Đỗ Thành đi nghiên cứu rất sâu rộng về ngôn ngữ để viết những bài này. Là người Việt gốc Triều Châu, nên may mắn biết và hiểu rành rọt hai thứ tiếng Việt và Hoa (Tàu) với những phát âm khác nhau của các tỉnh bên Tàu, đã tương đối giúp cho tác giả tìm lại được sự thật về nguồn gốc của mình.

Do đó, những bài này có tính chất khoa học khảo cổ nên khá xác thực, để cống hiến cho mỗi người sự tự do nhận định đúng hay sai về nguồn gốc của mình. Vì vậy xin bạn đừng có vội kết luận vớ vẩn là tác giả bênh Tàu cộng hay theo Việt cộng, nếu chưa thấu hiểu tận tường về vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ và văn hóa Việt-Hoa.


Nguyễn Sơn Hà
Địa lý nhà Chu bấy giờ chỉ kéo dài tới sông Hoàng Hà.

 

I
 photo Chu_Chu in seal script top and regular bottom chu now characters has been modify and refine in centuries_zpsubshtzdg.png

Chữ "Sở" hình bên trái, ban đầu viết bằng chữ nòng nọc của Việt tộc thời cổ, sau theo thời gian được cải đổi thêm thắt nhưng vẫn nhận ra gốc, chữ "Sở" hình bên phải.
Chữ nòng nọc của Vua Việt Câu Tiễn thời cổ.

image Yue

 

 

 

 

 

II
Một ngày nào đó khi toàn khối Bách Việt đều tham gia việc phục chế ngôn ngữ thì họ sẽ thấy nguồn gốc của họ.

 photo Ting_zps179b3265.jpg

 

III
Chữ Việt Cổ Ở Nam Dương Tử.



ĐỌC VÀ SUY GẪM KẾT LUẬN CỦA MỘT BÀI BÁO Ở ĐÀI LOAN

Nghiên cứu gene gần đây xác nhận rằng - Phúc Kiến, Quảng Đông, Khách Gia nhân (Hẹ) đều là hậu duệ của tộc Bách Việt. Trước tiên họ bị người Hán dùng vũ lực chinh phục, sau bị Hán hóa, rồi bị bắt phải nhận kẻ thù làm Tổ Tiên và tự nhận mình là người Hán khi người tộc Bắch Việt bị thua trận với người Hán. Họ chính là người Bách Việt mất nước, mất gốc trên chính quê hương của họ, bị dị tộc thực dân Hán thống trị hai ngàn năm mà không tự biết, ngay cả cho dù sự khác biệt về thể chất, vóc dáng và diện mạo nhìn thấy rõ ràng.

Người Hán đối với người phương Nam thực hiện chính sách Hán dân hóa (Hán nô hóa) trong lịch sử tội ác diệt chủng là một mô hình thành công nhất.

http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/chu-de/23954-ch%E1%BB%AF-vi%E1%BB%87t-c%E1%BB%95-%E1%BB%9F-nam-d%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BB%AD/

(基因研究已確認,福建、廣東、客家人都是百越民族的後代。他們先被漢人武力征服,然後漢化,再認敵人為祖,自認漢人。也就是百越人亡國又亡族,被異族殖 民統治兩千年而不自知,即使體質、面貌的差異清楚可見…但漢人對中國南方人的〝漢民化〞(漢奴化)則是史上滅族最成功的典範)。

福建人、廣東人、客家人都是漢化的百越族 基 因研究已確認,福建、廣東、客家人都是百越民族的後代。他們先被漢人武力征服,然後漢化,再認敵人為祖,自認漢人。也就是百越人亡國又亡族,被異族殖民統 治兩千年而不自知,即使體質、面貌的差異清楚可見(華北人仍有82%漢代漢人血統,且胡漢本同源)。日本人對台灣人的皇民化因時間不夠長而失敗了,但漢人 對中國南方人的〝漢民化〞(漢奴化)則是史上滅族最成功的典範。

myweb.ncku.edu.tw


(Genetic research has confirmed that Fujian, Guangdong and Hakka families are descendants of the hundred ethnic minorities.) They were first conquered by the Han, then the Chinese, and then the enemy as the ancestors, the Han nationality. That is, the hundred more people perish and the Dead clan, was alien colonial rule 2000 years without self-knowledge, even if the physique, the appearance of the difference is clearly visible...

But Han's "Han" (Han enslavement) to the south of China is the most successful model of genocide in history.

Fujian people, Guangdong people, Hakka families are Chinese hundred ethnic minorities Genetic research has confirmed that Fujian, Guangdong and Hakkas are descendants of the hundred ethnic minorities. They were first conquered by the Han, then the Chinese, and then the enemy as the ancestors, the Han nationality. That is, hundred people perish and the Dead clan, by the alien colonial rule 2000 years without self-knowledge, even if the physique, the appearance of the difference is clearly visible (North China still has 82% Han Chinese descent, and Huhan Ben homology).

The Japanese to the Taiwanese people because the time is not long enough to fail, but Han Chinese to the south of China's "Han" (Han enslavement) is the history of genocide the most successful model.

 



Bản đồ nước sở

 photo 72fdd0aeb51018c5951d663ccc345365_zps8dhnryfz.jpg

 



 photo S_zpsx63imnmc.png

 



 photo S 350 350_zpsssebvck8.png

 



 photo S - 453 BC_zpsmzchrezt.jpg

 



CH HAN ZHE TU- Lesson 1-愛,暗,安,押,音 SUMMARY OF THE DEVELOPMENT OF CH HAN https://youtu.be/1wo5V5o0BX8?si=ZTKZI10AJS71jEaq

Đánh Tư Sản Ở Miền Nam Sau 1975 (Tú Hoa) - Tài Nguyễn Diễn Đọc
https://youtu.be/nMwZN7aV734?si=FQslyULssqeX_gRG




CH HAN ZHE TU- Lesson 1-愛,暗,安,押,音 SUMMARY OF THE DEVELOPMENT OF CH HAN
https://youtu.be/1wo5V5o0BX8?si=AbGaKJjLdgakE-Lt


PHẦN 1 HỌC CHỮ HÁN NÔM Bài số 1 dựa theo sách Chữ nho tự học của Đào Mộng Nam
https://youtu.be/G44BH_KgdYc?si=PCuVTl2A0KZIenZt


HỌC CHỮ HÁN NÔM -TAM THIÊN TỰ - phiên âm: bài 1
https://youtu.be/5DJqSvi6Mpc?si=h44hgnxfnVDh25LW


Chữ nho, Chữ Nôm là gì? Giải thích siêu dễ hiểu trong 5 phút
https://youtu.be/w7kvQgbHSfE?si=NJLY67nP0i_Vwidp


Lạc bộ Trãi

MỘT SỐ CÂU THÀNH NGỮ HÁN - VIỆT
11:43

Tích thì hiền văn, hối nhữ truân truân, tập vận tăng quảng, đa kiến đa văn.
Lời hay thuở trước, răn dạy chúng ta, theo vần cóp nhặt, hiểu biết rộng ra.

Quan kim nghi giám cổ, vô cổ bất thành kim.
Xem nay nên xét xa xưa, ngày xưa chẳng có thì giờ có đâu.


Tri kỷ tri bỉ, tương tâm tỷ tâm.

Biết mình phải biết người ta, đem lòng mình để suy ra lòng người.

Tửu phùng tri kỷ ẩm, thi hướng hội nhân ngâm.
Gặp người tri kỷ ta nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm mới bạn hiền.

Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân.
Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người.

Tương phùng hảo tự sơ tương thức, đáo lão chung vô oán hận tâm. Gặp lại vui như ngày mới biết, chẳng chút ăn năn trọn tới già. Cận thủy tri ngư tính, cận sơn thức điểu âm Gần nước biết tính cá, gần núi hiểu tiếng chim Dị trướng dị thoái sơn khê thủy, dị phản dị phúc tiểu nhân tâm. Đầy nhanh rút chóng suối rừng, dễ dàng tráo trở là lòng tiểu nhân. Vận khứ kim thành thiết, thời lai thiết tự kim. Ðộc thư tu dụng ý, nhứt tự trị thiên kim. Vận hội lỡ làng vàng hoá sắt, thời cơ may mắn sắt như vàng. Đọc sách nghiền ngẫm kỹ càng, một chữ đáng giá nghìn vàng hỡi ai. Phùng nhân thả thuyết tam phân thoại, vị khả toàn phao nhứt phiến tâm. Gặp nhau trò chuyện đôi câu, chớ nên gan ruột gót đầu phơi ra. Hữu ý tài hoa hoa bất phát, vô tâm sáp liễu liễu thành âm. Dụng ý trồng hoa hoa chẳng mọc, vô tâm cắm liễu liễu lên um. Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhơn tri diện bất tri tâm. Hổ vẽ da khó vẽ xương, con người biết mặt biết lòng làm sao. Tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa trị thiên kim. Tiền của như đất bên đàng, nhân nghĩa mới thực ngàn vàng trong tay. Lưu thủy hạ than phi hữu ý, bạch vân xuất tụ bản vô tâm. Nước trôi cuối bãi đâu tình ý, mây tụ đầu non vốn tự nhiên. Đương thời nhược bất đăng cao vọng, thùy tín đông lưu hải dương thâm. Chẳng đứng cao để ngắm trông, nào ai tin được biển Đông sâu vời. Lộ dao tri mã lực, sự cửu kiến nhân tâm. Đường xa biết sưc ngựa tài, việc lâu mới thấy lòng người dở hay. Lưỡng nhân nhất ban tâm, hữu tiền kham mãi kim.

Hai người khi đã thật lòng, có tiền nên sắm vàng ròng chả sao. 18 Nhất nhân nhất ban tâm, vô tiền khan mãi châm. Mỗi người một dạ khác nhau, không tiền cũng cố mà cầu mua kim. 19 Tương kiến dị đắc hảo, cửu trụ nan vi nhơn. Mới gặp nhau tốt dễ dàng, ở lâu chưa hẳn sẵn sàng vì nhau. 20 Mã hành vô lực giai nhân sấu, nhân bất phong lưu chỉ vi bần. Ngựa không sức chạy do gầy yếu, người chẳng phong lưu chỉ vì nghèo. 21 Nhiêu nhân bất thị si hán, si hán bất hội nhiêu nhân. Người rộng lượng hẳn không si ngốc, kẻ si ngốc không thể rộng lòng. 22 Thị thân bất thị thân, phi thân khước thị thân. Chính người thân lại chẳng thân, chẳng người thân lại là thân mới kỳ. 23 Mỹ bất mỹ, hương trung thủy, thân bất thân, cố hương nhân. Chẳng trong cũng nước ao nhà, chẳng thân cũng khách quê ta đó mà. 24 Oanh hoa do phạ xuân quang lão, khởi khả giáo nhân uổng độ xuân. Chim, hoa còn sợ ngày xuân hết, chẳng lẽ con người uổng phí xuân. 25 Tương phùng bất ẩm không quy khứ, động khẩu đào hoa dã tiếu nhơn. Gặp nhau chẳng cất chén mời, hoa đào trước động cười người về không. 26 Hồng phấn giai nhân hưu sử lão, phong lưu lãng tử mạc giáo bần. Má hồng người đẹp đừng già sớm, du tử hào hoa chớ có nghèo 27 Tại gia bất hội nghinh tân khách, xuất ngoại phương tri thiểu chủ nhân. Ở nhà khách khứa chẳng mời, ra ngoài mới biết ít người mời ta. 28 Hoàng kim vô giả, a ngụy vô chân. Không giả chỉ có vàng ròng, những kẻ nịnh hót đừng mong thật thà. 29 Khách lai chủ bất cố , ưng khủng thị si nhân. Khách vào chủ chả ngó ngàng, e là kẻ đó thuộc hàng ngây ngô. 30 Bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu viễn thân. Nghèo ở chợ đông không đứa hỏi, giàu nơi núi thẳm lắm người thăm. 31 Thùy nhân bối hậu vô nhân thuyết, ná cá nhân tiền bất thuyết nhân. Ai vắng không nói chuyện người, thì trước người khác không ngồi nói ai. 32 Hữu tiền đạo chân ngữ, vô tiền ngữ bất chân. Có tiền hễ nói người tin, không tiền nói chẳng ai tin câu nào. 33 Bất tín đãn khán diên trung tửu, bôi bôi tiên khuyến hữu tiền nhân. Cứ xem bữa tiệc rượu mời, chén nào trước cũng chuốc người giàu sang. 34 Náo lý hữu tiền, tĩnh xứ an thân. Chốn huyên náo dễ kiếm tiền, nơi tĩnh mịch giữ được yên. 35 Lai như phong vũ, khứ tự vi trần. Đến như ào ạt gió mưa, khi đi sạch bóng như xua bụi trần. 36 Trường giang hậu lãng thôi tiền lãng, thế thượng tân nhân hãn cựu nhân. Trường giang sóng sau dồn sóng trước, đời người mới phải đuổi theo xưa. 37 Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt, hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân. Lầu gần mặt nước sớm trăng, cây gần ánh nắng chồi xuân nẩy nhiều. 38 Tiên đáo vi quân, hậu đáo vi thần. Mạc đạo quân hành tảo, cánh hữu tảo hành nhân. Người đến trước được làm vua, người đến sau phải nhận thua làm thần. Chớ nói anh đi sớm, còn người đi sớm hơn. 39 Mạc tín trực trung trực, tu phòng nhân bất nhân. Ngay trong ngay cũng đừng tin vội, mà hãy nên phòng nhân , chẳng nhân, 40 Sơn trung hữu trực thụ, thế thượng vô trực nhân. Núi rừng còn có cây lên thẳng, ngay thẳng trên đời chẳng có ai. 41 Tự hận chi vô diệp, mạc oán thái dương thiên (lệch lạc). 1 Tự giận cành ta không nảy lá, chớ hờn ánh nắng mặt trời nghiêng. 42 Đại gia đô thị mệnh, bán điểm bất do nhơn. Tất cả do số mệnh, chút đỉnh chẳng do người. 43 Nhất niên chi kế tại ư xuân, nhất nhật chi kế tại ư dần. Một năm lo liệu từ xuân, một ngày tính toán từ Dần tính ra. 44 Nhất gia chi kế tại ư hòa, nhất sinh chi kế tại ư cần.
Một nhà mạnh phải thuận hoà, một đời muốn sướng phải lo chuyên cần.

45 Trách nhân chi tâm trách kỷ, thứ kỷ chi tâm thứ nhân [恕 thứ: Suy bụng ta ra bụng người. Luận ngữ: Tử Cống vấn viết: Hữu nhất ngôn nhi khả dĩ chung thân hành chi giả hồ? Tử viết: Kỳ thứ hồ! Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân Ông Tử Cống hỏi rằng: Có một chữ nào mà có thể trọn đời mình làm theo chăng? Đức Khổng Tử đáp: Có lẽ là chữ thứ chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác.]
Lấy trách người để trách mình, lấy thứ mình để thứ tình cho nhau.

46 Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành.
Giữ miệng như giữ lục bình, sảy tay rơi vỡ tan tành còn chi.
Giữ ý như giữ thành trì, để giặc vào lọt còn chi là thành.

47 Ninh khả nhân phụ ngã, thiết mạc ngã phụ nhân.
Thà cho người phụ bạc ta, nhất thiết không thể là ta phụ người.

48 Tái tam tu trọng sự, đệ nhất mạc khi tâm. Việc làm ba bẩy đắn đo, một lần cũng chẳng tự cho dối lòng. 49 Hổ sinh do khả cận, nhân thục bất kham thân. Hổ lạ còn hay gần gũi được, người quen chưa hẳn đã là thân. 50 Lai thuyết thị phi giả, tiện thị thị phi nhân. Những người đến nói điều kia nọ, chính ấy con người thích nọ kia. 51 Viễn thủy nan cứu cận hỏa, viễn thân bất như cận lân. Nước xa khó chữa cháy gần, người thân xa kém hương lân gần kề. 52 Hữu trà hữu tửu đa huynh đệ, cấp nạn hà tằng kiến nhất nhân. Sẵn chè rượu lắm bạn bè, đến khi gặp nạn chẳng hề thấy ai. 53 Nhân tình tự chỉ trương trương bạc, thế sự như kỳ cục cục tân. Tình người tựa giấy tờ tờ mỏng, việc thế như cờ ván ván thay. 54 Sơn trung dã hữu thiên niên thụ, thế thượng nan phùng bách tuế nhân. Núi có cây sống ngàn năm, trên đời ít gặp cụ trăm tuổi già. 55 Lực vi hưu phụ trọng, ngôn khinh mạc khuyến nhân. Sức hèn chớ vác nặng nhiều, nói không trọng lượng chớ điều khuyên ai. 56 Vô tiền hưu nhập chúng, tao nạn mạc tầm thân. Không tiền chớ đến chỗ đông, gặp nạn chớ đến cậy trông thân tình. 57 Bình sinh mạc tác trứu my sự, thế thượng ưng vô thiết xỉ nhân. Việc làm không có trau mày nghĩ, cuộc sống đâu có kẻ nghiến răng. 58 Sĩ giả quốc chi bảo, nho vi tịch thượng trân. Kẻ sĩ, nước nhà xem vốn quý, muôn đời, thiên hạ trọng nhà nho. 59 Nhược yếu đoạn tửu pháp, tỉnh nhãn khán túy nhân. Muốn tìm thuốc chữa nghiện, khi tỉnh xem người say. 60 Cầu nhân tu cầu anh hùng hán,tế nhân tu tế cấp thì vô. Cầu người chọn mặt anh hùng, giúp người giúp lúc bần cùng khốn nguy. 61 Khát thời nhất trích như cam lộ, túy hậu thiêm bôi bất như vô. Khi khát một giọt như nước thánh, đã say thêm chén chẳng bằng không. 62 Cửu trú lệnh nhân tiện, bần lai thân dã sơ. Người ở nhờ lâu thành rẻ rúng, nghèo đến nhà thân cũng hóa sơ. 63 Tửu trung bất ngữ chân quân tử, tài thượng phân minh đại trượng phu. Rượu say không nói là quân tử, tiền của phân minh ấy trượng phu. 64 Xuất gia như sơ, thành Phật hữu dư. Tu hành sau trước như nhau, thì thành chính quả hoả hầu có dư. 65 Tích kim thiên lượng, bất như minh giải kinh thư. Vàng đầy ngàn lạng để dành, không bằng thấu tỏ rõ rành sách kinh. 66 Dưỡng tử bất giáo như dưỡng lư, dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư. Nuôi trai chẳng dạy, nuôi lừa; nuôi gái chẳng dạy chẳng thà nuôi heo. 67 Hữu điền bất canh thương lẫm hư, hữu thư bất độc tử tôn ngu. Có ruộng chẳng gắng cấy cày, kho không để chịu tháng ngày thiếu ăn. Có sách chẳng cố học chăm, con cháu ngu dốt có gì sai đâu. 68 Thương lẫm hư hề tuế nguyệt phạp, tử tôn ngu hề lễ nghĩa sơ. Nghĩa như câu trên 69 Đồng quân nhất dạ thoại, thắng độc thập niên thư. Cùng anh trò chuyện một đêm, còn hơn đọc sách mười năm miệt mài. 70 Nhân bất thông kim cổ, mã ngưu như khâm cư. Người không thông hiểu xưa nay, khác nào trâu ngựa được may áo quần. 71 Mang mang tứ hải nhân vô số, ná cá nam nhi thị trượng phu. Con người vô số trên đời, mấy trang nam tử đáng người trượng phu. 72 Bạch tửu nhưỡng thành diên hảo khách, hoàng kim tán tận vị thu thư. Rượu ngon thiết bạn tâm đầu, vàng mười tiêu hết mong mua sách về. 73 Cứu nhân nhất mệnh, thắng tạo thất cấp phù đồ. Dù xây bảy cấp phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người. 74 Thành môn thất hỏa, ương cập trì ngư. Cổng thành bị cháy một khi, ao cá bỗng bị vạ lây bất ngờ. 75 Đình tiền sanh thụy thảo, hảo sự bất như vô. Trước sân dù mọc cỏ thơm, tốt lành có chuyện chẳng hơn thanh nhàn. 76 Dục cầu sanh phú quý, tu hạ tử công phu. Muốn tìm phú quý lâu dài, phải chịu gian khổ miệt mài công phu. 77 Bách niên thành chi bất túc, nhất đán hoại chi hữu dư. Trăm năm chưa đủ làm xong,còn như huỷ hoại chỉ trong sớm chiều. 78 Nhân tâm tự thiết, quốc pháp như lô. Lòng người như sắt như gang, luật pháp lò lửa luyện nên rắn mềm. 79 Thiện hóa bất túc, ác hóa hữu dư. Hoá trở nên tốt khó thay, biến thành ra xấu được ngay tức thì. 80 Thủy thái thanh tắc vô ngư, nhân thái khẩn tắc vô trí. Nước quá trong cá chẳng còn, người quá nóng vội trí khôn kém nhiều. 81 Tri giả giảm bán, tỉnh giả toàn vô. Người biết nếu giảm một nửa, kẻ khôn không biết tìm đâu bây giờ. 82 Tại gia do phụ, xuất giá tòng phu. Ở nhà vâng ý mẹ cha, đến khi xuất giá thì ta theo chồng 83 Si nhân úy phụ, hiền nữ kính phu. Kẻ ngốc sợ vợ đủ điều, gái ngoan hiền thục kính yêu người chồng. 84 Thị phi chung nhật hữu, bất thính tự nhiên vô. Chuyện thị phi suốt ngày sẵn có, chẳng để tai nó tự như không. 85 Ninh khả chính nhi bất túc, bất khả tà nhi hữu dư. Thà rằng chính trực mà thiếu thốn, chứ không khuất tất để dư thừa. 86 Ninh khả tín kỳ hữu, bất khả tín kỳ vô. Hãy cứ tin vào điều đã có, chẳng nên tin tưởng chỗ không đâu. 87 Trúc li mao xá phong quang hảo, đạo viện tăng phòng tổng bất như. Giậu tre nhà lá quang cảnh đẹp, đạo quán tăng phòng vẫn kém xa. 88 Mệnh lý hữu thì chung tu hữu, mệnh lý vô thì mạc cưỡng cầu. Số mà đã có ắt nên, số mà không có cầu xin làm gì. 89 Đạo viện nghinh tiên khách, thư đường ẩn tướng nho. Nơi đạo viện đón khách tiên, chốn thư đường ẩn bậc hiền tướng nho. 90 Đình tài thê phượng trúc, trì dưỡng hóa long ngư. Sân trồng cây trúc cho phượng đỗ, ao chứa thần ngư đợi hoá rồng. 91 Kết giao tu thắng kỷ, tự ngã bất như vô. Kết bạn chọn kẻ hơn ta, nếu như ta cũng chẳng thà bằng không. 92 Đãn khán tam ngũ nhật, tương kiến bất như vô. Những để mắt xem dăm bảy bữa, lần đầu mới gặp cũng như không. 93 Nhân tình tự thủy phân cao hạ, thế sự như vân nhậm quyển thư . Tình người mực nước thấp cao, việc thế mây trôi cuốn vào trải ra. 94 Hội thuyết thuyết đô thị, bất hội thuyết vô lễ. Người hay càng nói càng hay, người dở cất miệng biết ngay dở òm. 95 Ma đao hận bất lợi, đao lợi thương nhân chỉ. Mài dao chỉ giận dao không sắc, dao sắc coi chừng dễ đứt tay. 96 Cầu tài hận bất đắc, tài đa hại tự kỷ. Cầu tài chỉ lo không nhiều của, của nhiều dễ hại đến mình ngay. 97 Tri túc thường túc, chung thân bất nhục. Biết đủ thường hãy tạm vừa, suốt đời không thể bao giờ nhục thân. 98 Tri chỉ thường chỉ, chung thân bất sỉ. Biết dừng thường hãy dừng tay, trọn đời ta trách được phần hổ ngươi. 99 Hữu phúc thương tài, vô phúc thương kỷ. Có phúc hao tổn tiền tài, vô phúc thương tổn họa tai đến người. 100 Sai chi hào ly, thất chi thiên lý. Sai sót một ly, mất đi nghìn dặm. 101 Nhược đăng cao tất tự ti, nhược thiệp viễn tất tự nhĩ. Lên cao từ thấp mà lên, bơi xa từ chỗ nông quèn mà xa. 102 Tam tư nhi hành, tái tư khả hĩ. Đắn đo ba bận mới làm, nghĩ kỹ thêm nữa mới mong không nhầm. 103 Sử khẩu bất như tự tẩu, cầu nhân bất như cầu kỷ. Miệng sai làm lấy còn hơn, nhờ người chẳng tốt nhờ luôn chính mình. 104 Tiểu thời thị huynh đệ, trưởng đại các hương lý. Nhỏ còn ruột thịt trong nhà, lớn lên mỗi đứa một phương chia lìa. 105 Đố tài mạc đố thực, oán sinh mạc oán tử. Oán khi sống chớ hờn khi chết,ghen tiền tài chớ ghét miệng ăn. 106 Nhân kiến bạch đầu sân, ngã kiến bạch đầu hỉ. Người thấy bạc đầu chừng oán giận, ta nay đầu bạc chẳng ưu sầu. 107 Đa thiểu thiếu niên vong, bất đáo bạch đầu tử. Biết bao nhiêu kẻ còn niên thiếu, đã chết từ khi chửa bạc đầu. 108 Tường hữu phùng, bích hữu nhĩ. Tường có mạch, vách có tai. 109 Hảo sự bất xuất môn, ác sự truyền thiên lý. Việc tốt chẳng ra khỏi nhà, việc xấu thì chóng lan ra khắp vùng. 110 Tặc thị tiểu nhơn, trí quá quân tử. Gian phi là giống tiểu nhân, nói về cơ trí hơn quân tử nhiều. 111 Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hĩ. Quân tử bền chí lúc cùng, tiểu nhân cùng sẽ lung tung làm càn. 112 Bần cùng tự tại, phú quý đa ưu. Nghèo khó tự tại thung dung,giàu sang lắm nỗi mông lung ưu sầu. 113 Bất dĩ ngã vi đức, phản dĩ ngã vi cừu. Chẳng coi ta kẻ làm ơn, mà coi ta ta lại tệ hơn kẻ thù. 114 Ninh hướng trực trung thủ, bất khả khúc trung cầu. Hướng mình thu nhận nơi ngay thẳng, chẳng cần cầu cạnh chốn cong queo. 115 Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu. Làm người chẳng biết lo xa, hẳn là sầu muộn sảy ra cũng gần. 116 Tri ngã giả vi ngã tâm ưu, bất tri ngã giả vị ngã hà cầu. Hiểu ta thì bảo ta lo, không hiểu ta bảo ta cần làm chi. 117 Tình thiên bất khẳng khứ, chỉ đãi vũ lâm đầu. Tạnh khô chẳng chịu đi cho, đợi mưa lướt thướt lần mò bước ra. 118 Thành sự mạc thuyết, phúc thủy nan thu. Làm được việc chớ nói nhiều, nước mà bị đổ khó chiều vét lên. 119 Thị phi chỉ vị đa khai khẩu, phiền não giai nhân cưỡng xuất đầu. Phiền não đều do ra mặt vội, rắc rối chỉ bởi lắm lời thôi. 120 Nhẫn đắc nhất thời chi khí, miễn đắc bách nhật chi ưu. Nén được cơn giận nhất thời, bớt đi được nỗi sầu lo trăm ngày. 121 Cận lai học đắc ô quy pháp, đắc súc đầu thì thả súc đầu. Gần đây học cách con rùa, lúc nào phải rụt thì ta rụt đầu. 122 Cụ pháp triêu triêu lạc, khi công nhật nhật ưu. Tuân pháp luật dạ nhẹ nhàng, việc công dối trá băn khoăn tối ngày. 123 Nhân sinh nhất thế, thảo sinh nhất xuân. Con người sinh sống một đời, cỏ cây nảy nở một thời tiết xuân. 124 Bạch phát bất tuỳ lão nhân khứ, khan khan hựu thị bạch đầu ông. Tóc bạc chẳng bỏ người già, trông qua trông lại thành ông bạc đầu. 125 Nguyệt đáo thập ngũ quang minh thiểu, nhân đáo trung niên vạn sự hưu. Trăng mười lăm đã chừng bớt sáng, người tuổi trung niên mọi chuyện dừng. 126 Nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc, mạc vị nhi tôn tác mã ngưu. Cháu con có phúc cháu con, chớ vì con cháu mà làm ngựa trâu. 127 Nhân sinh bất mãn bá, thường hoài thiên tuế ưu. Đời người sống chẳng đầy trăm, thường ôm ấp những ngàn năm lo phiền. 128 Kim triêu hữu tửu kim triêu túy, minh nhật sầu lai minh nhật ưu. Hôm nay có rượu ta say đã, ngày mai buồn đến ngày mai buồn. 129 Lộ phùng hiểm xứ nan hồi tị, sự đáo đầu lai bất tự do. Đường đi hiểm trở sao tránh khỏi, sự đã đến rồi khó tự do. 130 Dược năng y giả bệnh, tửu bất giải chân sầu. Thuốc chữa được bệnh chưa sâu, rượu sao khuây nổi nỗi sầu thấm xương. 131 Nhân bần bất ngữ, thủy bình bất lưu. Người nghèo biết nói năng chi, mặt nước bằng phẳng sức gì lưu thông. 132 Nhất gia hữu nữ bách gia cầu, nhất mã bất hành bách mã ưu. Một nhà có gái trăm nhà hỏi, một ngựa không đi trăm ngựa lo. 133 Hữu hoa phương chước tửu, vô nguyệt bất đăng lâu. Có hoa chuốc rượu vì hoa, trăng kia chẳng mọc lên lầu làm chi. 134 Tam bôi thông đại đạo, nhất túy giải thiên sầu. Nhấp ba ly tỏ đạo trời, một cơn say giải ngàn đời sầu bi. 135 Thâm sơn tất cánh tàng mãnh hổ, đại hải chung tu nạp tế lưu. Rừng sâu ẩn chứa loài hổ dữ, biển lớn tận thu mọi nhánh sông. 136 Tích hoa tu kiểm điểm, ái nguyệt bất sơ đầu. Tiếc hoa nên phải giữ gìn, yêu trăng chớ có chải đầu làm chi. 137 Đại để tuyển tha cơ cốt hảo, bất sát hồng phấn dã phong lưu. Kén người da thịt mịn màng, chẳng cần trang điểm vẫn là phong lưu. 138 Thụ ân thâm xứ nghi tiên thoái, đắc ý nùng thì tiện khả hưu . Chỗ ơn sâu nặng nên rút trước, gặp thời đắc ý phải nên thôi. 139 Mạc đãi thị phi lai nhập nhĩ, tòng tiền ân ái phản vi cừu. Đừng nghe hay dở lọt tai, mà ân ái trước từ nay thành thù. 140 Lưu đắc ngũ hồ minh nguyệt tại, bất sầu vô xứ hạ kim câu. Giữ được ngũ hồ trăng sáng mãi, chẳng lo không chốn để buông câu. 141 Hưu biệt hữu ngư xứ, mạc luyến thiển than đầu. Đừng rời nơi có cá, chớ luyến bãi đậu nông. 142 Khứ thì chung tu khứ, tái tam lưu bất trú. Cần đi phải quyết ra đi, chứ đừng lưu lại chỉ vì mời dai. 143 Nhẫn nhất cú, tức nhất nộ, nhiêu nhất trước, thoái nhất bộ. Nhịn một câu, nén một giận, tha một lần, lùi một bước 144 Tam thập bất hào, tứ thập bất phú, ngũ thập tương lai tầm tử lộ. Ba mươi chẳng sang, bốn mươi chẳng giàu, năm mươi sắp sửa tìm đường về cõi âm. 145 Sinh bất nhận hồn, tử bất nhận thi. Sống chẳng nhận hồn, chết không nhận xác. 146 Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt, phu thê nghĩa trọng dã phân ly. Cha mẹ ơn sâu còn cách biệt, vợ chồng nghĩa nặng cũng chia phôi. 147 Nhân sinh tự điểu đồng lâm túc, đại hạn lai thời các tự phi. Người như chim ở chung rừng, khi tai nạn tới đều vùng tự bay. 148 Nhân thiện bị nhân khi, mã thiện bị nhân kỵ. Người lành tất bị người bắt nạt, ngựa lành ắt bị người ta cưỡi liền. 149 Nhân vô hoạch tài bất phú, mã vô dã thảo bất phì. Tiền không bất nghĩa sao giàu nổi, ngựa không cỏ tối béo làm sao. 150 Nhân ác nhân phạ thiên bất phạ, nhân thiện nhân khi thiên bất khi. Kẻ ác người sợ trời không sợ, người hiền người khinh trời chẳng khinh. 151 Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì. Thiện ác cuối cùng rồi sẽ báo, chỉ còn sớm muộn đó mà thôi. 152 Hoàng hà thượng hữu trừng thanh nhật, khởi khả nhân vô đắc vận thời. Hoàng hà còn có hôm trong, con người sao thể mãi không gặp thời. 153 Đắc sủng tư nhục, an cư lự nguy. Được chiều chuộng nghĩ khi bị nhục, sống yên lành lo lúc khốn nguy. 154 Niệm niệm hữu như lâm địch nhật, tâm tâm thường tự quá kiều thì. Luôn nghĩ khi gặp giặc thù, hằng lo tựa lúc qua cầu chênh vênh. 155 Anh hùng hành hiểm đạo, phú quý tự hoa chi. Anh hùng ngại chi đi đường hiểm, phú quý tựa như một nhánh hoa. 156 Nhân tình mạc đạo xuân quang hảo, chỉ phạ thu lai hữu lãnh thì. Tình người chớ bảo như xuân đẹp, chỉ sợ thu sang gió lạnh lùng. 157 Tống quân thiên lý, chung tu nhất biệt. Tiễn nhau ngàn dặm thẫn thờ, cuối cùng cũng phải có giờ chia tay. 158 Đãn tương lãnh nhãn khán bàng giải, khán nhĩ hoành hành đáo kỷ thì. Lạnh lùng theo dõi con cua, đi ngang mãi vậy xem bò đến đâu. 159 Kiến sự mạc thuyết, vấn sự bất tri. Thấy việc chớ nói năng chi, hỏi việc ta chẳng biết gì mà thưa. 160 Nhàn sự hưu quản, vô sự tảo quy. Việc người chớ quản làm chi, khi không có việc sớm về cho yên. 161 Giả đoạn nhiễm tựu chân hồng sắc, dã bị bàng nhơn thuyết thị phi. Vải dù nhuộm đúng màu tươi đỏ, cũng bị người ta nói nọ kia. 162 Thiện sự khả tác, ác sự mạc vi. Việc tốt nên cố, việc xấu đừng làm. 163 Hứa nhân nhất vật, thiên kim bất di. Hứa người một vật, nghìn vàng chẳng thay. 164 Long sinh long tử, hổ sinh báo nhi. Trứng rồng lại nở ra rồng, hùm beo lại đẻ ra loài hùm beo. 165 Long du thiển thủy tao hà hí, hổ lạc bình dương bị khuyển khi. Rồng gặp nước nông tôm bỡn cợt, hổ xuống đồng bằng bị chó khinh. 166 Nhất cử thủ đăng long hổ bảng, thập niên thân đáo phượng hoàng trì. Ngước trông tên bảng hổ treo, mười năm thân đã tới ao phượng hoàng. 167 Thập niên song hạ vô nhân vấn, nhất cử thành danh thiên hạ tri. Mười năm đèn sách ai hay, thi đỗ thiên hạ biết ngay đến mình. 168 Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, nhân sinh thất thập cổ lai hi. Thông thường nợ rượu nhiều nơi có, người thọ bảy mươi vẫn hiếm mà. 169 Dưỡng nhi đãi lão, tích cốc phòng cơ. Nuôi con mong cậy lúc già, tích thóc phòng lúc mất mùa thiếu ăn. 170 Kê đồn cẩu trệ chi súc, vô thất kỳ thì. Những con mèo chó lợn gà, chăm nuôi sinh sản tính ra đúng thì. 171 Sổ khẩu chi gia, khả dĩ vô cơ hĩ. Nhà vài ba miệng kể chi, quanh năm chẳng có ngại gì thiếu ăn. 172 Thường tương hữu nhật tư vô nhật, mạc bả vô thì đương hữu thì. Ngày có thường nghĩ ngày không, chớ đợi ngày không mà trông ngày có. 173 Thì lai phong tống Đằng Vương các, vận khứ lôi oanh Tiến Phúc bi. Vận hết, sét tan bia Tiến Phúc; gặp thời gió thổi các Đằng Vương. 174 Nhập môn hưu vấn vinh khô sự, quan khán dung nhan tiện đắc tri. Bước vào chớ hỏi nhà may rủi, nhìn ngắm dung nhan biết hết mà. 175 Quan thanh thư lại sấu, thần linh miếu chúc phì. Quan liêm thư lại cũng gầy, thần thiêng đền miếu chất đầy quả hoa. 176 Tức khước lôi đình chi nộ, bãi khước hổ lang chi uy. Nén được cơn giận lôi đình, khỏi phải sợ oai lang hổ. 177 Nhiêu nhân toán chi bản, thâu nhân toán chi cơ. Bao dung là gốc tính toan, chịu thua người mới hoàn toàn trí mưu. 178 Hảo ngôn nan đắc, ác ngữ dị thi. Lời hay khó được đem làm, lời dở dễ được sẵn sàng thực thi. 179 Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy. Một lời đã trót nói ra, dẫu rằng bốn ngựa khó mà đuổi theo. 180 Đạo ngô hảo giả thị ngô tặc, đạo ngô ác giả thị ngô sư. Nói ta hay chính hại ta, nói điều ta dở chính là thầy ta. 181 Lộ phùng hiểm xứ tu đương tị, bất thị tài nhân mạc hiến thi. Gặp đường hiểm nên tránh đi, không phải người biết đọc thơ làm gì. 182 Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư, trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi. Ba người cùng đi, ắt có thầy ta, chọn người lành tốt, cố học cho hay, người không lành tốt, liệu mà sửa ngay. 183 Thiếu tráng bất nỗ lực, lão đại đồ bi thương. Lúc trẻ không cố sức, già đến những đau thương. 184 Nhân hữu thiện nguyện, thiên tất hựu chi. Con người mong muốn tốt lành,trời kia ắt hẳn cùng dành giúp cho. 185 Mạc ẩm mão thì tửu, hôn hôn túy đáo dậu. Chớ có uống rượu sớm mai, lơ mơ dở tỉnh dở say đến chiều. 186 Mạc mạ dậu thì thê, nhứt dạ thụ cô thê. Cũng đừng mắng vợ buổi hôm, suốt đêm phải chịu nằm không một mình. 187 Chủng ma đắc ma, chủng đậu đắc đậu. Trồng vừng thị lại hái vừng, trồng đậu hái đậu xin đừng kêu ca. 188 Thiên nhãn khôi khôi, sơ nhi bất lậu. Lưới trời lồng lộng bao la, tuy là thưa đấy nhưng mà khó chui. 189 Kiến quan mạc hướng tiền, tố khách mạc tại hậu. Thấy quan chớ nhìn trước, làm khách đừng ở sau. 190 Ninh thiêm nhất đẩu, mạc thiêm nhất khẩu. Thà thêm một thưng, chớ thêm một miệng. 191 Đường lang bổ thiền, khởi tri hoàng tước tại hậu. Bọ ngựa rình bắt con ve, biết đâu chim sẻ đang nhè sau lưng. 192 Bất cầu kim ngọc trùng trùng quý, đãn nguyện nhi tôn cá cá hiền. Chẳng cầu vàng ngọc cho nhiều, chỉ mong con cháu thảy đều hiền lương. 193 Nhất nhật phu thê, bách thế nhân duyên. Một ngày vợ chồng bén hơi, đó là duyên kiếp trăm đời trước sau. 194 Bách thế tu lai đồng thuyền độ, thiên thế tu lai cộng chẩm miên. Trăm kiếp tu được chung thuyền, nghìn đời tu được gối giường ngủ chung. 195 Sát nhân nhất vạn, tự tổn tam thiên. Diệt được một vạn đối phương, tự mình cũng phải tổn thương ba nghìn. 196 Thương nhân nhất ngữ, lợi như đao cát. Một lời nói hại người ta, không kém bén ngọt như là dao đâm. 197 Khô mộc phùng xuân do tái phát, nhân vô lưỡng độ tái thiếu niên. Gặp xuân cây héo đâm chồi lại, người chẳng hai lần tuổi thiếu niên. 198 Vị vãn tiên đầu túc, kê minh tảo khán thiên. Chớm khuya đi ngủ cho mau, sớm mai gà gáy ngắm bầu trời trong. Tướng tướng hung tiền kham tẩu mã, công hầu đỗ lý hảo xanh thuyền. Tầm nhìn khanh tướng thường xa rộng, đủ sức thuyền bơi với ngựa phi. 199 Phú nhân tư lai niên, cùng nhân tư nhãn tiền. Giàu có nghĩ chuyện sang năm, nghèo lo trước mắt xem nhằm vào đâu. 200 Thế thượng nhược yếu nhân tình hảo, xa khứ vật kiện mạc thủ tiền. Ở đời muốn có tình thân, đông tiền cắc bạc chớ nên cò kè. 201 Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên. Sống chết có số, giàu sang bởi trời. 202 Kích thạch nguyên hữu hỏa, bất kích nãi vô yên. Đánh đá mới có lửa lên, nếu không đánh đá khói nhen cách nào. 203 Nhân học thủy tri đạo, bất học diệc đồ nhiên. Học nên người biết thấp cao, nếu người không học biết bao phí hoài. 204 Mạc tiếu tha nhân lão, chung tu hoàn đáo lão. Chớ cười người khác tóc pha, cuối cùng rồi cũng đến ta da mồi. 205 Đãn năng y bản phận, chung tu vô phiền não. Nương theo duyên phận mà vui, thì bao phiền não không mời cũng đi. 206 Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo. Quân tử thích tiền tài, thu dùng theo đạo lý. 207 Trinh phụ ái sắc, nạp chi dĩ lễ. Gái trinh yêu sắc đẹp, trao gửi đúng lễ nghi. 208 Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo. Bất thị bất báo, nhật tử vị đáo. Ở dở gặp dở, ở hay gặp hay; nếu mà chưa gặp, vì chưa đến ngày. 210 Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. Người mà không có lòng tin, thì ai biết sẽ làm nên chuyện gì. 211 Nhất nhân đạo hảo, thiên nhân truyền thực. Một người bảo tốt: để xem; nghìn người bảo tốt mới tin: thật rồi. 212 Phàm sự yếu hảo, tu vấn tam lão. Muốn cho hoàn hảo việc ta, hãy hỏi ý kiến dăm ba cụ già. 213 Nhược tranh tiểu khả, tiện thất đại đạo. Cứ mà xét nét cỏn con, những gì đánh mất ắt còn lớn hơn. 214 Niên niên phòng cơ, dạ dạ phòng đạo. Hàng năm phòng chuyện đói nghèo, hàng đêm phòng chuyện trộm theo vào nhà. 215 Học giả như hòa như đạo, bất học giả như cảo như thảo. Học như lúa nếp lúa mùa, không học cỏ dại cỏ khô ích gì 216Ngộ ẩm tửu thì tu ẩm tửu, đắc cao ca xứ thả cao ca. Gặp nơi cần uống nên nâng chén, vui chốn hoà ca hãy hát vang. 217 Nhân phong xuy hỏa, dụng lực bất đa. Nhân gió thổi lửa, dùng sức không nhiều. 218 Bất nhân ngư phụ dẫn, chẩm đắc kiến ba đào. Ông chài nếu chẳng đưa đường,thì sao thấy biển sóng nhường ấy cao. 219 Vô cầu đáo xứ nhân tình hảo, bất ẩm tòng tha tửu giá cao. Không cầu mọi chốn tình người tốt, chớ uống theo ai giá rượu cao. 220 Tri sự thiểu thì phiền não thiểu, thức nhân đa xứ thị phi đa. Chuyện ít phiền não ít theo, biết nhiều người lắm càng nhiều thị phi. 221 Nhập sơn bất phạ thương nhân hổ, chỉ phạ nhân tình lưỡng diện đao. Chẳng lo vào núi hổ vồ, như dao hai mặt đáng lo tình người. 222 Cường trung cánh hữu cường trung thủ, ác nhân tu dụng ác nhân ma. Người ác nên dùng người ác trị, hung cường còn kẻ hung cường hơn. 223 Hội sử bất tại gia hào phú, phong lưu bất dụng trước y đa. Khéo xử đâu phải phú gia, đâu nhiều quần áo mới là phong lưu. 224 Quang âm tự tiễn, nhật nguyệt như thoa. Thời gian như tên bắn, ngày tháng tựa thoi đưa. 225 Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa. Thiên thời kém địa lợi xa, địa lợi lại kém nhân hoà xa hơn. 226 Hoàng kim vị vi quý, an lạc trị tiền đa. Vàng nén phải đâu là quý giá, yên vui ấy mới thực ngàn vàng. 227 Thế thượng vạn ban giai hạ phẩm, tư lượng duy hữu độc thư cao. Mọi nghề đều kém trên đời, duy có đọc sách ấy thời thanh cao. 228 Thế gian hảo ngữ thư thuyết tận, thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa. Lời hay sách chép từng pho, danh sơn thiên hạ thầy tu chiếm nhiều. 229 Vi thiện tối lạc, vi ác nan đào. Làm điều thiện rất sướng vui, làm việc ác tránh lưới trời được sao. 230 Dương hữu quỵ nhũ chi ân, nha hữu phản bộ chi nghĩa. Ghi ơn dê biết bù quỳ, trả nghĩa quạ mớm mồi về mẹ cha. 231 Nhĩ cấp tha vị cấp, nhân nhàn tâm bất nhàn. Mình vội người có vội đâu, người nhàn tâm lại chẳng nhàn vì sao. 232 Ẩn ác dương thiện, chấp kỳ lưỡng đoan. Nên đem điều thiện giương cao, còn như điều ác gắng sao mờ dần. 233 Thê hiền phu họa thiểu, tử hiếu phụ tâm khoan. Vợ hiền chồng ít họa, con hiếu cha yên lòng. 234 Ký trụy phủ tắng, phản cố vô ích. Nồi niêu rơi vỡ, ngoảnh trông ích gì. 235 Phiên phúc chi thủy, thu chi thực nan. Nước nghiêng đổ đi, thu về sao được. 236 Nhân sinh tri túc hà thì túc, nhân lão thâu nhàn thả thị nhàn. Con người biết đủ thì luôn đủ, cảnh già tạm nhàn ấy được nhàn. 237 Đãn hữu lục dương kham hệ mã, xứ xứ hữu lộ thấu trường an. Chỉ cần bóng mát dừng chân ngựa, khắp nẻo đều đi được đế đô. 238 Kiến giả dị, học giả nan. Trông thì dễ, học thì khó. 239 Mạc tương dung dị đắc, tiện tác đẳng nhàn khan. Đừng cho có được dễ dàng, mà coi rẻ rúng xem thường xem khinh. 240 Dụng tâm kế giảo ban ban thác, thối bộ tư lường sự sự nan. Dụng tâm tính toán đều sai, khi lùi một bước thấy đầy khó khăn.. 241 Đạo lộ các biệt, dưỡng gia nhất ban. Mỗi đường đi tuy rằng khác nẻo, với gia đình một kiểu như nhau. 242 Tòng kiệm nhập xa dị, tòng xa nhập kiệm nan. Tiện tằn dễ nhập xa hoa, xa hoa rất khó đổi ra tiện tằn. 243 Tri âm thuyết dữ tri âm thính, bất thị tri âm mạc dữ đàn. Tri âm chuyện với tri âm, chẳng tri âm gảy đàn cầm làm chi. 244 Điểm thạch hóa vi kim, nhân tâm do vị túc. Biến đá cho hoá ra vàng,vẫn chưa thoả mãn lòng tham con người. 245 Tín liễu đỗ, mại liễu ốc. Tin vào bụng dạ, bán bỏ nhà sân. 246 Tha nhân quan hoa, bất thiệp nhĩ mục. Người ta ngắm hoa, mắt chàng chẳng bận 247 Tha nhân lục lục, bất thiệp nhĩ túc. Người ta lận đận, chàng chẳng bấn chân. 248 Thùy nhân bất ái tử tôn hiền, thùy nhân bất ái thiên chung túc. Ai không thích cháu con hiền thục, ai không ưa ngàn hộc thóc kho. 249 Mạc bả chân tâm không kế giảo, nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc. Chẳng nên lo mãi xa gần, cháu con đã có phúc phần cháu con. 250 Dữ nhân bất hòa, khuyến nhân dưỡng nga. Với người bất hoà, khuyên họ nuôi ngỗng. 251 Dữ nhân bất mục, khuyến nhân giá ốc. Với người bất mục, khuyên họ chống nhà. 252 Đãn hành hảo sự, mạc vấn tiền trình. Hãy làm những việc tốt lành, chớ không cần hỏi tiền trình làm chi. 253 Hà hiệp thủy cấp, nhân cấp kế sinh. Sông hẹp thì nước chảy nhanh, người cơn nguy cấp nảy sinh chước mầu. 254 Minh tri sơn hữu hổ, mạc hướng hổ sơn hành. Biết rõ cọp trong rừng, đừng qua rừng có cọp. 255 Lộ bất hành bất đáo, sự bất vi bất thành. Đường không đi không đến, việc không làm không nên. 256 Nhân bất khuyến bất thiện, chung bất đả bất minh. Người không răn không thiện, chuông không đánh không rền. 257 Vô tiền phương đoạn tửu, lâm lão thủy khán kinh. Hết tiền chừa rượu chậm rồi, già mới đọc sách chao ơi muộn màng. 258 Điểm tháp thất tằng, bất như ám xứ nhất đăng. Thắp sáng khắp bảy tầng lầu, không bằng chỗ tối cho nhau ngọn đèn. 259 Vạn sự khuyến nhân hưu man muội, cử đầu tam xích hữu thần minh. Muôn sự khuyên ai đừng ám muội, ngẩng đầu ba thước có thần minh. 260 Đãn tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh. Những còn tấc đất dày âm đức, để lại cho con cháu cấy cày. 261 Diệt khước tâm đầu hỏa, tích khởi Phật tiền đăng. Nếu hay dập tắt lửa lòng, thì là ta đã đèn chong phật tiền. 262 Tinh tinh thường bất túc, mộng mộng tác công khanh. Sành sõi thì thường không đủ sống, lơ mơ hoá lại được công khanh. 263 Chúng tinh lãng lãng, bất như cô nguyệt độc minh. Muôn sao lấp lánh đầy trời, không bằng một mảnh trăng soi khắp vùng. 264 Huynh đệ tương hại, bất như tự sinh. Anh em cành lại lấn cành, sao bằng tự lực một mình còn hơn. 265 Hợp lý khả tác, tiểu lợi mạc tranh. Những điều hợp lý nên làm, những món lợi nhỏ chớ tham tranh giành. 266 Mẫu đơn hoa hảo không nhập mục, táo hoa tuy tiểu kết thật thành. Mẫu đơn hoa đẹp ngắm chơi, táo hoa nhỏ xíu nhưng rồi có ăn. 267 Khi lão mạc khi tiểu, khi nhân tâm bất minh. Dối già chớ dối trẻ con, dối người lòng dạ đâu còn thông minh. 268 Tùy phận canh sừ thu địa lợi, tha thì bão noãn tạ thương thiên. Yên phận cày bừa thu hoạch khá, gặp thời no ấm tạ trời xanh. 269 Đắc nhẫn thả nhẫn, đắc nại thả nại. Cần nhin thì nhịn, cần nín thì nín. 270 Bất nhẫn bất nại, tiểu sự thành đại. Không nhịn không nín, việc nhỏ thành lớn. 271 Tương luận sính anh hùng, gia kế tiệm tiệm thoái. Bàn luận ra vẻ anh hùng, thì rồi gia kế coi chừng đi lui. 272 Hiền phụ lệnh phu quý, ác phụ lệnh phu bại. Vợ hiền chồng được giàu sang, vợ ác chồng phải tan hoang cửa nhà. 273 Nhất nhân hữu khánh, triệu dân hàm lại. Một người có phúc đứng đầu, triệu dân trông cậy ơn sâu đời đời. 274 Nhân lão tâm vị lão, nhân cùng chí mạc cùng. Người già lòng vẫn trẻ trung, người quẫn nhưng chí chẳng cùng mới hay. 275 Nhân vô thiên nhật hảo, hoa vô bách nhật hồng. Người không tốt cả nghìn ngày, hoa không giữ đủ trăm ngày thắm tươi. 276 Sát nhân khả thứ, tình lý nan dung. Giết người sao có thể tha, cả tình cả lý hai đà không dung. 277 Sạ phú bất như tân thụ dụng, sạ bần nan cải cựu gia phong. Mới giàu sướng nhất tiêu pha, mới nghèo khó đổi nếp nhà xa xưa. 278 Tọa thượng khách thường mãn, tôn trung tửu bất không. Khách vui kín cả chỗ ngồi, rượu vui chớ để chén vơi cầm chừng. 279 Ốc lậu cánh tao liên niên vũ, hành thuyền hựu ngộ đả đầu phong. Nhà dột lại gặp mưa dầm, đi thuyền lại bị gió đâm ngang đầu. 280 Duẩn nhân lạc thác phương thành trúc, ngư vị bôn ba thủy hóa long. Măng do bóc bẹ nên thành trúc, cá có bôn ba mới hoá rồng. 281 Ký đắc thiếu niên kỵ trúc mã, khán khán hựu thị bạch đầu ông. Nhớ hồi ngựa trúc nhong nhong, nhìn xem giờ đã nên ông bạc đầu. 282 Lễ nghĩa sanh ư phú túc, đạo tặc xuất ư bần cùng. Lễ nghĩa sinh tự giàu sang, trộm cướp nảy tự bần cùng mà ra. 283 Thiên thượng chúng tinh giai củng bắc, thế gian vô thủy bất triều đông. Trên trời muôn sao chầu Bắc đẩu, thế gian mọi dòng chảy về Đông. 284 Quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh. Quân tử vui với cảnh nghèo, thấu tình người thể thuận theo lẽ đời. 285 Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành, lương dược khổ khẩu lợi ư bệnh. Lời thẳng trái tai mau được việc, thuốc hay đắng miệng khỏi cơn đau. 286 Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong. Thuận với tự nhiên thì tồn tại, chẳng theo quy luật ắt tiêu vong. 287 Nhân tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong. Người vì tham của chết oan, chim vì tham thực vạ mang vào mình. 288 Phu thê tương hợp hảo, cầm sắt dữ sênh hoàng. Vợ chồng vui vẻ thuận hoà, khác nào đàn nhị sênh ca nhịp nhàng. 289 Hữu nhi bần bất cửu, vô tử phú bất trường. Có con nghèo cũng chằng lâu, không con thì dẫu có giầu chẳng dai. 290 Thiện tất thọ lão, ác tất tảo vong. Ở lành ắt hẳn sống lâu, ở ác ắt hẳn chết mau chẳng chầy. 291 Sảng khẩu thực đa thiên tác bệnh, khoái tâm sự quá khủng sinh ương. Sướng miệng ăn nhiều sinh bệnh tật, việc khi vui quá sợ tai ương. 292 Phú quý định yếu an bản phận, bần cùng bất tất uổng tư lương. Giàu sang được phận giàu sang, nghèo nàn cũng mặc nhọc lòng làm chi. 293 Họa thủy vô phong không tác lãng, tú hoa tuy hảo bất văn hương. Nước vẽ gió không mà có sóng, hoa thêu đẹp vậy thiếu mùi hương. 294 Tham tha nhất đẩu mễ, thất khước bán niên lương. Vì tham một đấu gạo thôi, để cho mất nửa năm trời thóc lương. 295 Tranh tha nhất cước đồn, phản thất nhất trửu dương. Tranh giành một cẳng lợn lòi, trở thành mất đứt một đùi sơn dương. 296 Long quy vãn động vân do thấp, xạ quá xuân sơn thảo mộc hương. Rồng về động cũ mây còn ẩm, cày vượt rừng xuân cỏ vẫn thơm. 297 Bình sinh chỉ hội lượng nhân đoản, hà bất hồi đầu bả tự lường. Chuyên đi xét nét lỗi người, sao không quay lại mà soi lòng mình. 298 Kiến thiện như bất cập, kiến ác như thám thang. Thấy lành, lo chậm tham gia; thấy ác, chạm nước nóng già, rụt tay. 299 Nhân bần chí đoản, mã sấu mao trường. Người nghèo chí khí cũng nông, ngựa gầy trông đến bộ lông cũng dài. 300 Tự gia tâm lý cấp, tha nhân vị tri mang. Tự trong nhà rối bòng bong, người ngoài đã biết vân mòng nào đâu. 301 Bần vô đạt sĩ tương kim tặng, bệnh hữu cao nhân thuyết dược phương. Nghèo không kẻ tốt mang vàng giúp, bệnh sẵn người lành mách thuốc cho. 302 Xúc lai mạc dữ thuyết, sự quá tâm thanh lương. Gặp va chạm chẳng đối lời, việc qua đi dạ thảnh thơi thanh nhàn. 303 Thu chí mãn sơn đa tú sắc, xuân lai vô xứ bất hoa hương. Thu tới núi rừng màu sắc đẹp, xuân về khắp chốn ngát hoa hương. 304 Phàm nhân bất khả mạo tướng, hải thủy bất khả đẩu lường. Người ta không thể tin tướng mặt, nước biển làm sao lấy đấu đong. 305 Thanh thanh chi thủy, vi thổ sở phòng. Dòng nước trong xanh, bị bờ đất chắn. 306 Tế tế chi sĩ , vị tửu sở thương . Kẻ sĩ đứng đắn, vì rượu ngả nghiêng. 307 Khao thảo chi hạ, hoặc hữu lan hương. Hoặc có hoa lan giữa vùng cỏ dại. 308 Mao từ chi ốc, hoặc hữu hầu vương. Hoặc có công hầu dưới mái nhà tranh. 309 Vô hạn chu môn sanh ngạ biễu, kỷ đa bạch ốc xuất công khanh. Biết bao cửa son sinh đói rách, có nhiều lều nát nảy công khanh. 310 Túy hậu kiền khôn đại, hồ trung nhật nguyệt trường. Tỉnh rượu trời đât cao rộng quá, trong say ngày tháng thảnh thơi thay. 311 Vạn sự giai dĩ định, phù sinh không bạch mang. Vạn sự trên đời như định sẵn, khổ cho cuộc sống cứ lo toan. 312 Thiên lý tống hào mao, lễ khinh nhân nghĩa trọng. Cỏn con nghìn dặm gửi đi, lễ kia nặng một tình này gấp trăm. 313 Nhất nhân truyền hư, bách nhân truyền thật. Một người truyền chuyện không đâu, trăm người truyền lại thực hầu như in. 314 Thế sự minh như kính, tiền trình ám tự tất. Việc đời sáng tự tấm gương, mà đường phía trước tối nhường sơn đen. 315 Quang âm hoàng kim nan mãi, nhứt thế như câu quá khích. Thời gian quí báu hơn vàng, cuộc đời bóng ngựa qua song chóng tàn. 316 Lương điền vạn khoảnh, nhật thực nhất thăng. Vạn khoảnh ruộng liền, ngày ăn một đấu. 317 Đại hạ thiên gian, dạ miên bát xích. Nghìn gian nhà rộng, đêm ngủ nửa gian. 318 Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên. Nghìn kinh vạn điển dẫu nhiều, nhưng điều hiếu nghĩa là điều trước tiên. 319 Nhất tự nhập công môn, cửu ngưu đà bất xuất. Một chữ đưa vào cửa công, dẫu chín trâu khoẻ chớ hòng lôi ra. 320 Nha môn bát tự khai, hữu lý vô tiền mạc tiến lai. Cửa nha môn mở công khai, lý nhiều tiền ít chớ hoài tới nơi. 321 Phú tòng thăng hợp khởi, bần nhân bất toán lai. Giàu gom từng đấu mà nên, nghèo vì tính toán ta xem kém người. 322 Gia trung vô tài tử, quan tòng hà xứ lai. Trong nhà con chẳng tài năng, muốn nên quan hỏi mở đường từ đâu. 323 Vạn sự bất do nhân kế giảo, nhất sinh đô thị mệnh an bài. Muôn việc phải đâu người tính rắp, một đời như đã sắp bài xong. 324 Cấp hành mạn hành, tiền trình chỉ hữu đa thiểu lộ. Dù ai đi chậm đi nhanh, đoạn đường phía trước rành rành bấy nhiêu. 325 Nhân gian tư ngữ, thiên văn nhược lôi. Chuyện kín thế gian, trời nghe tựa sấm. 326 Ám thất khuy tâm, thần mục như điện. Lòng tà ngõ tối, thần thấy như gương. 327 Nhất hào chi ác, khuyến nhân mạc tác. Điều ác một mảy, khuyên người chớ làm 328 Nhất hào chi thiện, dữ nhân phương tiện. Điều thiện một mảy, cùng người góp công. 329 Khi nhân thị họa, nhiêu nhân thị phúc. Lừa người phải tội, giúp người được lành. 330 Thiên nhãn khôi khôi, báo ứng thậm tốc. Mắt trời vời vợi, báo ứng rất nhanh. 332 Thánh hiền ngôn ngữ, thần khâm quỷ phục. Những lời nói bậc thánh hiền, quỷ ma khâm phục thần tiên nể vì. 333 Nhân các hữu tâm, tâm các hữu kiến. Mỗi người đều có tấm lòng, mỗi lòng mỗi khác không cùng như nhau. 334 Khẩu thuyết bất như thân phùng, nhĩ văn bất như mục kiến. Miệng nói không bằng mình gặp, tai nghe không bằng mắt thấy. 335 Dưỡng quân thiên nhật, dụng tại nhứt triêu. Nuôi quân nghìn ngày, dùng trong một sớm. 336 Quốc thanh tài tử quý, gia phú tiểu nhi kiêu. Đất nước thanh bình tài tử quí, gia đình giàu có trẻ con kiêu. 337 Lợi đao cát thể ngân dị hợp, ác ngữ thương nhân hận bất tiêu. Lưỡi đao cắt thịt mau liền vết, lời ác hại người hận khó quên. 338 Công đạo thế gian duy bạch phát, quý nhân đầu thượng bất tằng nhiêu. Thế gian đầu bạc là công nhất, kể cả quan to cũng chằng tha. 339 Hữu tiền kham xuất chúng, vô y lãn xuất môn. Sẵn tiền hay đến đám đông, thiếu áo thì rất ngại ngùng đi ra. 340 Vi quan tu tác tướng, cập đệ tất tranh tiên. Làm quan làm thừa tướng, đi thi phải đỗ đầu. 341 Miêu tòng địa phát, thụ hướng chi phân. Mầm nẩy từ đất, cây nẩy ra cành. 342 Phụ tử hòa nhi gia bất thoái, huynh đệ hòa nhi gia bất phân. Cha con hoà nhà không suy thoái, anh em hoà há phải phân chia. 343 Quan hữu chính điều, dân hữu tư ước. Quan có phép, dân có lệ. 344 Nhàn thì bất thiêu hương, cấp thì bão Phật cước. Khi không chẳng chịu thắp nhang, đến khi nguy cấp ôm choàng Quan âm.

345 Hạnh sinh thái bình vô sự nhật, khủng phùng niên lão bất đa thì. May sao sinh thưở thái bình, tuổi già sợ lại rập rình đến nơi.

346 Quốc loạn tư lương tướng, gia bần tư hiền thê.
Nước nguy nhớ tướng tài năng,
nhà nghèo nhớ vợ đảm đang hiền lành.
ước nguy nhớ tướng tài năng, nhà nghèo nhớ vợ đảm đang hiền lành.

347 Trì đường tích thủy tu phòng hạn, điền địa cần canh túc dưỡng gia.
Ao chuôm chứa nước phòng khô hạn, ruộng rãy cày chăm đủ ấm no.

348 Căn thâm bất phạ phong dao động, thụ chính vô sầu nguyệt ảnh tà.
Rễ vững chẳng e cơn gió mạnh, cây ngay nào ngại bóng trăng nghiêng.

349 Phụng khuyến quân tử, các nghi thủ kỷ.
Khuyên người quân tử giữ gìn

350 Chỉ thử trình thị, vạn vô nhứt thất.
Ngần này cũng đủ yên thân trọn đời.


 



Saturday, June 9, 2018

Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản

Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản
HCM và đảng Cộng Sản Đông Dương

Tôn Thất Long

Nhìn lại lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), từ khi được thành lập cho đến nay, ta có thể luôn luôn tìm thấy được một điều căn bản, thể hiện bản chất cố định của Đảng:

- Đặt mọi ưu tiên vào sự tìm kiếm một "điểm tựa", một "sự lệ thuộc" vào các thế lực bên ngoài để xây dựng một guồng máy hữu hiệu trong một mục tiêu củng cố địa vị của một tập đoàn,

- Áp đặt độc quyền thống trị tuyệt đối của tập đoàn này lên trên mọi thành phần khác trong dân tộc Việt Nam,

- Đặt tham vọng của "tập đoàn" và của "điểm tựa" của mình lên trên lợi ích của dân tộc.

Để đạt được mục tiêu này, ĐCSVN đã nhiều lần bắt buộc phải thay đổi "đường lối" của mình cho phù hợp với các đòi hỏi của các điểm tựa bên ngoài.

Qua một vài trích dẫn từ tài liệu chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1) và một vài sự kiện lịch sử mà ngày nay hầu như các cơ quan chính thức của Đảng cũng không còn có thể phủ nhận, bài viết này muốn nêu rõ các khía cạnh khác nhau của vấn đề này, phân tích quan hệ giữa ĐCSVN và Đệ Tam Quốc Tế (ĐTQT), thành lập năm 1919 ở Moscow và giải tán năm 1943, trước khi ĐCSVN trở thành một Đảng cầm quyền ở Việt Nam vào năm 1945. Muốn nêu rõ các quan hệ này chúng ta cũng không thể không đề cập đến vai trò của Hồ Chí Minh (HCM), người đã chấp nhận không điều kiện khung khổ của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản để đem đến cho Đảng Cộng Sản Việt Nam quyền lực tuyệt đối hiện nay.

Trở thành một đảng cầm quyền từ năm 1945 cho đến nay, mặc dầu sau đó phải đánh lừa dư luận tuyên bố giải tán, Đảng Cộng Sản Việt Nam lại chịu thêm ảnh hưởng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cùng một lúc với ảnh hưởng của Phòng Thông Tin Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản (tái sinh năm 1947 của Đệ Tam Quốc Tế và giải tán năm 1956). Các phân tích trong thời kỳ này về ảnh hưởng của cộng sản quốc tế đối với ĐCSVN, mà chính yếu là các quan hệ (quan hệ "lệ thuộc thân hữu" cũng như các quan hệ "tranh chấp thù nghịch tương tàn") giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc, sẽ được đề cập trong một dịp khác.

1. HCM, vai trò phức tạp của một viên chức của Đệ Tam Quốc Tế.

HCM là một nhân vật phức tạp hay, nói cho đúng hơn, là một kịch sĩ nhà nghề đại tài, nhiều thủ đoạn, tinh ranh và biết nhẫn nhục để chờ đợi thời cơ... Đó là một nhân vật, trong suốt quá trình hoạt động của mình, đã thay đổi lập trường một cách đơn giản, đã tinh vi đóng cùng một lúc những vai trò tương phản, đối nghịch lẫn nhau, tinh xảo cướp công lao và việc làm của người khác để tô điểm cá nhân mình... đã thay đổi lập trường chính trị từ thái cực này qua thái cực khác cho đến khi nắm được quyền lực... khiến cho ai cũng đặt ra những nghi vấn về thực chất của nhân vật này.

* Trong Đảng Cộng Sản Pháp, các đồng chí của HCM thường nói rằng đó là một nhân vật "kín đáo, dễ thương, nhút nhát...", thường hay "lẫn trốn, không tham gia trực tiếp vào các tranh luận đối chọi gay gắt" và... nhờ các đức tính này đã chinh phục được lòng tin cậy của các người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Pháp để dọn đường cho sự thăng quan tiến chức của mình sau này trong Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Trong tư cách là nhân viên của Đệ Tam Quốc Tế, người ta còn tìm thấy ở HCM những đức tính khác của một nhân vật "rất ít có khuynh hướng về lý thuyết", một nhân vật "thực tiển", trong mọi hoàn cảnh tìm cách "tự thích ứng với mọi chỉ thị từ Moscow hay chỉ sửa đổi hình thức bên ngoài các chỉ thị này cho hợp với sở thích của mình chứ không bao giờ dám đi vào các tranh luận trực diện gay gắt", tuân theo không điều kiện nguyên tắc "trung ương tập quyền trên bình diện cách mạng quốc tế vô sản".

* Trong suốt thời gian lâu dài của hai thập niên 1920 và 1930, chắc chắn HCM đã chứng kiến các cảnh thanh trừng và tàn sát liên tiếp trong hàng ngũ ĐTQT trên lãnh thổ Liên Xô nhưng cũng đã chấp nhận các tội ác của Staline để củng cố địa vị cá nhân đã đạt được của mình trong phong trào cộng sản quốc tế cũng như vị trí lãnh đạo tối cao của mình trong tổ chức cộng sản Việt Nam. Có lẽ nhờ vào thái độ "khôn ngoan" này mà HCM đã là một trong những nhà lãnh đạo hiếm có của các phong trào cách mạng vô sản ở các nước trong vùng Đông Nam Á đã tránh được các nanh vuốt của Staline và còn sống sót được cho đến sau thế chiến thứ II.

Vài sự kiện lịch sử.

* Được trình bày trong mọi tài liệu chính thức của Đảng như là một nhân vật "xuất chúng, có một nhãn quan vượt xa các kiến thức của những nhà ái quốc bình thường đương thời... xuất dương tìm đường cứu quốc...", ngày nay người ta đã chứng minh đó là một con người tầm thường, ngay từ những ngày đầu tiên đến hải cảng Marseille năm 1911, đã viết thư (ngày 15/9/1911, ký tên Nguyễn tất Thành) cho Tổng Thống và Bộ Trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, cầu khẩn xin được vào học "Trường Thuộc Địa", bày tỏ "lòng ham muốn trở thành hữu ích đối với nước Pháp trong các quan hệ đối với người đồng hương của mình,..." để tìm kiếm cho mình một chức phận trong hệ thống thuộc địa Pháp.

Một năm sau đó, từ New York, ngày 15/12/1912, với tên mới là Paul Tất Thành và tự giới thiệu mình như là "...một người dân trọn đạo làm con (filial peuple), một kẻ tùy thuộc biết ơn...", HCM lại viết thư cho Khâm sứ Trung Kỳ: "...xin Ngài ban cho cha tôi một công việc, như là Thừa biện ở các Bộ hay Huấn đạo, Giáo thụ để cho Cha tôi sinh sống...".

* Không được thỏa mãn trong các dự định trên, người ta không tìm thấy một dấu vết nào về các hoạt động yêu nước của Nguyễn tất Thành trong các năm sau đó, cho đến sau thế chiến thứ I, lúc xuất hiện những bài báo dưới bút hiệu "Nguyễn Ái Quốc" (!), bút hiệu đấu tranh của "Nhóm những người ái quốc An Nam" (Pour le groupe des Patriotiques Annamites: Nguyễn Ái Quốc). Để lấp khoảng thời gian trống nói trên, dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, HCM đã tinh xảo tạo ra các bức thơ mà Nguyễn Tất Thành đã gởi từ Luân Đôn cho Phan Chu Trinh vào các năm 1913, 1914... chứng tỏ rằng mình đã có một quá trình hoạt động chung với các nhà cách mạng Việt Nam đương thời và cho rằng mình đã thông hiểu được cục diện thế giới hơn mọi người khác, và đã tiên đoán được tiến trình tất yếu của thế chiến thứ I.

* Tiếp đó là việc xuất hiện của một số bài báo tranh đấu chống chế độ thuộc địa và cũng nhờ đó mà dư luận mới thật sự nhận biết các hoạt động "yêu nước" của một tập thể chính trị,... trong đó có HCM. Sau này, khi đã thành công dành được chính quyền, HCM đã không ngần ngại chiếm đoạt bút hiệu chung "Nguyễn Ái Quốc" của cả tập thể đó... cho riêng cá nhân của mình, đồng thời phủ nhận và bôi bác công trình của những người khác mà ngày nay ai ai cũng đều biết đó là "Nhóm những người Ái Quốc An Nam", đã hoạt động ở Pháp, bao gồm các nhân vật như Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và... Nguyễn Tất Thành là người gia nhập sau cùng vào Nhóm. Trong các văn kiện quan trọng bị chiếm đoạt phải kể đến bản "Các yêu cầu của Dân An Nam" gởi đến Hội nghị Versailles (1918). Ngay cả các bài viết về "Bản án chế độ thực dân Pháp" xuất hiện trong khoảng thời gian 1921-1925, khi đã trở thành đảng viên của đảng cộng sản Pháp, HCM cũng không phải là tác giả duy nhất.

* Sự thành công của Cách mạng Vô sản Nga chắc chắn là một biến cố kinh hoàng làm thay đổi lịch sử nhân loại và có nhiều ý nghĩa. Quan trọng hơn cả là sự nẩy sinh ra một thế lực (hay một đế quốc) mới, có qui mô rộng lớn, hùng mạnh và đủ sức đối đầu với các đế quốc tư bản Tây phương đương thời.

Đối với các dân tộc nhược tiểu trong các thuộc địa... thế lực này rất có thể là một đồng minh cơ bản... để chống lại một kẻ thù chung là chế độ thực dân. Với chiêu bài giải phóng người lao động, bao gồm nguời vô sản và các dân tộc bị trị trong các thuộc địa, các khẩu hiệu (hịệu) của Cách mạng Vô sản, đang hăng say trong chiến thắng trên lãnh thổ rộng lớn của cựu Nga Hoàng,... chắc chắn cũng đã có một sức hấp dẫn kỳ diệu trong hàng ngũ những người yêu nước lưu vong và rất có thể đã đem lại cho họ một lý tưởng cao đẹp... Sau nữa, đối với những người đang chờ thời cơ để tiến thân và chưa tìm được một "vị trí yên ổn" cho cá nhân mình dưới chế độ thuộc địa, mặc dầu mọi nhịn nhục, đó cũng là một cơ hội hiếm có để tìm được một "điểm tựa" hữu hiệu, một "nơi trú ẩn" vững chắc... để thực hiện tham vọng cá nhân của mình, miễn là phải tìm cách chứng minh được sự trung thành tuyệt đối của mình phục vụ đế quốc mới này. Tất cả các giả thuyết này đều có thể đúng hay sai tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá nhân.

* Là thành viên Đảng Xã Hội Pháp và tham gia vào các tranh luận trong Đảng trên vấn đề gia nhập vào Đệ Nhị Quốc Tế hay vào ĐTQT, HCM theo ĐTQT, gia nhập vào Đảng Cộng Sản Pháp năm 1920 và trở thành thành viên thường trực của Ủy ban nghiên cứu các vấn đề thuộc địa. Từ đó HCM trở thành, vĩnh viễn và vô điều kiện, một người cộng sản "trung thành" của ĐTQT. Rất có thể HCM đã trở thành một người yêu nước sau một thời gian ở ngoại quốc, khi được tiếp cận với môi trường hoạt động chính trị đương thời. Cũng rất có thể HCM đã theo tiếng nói của lương tâm mình, bừng tỉnh khi đọc được văn bản "Các phác họa đầu tiên trên các Luận đề về các Dân tộc và về Thuộc địa" của Lénine (1920) như đã được giải thích trong các tài liệu chính thức của Đảng, tin tưởng tìm thấy trong "vô địch" Quốc tế Cộng sản một chỗ dựa tưởng chừng "tuyệt đối" để đạt được sự lựa chọn chính trị chính đáng này của mình. Điều cốt yếu ở đây là tìm hiểu các hậu quả chính yếu của sự lựa chọn này trong quá trình tồn tại sau đó của ĐCSVN. Bình luận biến cố này, tài liệu chính thức của Đảng (1), trang 16-17, giải thích:

"Kết luận cuối cùng mà Nguyễn Ái Quốc đã rút ra từ các công cuộc tìm tòi của mình và các tranh luận nói trên là, muốn cứu nguy đất nước và giải phóng dân tộc thì không còn con đường nào khác hơn là con đường Cách mạng Vô sản. Chỉ có Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Vô sản mới có thể giải phóng các dân tộc bị trị và tầng lớp lao động trên thế giới... Giai đoạn này đánh dấu một khúc quanh lịch sử trong cuộc đấu tranh cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, tiến hóa từ một nhà ái quốc đến một người cộng sản chân chính, khúc quanh theo đó Nguyễn Ái Quốc đã tự đặt mình hoàn toàn vào con đường của Cách mạng tháng 10/1917, của Chủ nghĩa Marx-Lénine và của Quốc tế Cộng sản".

2. Đê Tam Quốc Tế Cộng Sản và sự thành lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

- Đệ Nhất Quốc Tế Cộng Sản là phong trào cách mạng khuynh hướng xã hội được thành lập ở Londres năm 1864 và giải tán năm 1876.

- Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản - Vì sự đối nghịch giữa khuynh hướng Mác xít và khuynh hướng chủ nghĩa Vô chính phủ, vì thế nên là khuynh hướng cải cách xã hội - dân chủ, thành lập năm 1889 ở Paris, được phục hưng lại vào các năm 1923 và 1951.

- Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản là khuynh hướng cách mạng vô sản, thành lập năm 1919 ở Moscow và giải tán năm 1943, được tái sinh lại năm 1947 và giải tán năm 1956. - Đệ Tứ Quốc Tế Cộng Sản - Sau Đại Hội XX của Đảng Cộng Sản Liên Xô. Đệ Tứ Quốc Tế Cộng Sản thành lập năm 1938, là khuynh hướng "cách mạng thường trực" mà Trotsky đưa ra từ sau khi Lénine qua đời (1924), để chống lại đường lối "cách mạng vô sản trong một quốc gia" của Staline.

Vài sự kiện lịch sử.

* Sự thăng tiến của HCM trong ĐTQT rất là mau chóng. Khi các phong trào cách mạng ở Âu châu đang ở trong một thời kỳ thoái bộ, ĐTQT cảm thấy cần phải nới rộng các hoạt động vào các chân trời mới, qua các xứ thuộc địa, đang trên đà biến hóa mau chóng, nhất là ở Á châu. Năm 1923, HCM được Đảng Cộng sản Pháp chỉ định tham dự Đại hội Quốc tế Nông dân ở Moscou, sau đó được vào Ban chấp hành Trung ương Nông dân Quốc tế, đại diện các nước thuộc địa và nới rộng các hoạt động trong các quốc gia Đông Nam Á châu. Tham dự Đại hội V của Cộng sản Quốc tế ở Moscou vào tháng 5/1924, HCM đã hoàn toàn chấp nhận sự thắng lợi của lý thuyết của Staline về "Chủ nghĩa Xã hội trong một Quốc gia", chống lại lý thuyết "Cách mạng thường trực" của Trotski. Với đường lối của Staline, giai cấp vô sản ở các nước tư bản và các nước thuộc địa phải tuân theo chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscou, đặt lợi ích của Đảng Cộng sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế..., HCM được cử vào Ủy ban Tuyên truyền Cộng sản Quốc tế và Ủy ban Đông phương của Ban thường trực Cộng sản Quốc tế.

* Với tư cách mới trong ĐTQT năm 1925 HCM bí mật đến Quảng Đông thành lập "Thanh Niên Cách Mạng Hội Việt Nam" (TNCMHVN), trực thuộc ĐTQT ở miền Viễn Đông, với mục tiêu phối hợp các hoạt động chống thực dân, kết nạp các đồng chí trong số những người Việt Nam sinh sống ở Trung Quốc. Đó là tiền thân của ĐCSVN, trước khi đi đến thành lập các đảng cộng sản trong các dân tộc ở miền Đông Á. Các hoạt động này của HCM đã gặp được cơ hội thuận tiện vì được xuất hiện giữa thời kỳ phát triển cao độ của các khuynh hướng cách mạng quốc gia Duy Tân, Cải Cách ở Việt Nam cũng như phù hợp với thời kỳ hòa hoãn và hợp tác giữa ĐTQT (được quyết định trong Đại hội V, 1924) với các phong trào Cách mạng Dân tộc đương thời ở Trung Quốc và cho phép TNCMHVN tranh thủ rộng rãi các hoạt động trong nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội.

* Khi các tranh chấp giữa phong trào Cách mạng Dân tộc và phong trào Cộng sản bùng nổ năm 1927 ở Trung Quốc thì ĐTQT, qua Đại hội VI, tháng 12/1927, lại thay đổi đường lối đối với các khuynh hướng cách mạng Dân tộc, chống lại các phong trào Xã hội - Dân chủ và đề ra khẩu hiệu "Đấu tranh Giai cấp". Sự thay đổi đột ngột đường lối này của ĐTQT được các tổ chức cộng sản Việt Nam áp dụng tức khắc, đưa đấu tranh giai cấp lên hàng đầu trong các hoạt động, tự tôn mình lên vị trí lãnh đạo cách mạng, xem tất cả các khuynh hướng cách mạng dân tộc khác ở Việt Nam là kẻ thù ý thức hệ trước mắt của mình. Bàn về mục tiêu các hoạt động của TNCMHVN trong khoảng thời gian 1928-1929, tài liệu (1), trang 21 của ĐCSVN viết:

"Khía cạnh đặc biệt quan trọng nhất của phong trào cách mạng ở Đông Dương được thể hiện qua các phong trào đấu tranh quần chúng công nông dân, ngày càng trở nên rõ ràng là độc lập và không còn bị ảnh hưởng của các khuynh hướng quốc gia như trước... TNCMHVN đã được sinh trưởng lên đúng vào lúc các đấu tranh giữa hai khuynh hướng, khuynh hướng vô sản và khuynh hướng trưởng giả tư sản, đang lên cao tột độ ở Việt Nam... Nhiệm vụ cấp bách và tức thời lúc đó của TNCMHVN là phải chận đứng các phong trào Cải cách Tư sản và các phong trào cách mạng ngụy trang trưởng giả, soi sáng cho quần chúng thấy rõ đâu là cách mạng, đâu là cách mạng ngụy trang, đâu là cách mạng thật sự...".

* Từ lập trường trên, TNCMHVN chia thành hai phe chống đối nhau, một bên đòi hỏi thành lập một Đảng cách mạng vô sản thực sự theo chủ nghĩa Marx-Lénine, một bên muốn dùng chiến lược mềm dẻo cho rằng sự thành lập một ĐCSVN là một điều quá sớm. Đại hội toàn quốc TNCMHVN, họp ở Hương Cảng từ ngày 1/5/1929, bác bỏ đề nghị của Chi bộ Bắc Kỳ đòi giải tán TNCMHVN để thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Nhưng, trở về địa phương, Chi bộ Bắc Kỳ công khai tuyên bố lập trường của mình và ngày 17/6/1929 tuyên bố thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Để tranh dành ảnh hưởng và tránh khỏi bị cô lập với Quốc tế Vô sản, các phần tử cộng sản quá khích khác của TNCMHVN liền vội vã thành lập các Đảng trong địa phương của mình. Tháng 10/1929, Chi bộ Nam Kỳ họp đại hội giải tán TNCMHVN và thành lập Đảng Cộng Sản An Nam. Tháng 1/1930, các phần tử trong Tân Việt Cách Mạng Đảng cũng tuyên bố thành lập Liên Minh Cộng Sản Đông Dương. Trong khoảng thời gian ngắn sáu tháng, khủng hoảng trong các tổ chức cộng sản Việt Nam đã đạt tới mức độ cao điểm, với sự khai sinh ở Việt Nam của ba tổ chức cộng sản, độc lập với nhau, cả ba đều đòi gia nhập vào Cộng sản Quốc tế.

Đứng trước viễn ảnh tranh chấp gay gắt giữa các khuynh hướng nói trên, HCM, tự nhận là Đại diện của ĐTQT, liền gởi một lệnh thơ cho ba tổ chức cộng sản Việt Nam phải thống nhất lại với nhau trong cùng một tổ chức duy nhất trực thuộc ĐTQT. Ngày 3/2/1930, với tư cách Đại diện ĐTQT, HCM vội vàng triệu tập và chủ tọa Hội Nghị Thống Nhất được tổ chức tại Hương Cảng, quyết định thành lập ĐCSVN và đặt Đảng dưới sự điều hành của ĐTQT, thay vì tùy thuộc vào Liên Đoàn Cộng Sản Nam Hải (Mặt trận thứ hai ở miền Viễn Đông được ĐTQT thành lập ở Singapour năm 1928, sau các thất bại của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trước phong trào Cách mạng Dân tộc ở Trung Quốc) và đưa Đấu Tranh Giai Cấp lên vị trí hàng đầu. Đi xa hơn nữa, cho rằng các tình cảm dân tộc là trái với tinh thần quốc tế vô sản, tháng 10/1930, ĐCSVN đuợc đổi tên thành "Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD). Chương trình chính trị của Đảng nêu rõ, (1), trang 28-29:

"Cách mạng Đông Dương ra đời vào lúc Tư bản thế giới đang đi sâu vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lúc các đế quốc đang ráo riết chuẩn bị một cuộc chiến tranh thế giới mới để chia lại các thị trường cùng vào lúc các đấu tranh chống Đế quốc ở các nước tư bản và các xứ thuộc địa đang lên cao,... Cách mạng Đông Dương tự đặt mình trong khung khổ của Cách mạng thế giới... Các mâu thuẫn căn bản ở Đông Dương là các mâu thuẫn giữa tầng lớp các công nhân, nông dân và các người lao động chống lại các tầng lớp thực dân, phong kiến, địa chủ và tư sản... Từ đó Đề cương chính trị xác định Cách mạng Đông Dương là một Cách mạng dân chủ lãnh đạo bởi giai cấp vô sản, một Cách mạng điền địa để xóa bỏ các tàn dư phong kiến, chia lại ruộng đất cho nông dân, một Cách mạng chống thực dân để lật đổ chế độ thực dân Pháp dành độc lập trên toàn lãnh thổ Đông Dương,... tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa mà không qua giai đoạn phát triển tư bản...".

Trong tài liệu HCM Toàn tập do Nhà Xuất bản Sự thật ấn hành, ta còn có thể đọc laị các chỉ thị sau đây mà HCM viết cho Đảng Cộng Sản Đông Dương:

"Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản là một Đảng Cộng Sản thế giới. Các Đảng các nước như là các chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế thì các Đảng không được làm... Cách mệnh Việt Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới... Phải tin và đi theo chủ nghĩa cộng Sản lẫn chương trình Đảng và Quốc tế cộng sản, phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc Tế cộng sản".

Vài bình luận về sự ra đời của Cộng Sản Đông Dương.

Một sự kiện đáng được nêu rõ là, trước khi Cộng Sản Đông Dương được thành lập, mọi khuynh hướng đấu tranh đương thời ở Việt Nam đều chia sẻ cùng nhau một mục tiêu chính yếu chống lại kẻ thù chung của dân tộc là chế độ thuộc địa, xem đó là một "đồng thuận" của dân tộc, là điểm xuất phát chung của mọi phong trào yêu nước. Nếu chưa đạt được mục tiêu đưa dân tộc thoát khỏi chế độ thuộc địa thì ít nhất ai ai cũng đều có thể nhận xét rằng chưa bao giờ có một sự chia rẽ hay một sự rạn nứt giữa các thành phần khác nhau trong dân tộc trong mục tiêu trên. Vấn đề chính yếu của các phong trào yêu nước đương thời là cùng nhau học hỏi những luồng tư tưởng mới trên thế giới, tìm kiếm các mô hình tổ chức cho xã hội tương lai, trao đổi cùng nhau các khám phá mới lạ tìm thấy ở thế giới bên ngoài, chia sẻ cùng nhau những giây phút thất bại chung... trong tinh thần đối thoại và hợp tác, trong một mục tiêu chung giải thoát dân tộc khỏi chế độ thuộc địa...

Một điểm thứ hai đáng được ghi nhận là, ngay trong tổ chức cộng sản TNCMHVN, sự ra đời của Cộng Sản Đông Dương chỉ là ý chí muốn ly khai của một "thiểu số cực đoan". Bàn về Đại Đội của TNCMHVN mà hậu quả là sự ra đời sau đó của Cộng Sản Đông Dương, tài liệu chính thức (1), trang 24-25, của Đảng cũng viết:

"Đại hội toàn quốc này được tổ chức ở Hương Cảng vào ngày 1/5/1929. Đoàn Đại biểu của Chi bộ Bắc kỳ, trong đó phải kể đến Ngô Gia Tự là người cương quyết và phi thường hơn cả, đưa ra đề nghị nhằm giải tán TNCMHVN và thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đề nghị này không được chấp nhận, Đoàn Đại biểu liền rời khỏi Đại hội và trở về nước. Ngày 1/6/1929 Chi bộ Bắc kỳ ra thông cáo giải thích thái độ của mình ở Đại hội và... ngày 17/6/1929, ĐCSĐD được thành lập...".

Một nghi vấn được đặt ra ở đây là lập truờng của HCM trong vấn đề này, HCM theo phe thiểu số hay đa số của Đại hội? và, nếu ở về phía đa số, thì phải giải thích thế nào lập trường của HCM khi ĐCSĐD được thành lập sau đó? Ta sẽ trở lai chi tiết này trong phần cuối của bài viết.

Qua các sự kiện trên đây, ngay từ đầu ta có thể ghi nhận rõ ba yếu tố căn bản chi phối quá trình các hoạt động sau này của Đảng Cộng Sản Đông Dương.

* Trước tiên, nếu khởi đầu thế kỷ XX dư luận ở Việt Nam gần như đã đạt được một sự đồng thuận, đặt ưu tiên vào việc tìm kiếm các con đường đấu tranh chống lại kẻ thù chung là chế độ thuộc địa thì, với đấu tranh về ý thức hệ, sự ra đời của ĐCSĐD lại là khởi điểm của một của một cuộc nội chiến tương tàn trên đất nước và trong dân tộc Việt Nam, chỉ vì tham vọng của Đảng muốn độc quyền chiếm đoạt quyền lực. Sự lựa chọn một cách tuyệt đối ý thức hệ cộng sản, với "đấu tranh giai cấp", với "chuyên chính vô sản" và "độc quyền về chân lý", Đảng Cộng Sản Đông Dương đã tự đặt mình đối nghịch với mọi khuynh hướng đấu tranh khác ở Việt Nam, sẵn sàng chấp nhận hòa hoãn với ngoại bang, kể cả với chế độ thuộc địa,... để củng cố vị trí của mình nhưng lại xem mọi phong trào yêu nước khác là kẻ thù tiên quyết về ý thức hệ, cần phải tiêu diệt trước.

* Yếu tố căn bản thứ hai là sự chấp nhận không điều kiện lý thuyết về "Chủ nghĩa Xã Hội trong một quốc gia" của Staline, theo đó giai cấp vô sản ở các nước tư bản cũng như ở các nước thuộc địa phải tuân theo chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscow, bác bỏ lợi ích của các quốc gia và các dân tộc, đặt lợi ích của Đảng Cộng Sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế. Nói một cách khác, chưa thoát khỏi ách đô hộ của chế độ thuộc địa, ĐCSVN đã tự nguyện tin vào một lý thuyết vô tưởng, tự đặt mình như là một bộ phận của một thế lực quốc tế (mà thực tế chỉ là Đảng Cộng Sản Liên Xô), chấp nhận một cách tuyệt đối phục vụ lợi ích của thế lực này, đặt lợi ích của thế lực ngoại bang này trên cả lợi ích của cả dân tộc mình. Đối với mọi dân tộc, dầu ở một thời đại nào đi nữa, đó là một nghịch lý lố bịch, một hình thức ngụy biện, không thể chấp nhận được!!

Đi xa hơn nữa trong lý thuyết phụ thuộc vào Quốc tế Cộng sản và xem ĐTQT như là một hệ thống có đẳng cấp, sau khi Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập, HCM lại cho ghi trong Luận Cương chính trị của Đảng sự phụ thuộc của Đảng Cộng Sản Đông Dương vào các thế lực cộng sản đàn anh khác, ra đời trước Đảng Cộng Sản Đông Dương: "...Vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với Vô sản thế giới,... Đảng phải liên lạc mật thiết với Đảng cộng sản Pháp, Trung Quốc và Ấn Độ", xem đó là các điểm tựa quốc tế chắc chắn và môi trường hoạt động quan trọng để củng cố quá trình phát triển của Đảng.

* Yếu tố quan trọng thứ ba được thể hiện ngay từ ngày thành lập Đảng là việc HCM, với tư cách của Quốc Tế Vô sản, ra lệnh đổi tên của Đảng thành ĐCSĐD. Điều này có mục tiêu củng cố sự kiểm soát cuả ĐTQT trên Đảng, tách rời Đảng ra khỏi ảnh hưởng của khuynh hướng cách mạng dân tộc và đồng thời cũng thể hiện tham vọng của Đảng muốn nới rộng địa bàn hoạt động của mình lên toàn lãnh thổ Đông Dương. Sau này, khi hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc nắm được chính quyền, các tham vọng này đưa tới nhiều hậu quả trầm trọng vì đó chính là đầu mối của các tranh chấp ảnh hưởng của hai bên đối với các quốc gia khác trên bán đảo Đông Dương, nhất là từ khi ĐTQT được giải tán vào năm 1956.

3. Các thay đổi về đường lối của ĐCSĐD và của ĐTQT.

Cũng như TNCMHVN, đường lối của ĐCSĐD tiếp tục phản ảnh đường lối của Moscou cho đến khi ĐTQT giải tán vào năm 1943. Trong thời kỳ này, ĐTQT quan tâm đến hai vấn đề chủ yếu. Trong nội bộ đó là sự chống đối của Trotski đối với đường lối của Staline, trong khi đó ở ngoài Liên Xô là sự ra đời của Đức Quốc Xã, ngày càng đe dọa trực tiếp cho sự sống còn của Liên Xô. Cũng trong thời kỳ này, ta có thể phân biệt đường lối của Đảng Cộng Sản Đông Dương qua ba thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất kéo dài cho đến trước Đại hội VII của ĐTQT (1935) là thời kỳ ý thức hệ đấu tranh giai cấp, thời kỳ thứ hai tiếp tục từ đó cho đến năm 1939 khi thế chiến thứ hai bùng nổ là thời kỳ hòa hoãn đối với chế độ thuộc địa Pháp và hoạt động dưới chiêu bài của Mặt Trận Dân Chủ. Trong thời kỳ thứ ba, dưới chiêu bài của Mặt Trận Việt Minh và đứng về phe Đồng Minh trong chiến tranh thế giới, Đảng Cộng Sản Đông Dương lợi dụng cơ hội nắm được chính quyền ở Việt Nam vào năm 1945.

A.Thời kỳ thứ nhất: Cách mạng vô sản và đấu tranh giai cấp

* Các năm đầu của thập niên 1930 khởi đầu bằng hai biến cố quan trọng. Đó là cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc Dân Đảng đề xướng vào tháng 2/1930 và cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh do ĐCSĐD cầm đầu (9/1930-4/1931), cả hai tượng trưng cho hai phong trào cách mạng tiêu biểu đương thời ở Việt Nam. Tuy có một quy mô rộng lớn hơn nhưng biến cố Xô Viết Nghệ Tĩnh lại không có một ảnh hưởng quần chúng bằng cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Dư luận đương thời chưa sẵn sàng chấp nhận đấu tranh giai cấp và thờ ơ với quốc tế vô sản. Trong khi đó cuộc khởi nghĩa Yên Bái lại tác động trực tiếp vào khía cạnh tâm lý là tinh thần yêu nước chống lại chế độ thuộc địa, điều quan tâm hàng đầu của cả dân tộc Việt Nam.

Sau hai biến cố đó, chế độ thuộc địa tiến hành ở Việt Nam các cuộc đàn áp dã man để tiêu diệt các phong trào cách mạng, khuynh hướng dân tộc cũng như cộng sản. Các nhà lãnh đạo các phong trào cách mạng dân tộc bị truy nã đến tận biên giới Trung Quốc, không còn đủ lực lượng để có thể xuất đầu lộ diện trong lãnh vực sinh hoạt chính trị trong suốt thời gian dài của thập niên 1930. Trong khi đó Đảng Cộng Sản Đông Dương, với các tổ chức chặt chẽ, đã dần dần xây dựng lại cơ sở trong vòng bí mật kể từ năm 1932 và chính thức công khai lộ diện trong thời kỳ 1936-1938, khi Mặt Trận Bình Dân ở Pháp nắm được chính quyền, với sự tham gia của Đảng Cộng Sản Pháp.

* Tháng 3/1935 Đại hội I (toàn quốc) của ĐCSĐD được triệu tập ở Macao nhưng không có thay đổi về đường lối, xác định lại chiến lược cũ về đấu tranh giai cấp đề ra ở Đại hội VI (1927) của Đệ tam Quốc tế. Nhưng từ khi Hitler lên cầm quyền ở Đức vào năm 1933 và trước sự đe dọa ngày càng nặng của Đức Quốc Xã trên Liên Xô, Staline lại thay đổi đường lối, tìm đồng minh với các nước Tây phương, ký kết với Anh và Pháp các hiệp ước an ninh. Tháng 7/1935, Đại hội VII của ĐTQT họp ở Moscou ra chỉ thị cho các đảng cộng sản ngoại quốc không được có các hành động làm trở ngại chiến lược này. Đoạn văn sau đây, trích dẫn từ (1), trang 49, nêu rõ:

"... Đại hội VII của Cộng sản Quốc tế (7/1935) ra lịnh cho giai cấp công nhân và tầng lớp lao động trên toàn thế giới phải đặt mục tiêu tức thời và trực tiếp không phải là lật đổ chế độ tư bản để xây dựng xã hội chủ nghĩa mà là đấu tranh chống lại độc tài phát xít và ý đồ xâm lược của phe phát xít, để xây dựng dân chủ và bảo vệ hòa bình. Các Đảng cộng sản của mọi nước phải thống nhất các lực lượng lao động và thành lập một Mặt trận rộng rãi bao gồm các đảng quốc gia, dân chủ và cấp tiến cũng như các tầng lớp bình dân để thống nhất hành động chống lại kẻ thù chính yếu tức thời là chế độ phát xít".

Hiển nhiên đường lối này trái ngược lại với đường lối của Đại hội VI (1927) mà ĐCSĐD vẫn tiếp tục khẳng định trong Đại hội I (3/1935) của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Vì vậy, liền sau Đại hội VII của ĐTQT, ĐCSĐD phải tức thời thay đổi đường lối để bám sát với đường lối mới của ĐTQT và làm tự kiểm thảo, (1), trang 45: "Cần nêu lên một khuyết điểm, Đại hội (I của Đảng Cộng Sản Đông Dương) đã không nhận thức rõ ràng được các hiểm họa phát xít trên thế giới cũng như không trù liệu trước các khả năng chiến tranh chống phát xít,...".

B. Thời kỳ thứ hai và chiêu bài Mặt Trận Dân Chủ

* Đường lối mới của ĐTQT được chính thức đem ra thực hành sau Hội nghị Ban chấp hành trung ương ĐCSĐD ở Thượng Hải (7/1936) với sự thành lập "Mặt Trận Dân Chủ Thống Nhất Đông Dương", gọi tắt là Mặt Trận Dân Chủ, dùng các hình thức đấu tranh cho Dân chủ để che đậy thực chất của mình. Đảng Cộng Sản Đông Dương thường gọi giai đoạn này là giai đoạn Cách mạng Dân chủ nhưng đây chỉ là một hình thức đánh lừa dư luận bên ngoài và là một chiến lược nhằm thỏa mãn nhu cầu giai đoạn của Staline. Về thực chất, Đảng Cộng Sản Đông Dương vẫn luôn luôn không lùi bước trên mục tiêu ý thức hệ. Hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng họp ở Thượng Hải năm 1936 giải thích, (1), trang 48:

"... Nếu các nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến của Đảng nêu ra từ ngày thành lập vẫn luôn luôn còn hiệu lực thì mục tiêu tức thời và trực tiếp của giai đoạn này không phải là để lật đổ chính quyền của Đế quốc Pháp và làm cách mạng cải cách điền địa, mà lại là đấu tranh chống lại phản động thực dân, tay sai của phát xít... Đây chỉ là một vấn đề chiến lược, tạm đình hoãn trong một giai đoạn các mục tiêu của cách mạng nhưng cũng là một vấn đề tối cần để áp dụng chiến lược toàn cầu để bảo vệ thành trì cách mạng thế giới. Không có thành trì này thì cách mạng ở Đông Dương cũng không thể tồn tại được...".

Hiển nhiên, khi xác định "mục tiêu tức thời và trực tiếp của giai đoạn này không phải là để lật đổ chính quyền của Đế quốc Pháp", ĐCSĐD đã thể hiện một nghịch lý căn bản vì quan tâm hàng đầu của Dân tộc Việt Nam luôn luôn vẫn là tìm mọi cách để dứt bỏ chế độ thuộc địa Pháp. Trên thực tế điều này có thể được giải thích dễ dàng vì lý do kỷ luật của ĐTQT, "giai cấp vô sản ở các nước tư bản và các nước thuộc địa phải tuân theo chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscou, đặt lợi ích của Đảng Cộng sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế" và nước Pháp đang được xem như là một đồng minh của Moscou và đối nghịch với Đức quốc xã. Ngoài ra, lại còn phải xét đến "lợi ích" của Đảng Cộng sản đàn anh Pháp, đang tham gia vào chính quyền đương thời ở Pháp. ĐCSĐD đã chỉ thi hành đúng chỉ thị của ĐTQT: "mục tiêu tức thời và trực tiếp không phải là lật đổ chế độ tư bản để xây dựng xã hội chủ nghĩa", bắt buộc hòa hoãn với chế độ thuộc địa.

Cùng một lúc, HCM cũng từ Trung Quốc ra chỉ thị cho ĐCSĐD, (1), trang 50:

"Nhiệm vụ chính yếu của thời gian hiện tại là tranh đấu để đòi hỏi các quyền dân chủ, tự do. Tổ chức của Mặt Trận phải thật là hết sức rộng rãi, bao gồm tất cả mọi tầng lớp nhân dân, ngay cả các thành phần trưởng giả quốc gia và cấp tiến ở Đông Dương nhưng không thể hòa hoãn được với thành phần theo Trotski. Phải thẳng tay trừng phạt với các thành phần ly khai, phải giữ chặt các liên hệ mật thiết với Đảng Cộng Sản Pháp và Măt Trận Bình Dân Pháp".

* Nếu Đảng Cộng Sản Đông Dương phải tạm thời trì hoãn đường lối Cách mạng Vô sản để thi hành chỉ thị mới của ĐTQT thì ngược lại chiến lược này đã có một tầm quan trọng hàng đầu cho sự phát triển của Đảng, mang lại cho Đảng những thành công sau này trong ý đồ chiếm giữ độc quyền ở Việt Nam. Lợi dụng cùng lúc Đảng Cộng sản Pháp tham gia vào chính quyền ở Pháp, Đảng Cộng Sản Đông Dương lại tái xuất hiện khắp nơi trên các đô thị lớn dưới chiêu bài của Mặt Trận Dân chủ, dấu kín bản chất ý thức hệ của mình, thay thế các nhãn hiệu "cộng sản" đã dùng trước đây bằng nhãn hiệu "dân chủ". Trong lúc các phong trào cách mạng quốc gia vẫn còn hoạt động trong vòng bí mật thì ĐCSĐD lại lợi dụng một cách khôn ngoan và thiết thực mọi khả năng hoạt động, vừa bí mật và chính thức hay bán chính thức để tổ chức và động viên quần chúng, tham gia trên bình diện toàn quốc vào mọi lãnh vực, từ đấu tranh công đoàn cho đến tham dự vào các bầu cử địa phương, từ các sinh hoạt văn hóa, tôn giáo,... cho đến nghệ thuật, thể thao,... Quan trọng hơn cả, ĐCSĐD tìm mọi cách thâm nhập vào nội bộ của các phong trào yêu nước, gây chia rẽ và phá hoại các phong trào này để đưa mình lên vị trí độc tôn lãnh đạo cách mạng ở Đông Dương. Đoạn văn sau đây nêu rõ thêm các hoạt động trên đây của Đảng, (1), trang 50:

"Một bộ phận cán bộ của Đảng và của Mặt Trận được phân công thâm nhập vào các hội đồng, các phong trào cải cách, duy tân và phản động để tố cáo các tội ác của đế quốc và tay sai, vạch mặt giới lãnh đạo các phong trào phản động, chinh phục quần chúng về phía mình... Về hướng tổ chức quần chúng, phải tìm mọi cách để đạt được số đông. Nhưng đối với tổ chức Đảng thì phải giữ vững chất lượng, phải thẳng tay trừng trị những phần tử theo Trotski, những phần tử khiêu khích, phản Đảng,... ".

C. Thời kỳ thứ ba và chiêu bài Mặt Trận Việt Minh

* Đầu năm 1938, chính quyền ở Pháp lại thay đổi và rơi về phía hữu, ĐCSĐD cũng kịp thời rút vào vòng hoạt động bí mật và tập trung các hoạt động ở thôn quê. Tiếp theo đó là thời kỳ Thế chiến thứ hai. Năm 1940, nước Pháp chấp nhận sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã, thỏa hiệp với Nhật Bản để cùng chiếm đóng Đông Dương và từ đó được ĐCSĐD gắn liền với khối phát xít. Đường lối chống phát xít bây giờ bao gồm cả chế độ thuộc địa của Pháp (cũng như của Nhật sau này) ở Đông Dương. Từ thời điểm này, trên bán đảo Đông Dương không còn sự hiện diện nào của các Đế quốc Tư bản đồng minh với Moscou. ĐCSĐD xem nước Pháp cùng với Đức, Ý và Nhật là phe "Phát xít", đồng hóa với "Đế quốc", đồng thời đồng hóa đường lối "chống Phát xít" của mình trước đây với đường lối "chống Đế quốc" mà vẫn không đi ngược lại với các chỉ thị của ĐTQT. Không như giai đoạn trước đây, nếu ĐCSĐD không nêu rõ mục tiêu chống đế quốc và chế độ thuộc địa Pháp, thì đường lối mới của Đảng Cộng Sản Đông Dương có phần nào thay đổi vì nêu rõ mục tiêu chống đế quốc Pháp. Thật sự, vẫn luôn luôn dấu kín bản chất của mình, đây là giai đoạn mà ĐCSĐD tìm cách củng cố vị trí để đưa mình lên địa vị độc tôn lãnh đạo cách mạng. Tháng 11/1939, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ở Bà Điểm vạch đường lối (1), trang 57:

"Giải phóng đất nước là nhiệm vụ đầu tiên của cách mạng Đông Dương. Cách mạng chống đế quốc và cách mạng cải cách điền địa là hai trục chính của cách mạng dân chủ. Không hoàn thành được nhiệm vụ thứ hai là thất bại trong nhiệm vụ thứ nhất và ngược lại. Nguyên tắc căn bản này không thể thay đổi được nhưng phải được áp dụng một cách khôn khéo để có thể thực hiện nhiệm vụ đầu tiên của cách mạng là lật đổ chủ nghĩa đế quốc. Dựa trên định hướng chiến lược mới này, Ban chấp hành trung ương Đảng ra lịnh tạm thời đình hoãn cách mạng cải cách điền địa,... Để tập trung tất cả lực lượng vào công việc lật đổ chính quyền của đế quốc và tay sai. Dự định thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn quốc chống Đế quốc ở Đông Dương. Các lực lượng chính của Mặt trận này là thợ thuyền và nông dân. Phải liên minh hay vô hiệu hóa giới tư sản, các địa chủ cở trung bình và cở nhỏ, đặt dưới sự lãnh đạo của giới vô sản...".

Tháng 11/1940, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ở Đình Bảng (Bắc Ninh) nhấn mạnh:
"Hai tai họa đang đe dọa lên các dân tộc Đông Dương: Bán đảo Đông Dương chịu sự chiếm đóng của hai đế quốc phát xít Nhật và Pháp, hai kẻ thù hiện tại chính yếu của ta. Vì vậy nhiệm vụ tức thời của Đảng là lãnh đạo các dân tộc ở Đông Dương để sửa soạn cuộc khởi nghĩa vũ trang để lật đổ phát xít Nhật-Pháp và nắm chính quyền...".

Hiện diện ở Trung Quốc từ cuối năm 1939 và ở Việt Nam vào đầu năm 1941, tháng 5/1941, HCM vẫn với tư cách Đại diện của ĐTQT triệu tập Hội nghị Trung ương ĐCSĐD ở Pac Bó (Cao Bằng) để cụ thể hóa đường lối hoạt động của Đảng cho thời gian sắp tới, xác định thực hiện công cuộc giải phóng Đông Dương trên bình diện của mỗi quốc gia bằng cách thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Việt Minh, hoạt động theo kiểu mẫu của Mặt Trận Dân chủ, dưới hình thức của các hội "Cứu quốc" thay cho khẩu hiệu "Dân chủ" đã dùng trước đây. Đồng thời với Mặt Trận Việt Minh, ĐCSĐD cũng thành lập các tổ chức bù nhìn tương tự ở các nước khác ở Đông Dương: Ai Lao Độc Lập Đồng Minh và Cao Miên Độc Lập Đồng Minh, để đi đến thành lập Mặt Trận Thống Nhất Đông Dương.

Khôn ngoan hơn ai hết, tạm thời đình hoãn mục tiêu cách mạng vô sản, HCM biết lợi dụng chiêu bài "Độc lập dân tộc", "Giải phóng đất nước",... làm bình phong khuấy động dư luận, biết rằng đó là động lực tâm lý duy nhất quan tâm của mọi người Việt Nam. Một khi nắm được ưu thế trong chính quyền sẽ đương nhiên xây dựng Xã hội Chủ nghĩa bằng bạo lực chuyên chính vô sản...

ĐTQT tuyên bố giải tán năm 1943. Sau ba năm (1942-1944) ở Trung Quốc, đó cũng là thời gian cuối cùng mà HCM hoạt động với tư cách là nhân viên của ĐTQT, tháng 10/1944 HCM trở về Việt Nam, dựa trên uy tín quá khứ quốc tế của mình để củng cố địa vị của mình như là người lãnh đạo tối cao và trực tiếp của ĐCSVN, không còn nhân danh ĐTQT đưa mệnh lệnh từ ngoài vào như trước.

Cơ may cho ĐCSĐD, và đó cũng là một tai họa cho cả các dân tộc ở Đông Dương, nhờ vào vị trí của ĐTQT trong chiến tranh thế giới, ĐCSĐD trở thành phong trào có tổ chức chặt chẽ duy nhất ở Đông Dương đứng về phe Đồng Minh và đã lợi dụng được cơ hội này nắm được chính quyền ở Việt Nam vào năm 1945.

4. Bàn lại vai trò của HCM.

Trên đây là một vài nét giải thích đường lối chính thức các hoạt động của ĐCSĐD kể từ khi ĐTQT được thành lập từ năm 1919 cho đến khi tổ chức này giải tán (lần thứ nhất) vào năm 1943. Có một điều căn bản đáng được ghi nhận ngay từ đầu là ĐCSVN chỉ là một sản phẩm của ĐTQT, được thành lập theo lịnh và tổ chức theo đúng một khuôn mẫu định sẵn từ ĐTQT đưa xuống. Trong suốt quá trình hoạt động của mình, ĐCSĐD đã tự thỏa mãn như là "một bộ phận" và chấp nhận sự lãnh đạo tuyệt đối của thế lực quốc tế này.

Điều thứ hai đáng được ghi nhận là vai trò và vị trí của HCM trong các quan hệ giữa ĐTQT và ĐCSĐD. Trên vấn đề này, ta có thể khẳng định rằng HCM không phải là người lãnh đạo tối cao của ĐCSĐD vì khi tự nguyện đụợc đứng vào hàng ngũ của ĐTQT thì ĐCSĐD đã chấp nhận "chiến lược toàn cầu chung, theo đúng đường lối của Moscou, đặt lợi ích của Đảng Cộng sản Liên Xô lên trên mọi vấn đề và đặt Liên Xô vào vai trò lãnh đạo cách mạng quốc tế...". Như vậy, người lãnh đạo tuyệt đối ĐCSĐD là Đảng Cộng sản Liên Xô mà cụ thể là Staline. Ngay cả trong các tài liệu chính thức của Đảng, HCM đã chỉ được trình bày như là một "cấp trung gian" để chuyển đạt các mệnh lệnh và chỉ thị của ĐTQT xuống Đảng. HCM cũng không phải là người Việt Nam duy nhất chịu mệnh lệnh trực tiếp của ĐTQT!

Trên thực tế, ngay cả HCM, trong những lúc liên hệ với ĐCSĐD cho đến năm 1943, cũng vẫn luôn luôn tự xem mình như là "Người Đại diện Quốc tế Cộng sản", một nhân vật không trực tiếp "nằm trong Đảng" nhưng lại "đứng trên Đảng" để "ban hành đường lối hoạt động cho Đảng". Nói một cách khác, HCM chỉ là một người "làm công", một "nhân viên" hay một "viên chức" (agent) của ĐTQT, có nhiệm vụ phải kiểm soát và chịu trách nhiệm về các hoạt động của ĐCSĐD trước ĐTQT!. Chỉ bắt đầu từ khi ĐTQT tuyên bố giải tán vào năm 1943 thì chức vụ "Đại diện Quốc tế Cộng sản" không còn chính đáng nữa thì HCM mới trở về Việt Nam, dựa trên uy tín quốc tế cũ của mình và dành được vị trí lãnh đạo chính thức trong ĐCSĐD. Trong mọi trường hợp, các tư cách "Đại diện Quốc tế Cộng sản" của HCM cũng chỉ là những công việc tạm thời, chỉ được ĐTQT giao phó cho từng giai đoạn nhất định, không liên tục. Ngay cả trong ĐCSĐD cũng có rất nhiều người nghi ngờ tính cách "Đai diện" này của HCM, vì chỉ có như vậy HCM mới có thể đứng trên đầu trên cổ mọi người trong Đảng để sai khiến họ. Về các điểm này, trong hồi ký của Hoàng Tùng (5), nguyên Bí thư Trung ương Đảng và nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân, ta có thể đọc:

"Năm 1931-32, ở Hương Cảng, Bác không có chức vụ gì, nhưng vì sự nghiệp cách mạng Bác vẫn làm. Bác gửi thư cho Quốc tế Cộng sản đề nghị giao việc, vì thời gian đó Bác chỉ làm nhiệm vụ một hộp thư. Đường giao thông giữa ta với Pháp bị vỡ do một anh thủy thủ Pháp bị bắt khai ra... Việc Bác được tha là nhờ luật sư Loseby... Việc Bác bị bắt rồi được tha, Liên Xô không hiểu, họ nghi ngờ có điều gì phức tạp trong vụ án. Tại sao lãnh tụ cộng sản mà được đế quốc tha yên ổn, cho nên trong vòng bốn năm họ không giao việc gì. Bác là nhân viên thường ở Ban thuộc địa. Sau đó Bác nhận làm nghiên cứu sinh phó tiến sĩ, nhưng Người rất chán.

Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (1935), Bác không có cuơng vị gì cả. Đại hội lần thứ nhất của Đảng ta họp trước đó bầu Bác là Ủy viên dự khuyết và còn ghi rõ là chỉ công tác ở nước ngoài. Chính vì thế nên Bác không có tên trong Đoàn đại biẻu của Đảng ta sang dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản. Đoàn đại biểu của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong. Sau khi xin việc mãi không được, Bác xin về nước. Gần đây tôi có gặp một nhà trí thức Việt Nam, người này có gặp một nhà trí thức Pháp, họ nói Bác suýt bị hạ vì những chuyện lôi thôi này. Ông lãnh tụ Nhật Bản Nosoka Sando cũng bị làm rầy rà. Những chuyện này Bác biết cả...".

Có một điều mà gần như dư luận, ở trong cũng như ở ngoài Đảng, ở trong cũng như ở ngoài nước, ai ai cũng đều công nhận là HCM một viên chức phục vụ một cách đắc lực, đã áp dụng đúng đường lối của ĐTQT trong từng chi tiết một vào trường hợp của ĐCSĐD, mặc dầu trong nhiều trường hợp đường lối này có phần trái ngược với quan niệm của cá nhân mình... Về chiến lược hành động, ai ai cũng đều rõ ý đồ quen thuộc của HCM là đánh lừa dư luận bằng cách lợi dụng tối đa nhiệt tình yêu nước của mọi thành phần trong dân tộc, tạo ra những tổ chức quần chúng bù nhìn, tạm thời dấu kín các mục tiêu cách mạng vô sản của Đảng, đi đến một hình thức cộng tác bên ngoài với mọi phong trào yêu nước nhưng thực chất là thâm nhập vào nội bộ vừa lợi dụng, vừa lũng đoạn các tổ chức đối lập với Đảng. Với phương pháp hành động này, HCM chắc chắn là đã ở về phía đa số trong Đại hội năm 1929 của TNCMHVN ở Hương Cảng, muốn tạm thời đình hoãn việc thành lập ĐCSĐD. Nhưng phương pháp này của HCM đã không được giới lãnh đạo ĐTQT thấu hiểu mà còn bị xem là một khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, cải lương và hữu khuynh... Các đoạn văn sau đây trích từ hồi ký của Hoàng Tùng (5) cho phép soi sáng một phần nào các nghi vấn nêu ra trên đây về đường lối hoạt động, về vị trí của HCM đối với Đảng Cộng sản Pháp cũng như đối với ĐTQT, trong khoảng thời gian từ Đại hội VI (1927) của ĐTQT cho đến lúc ĐCSĐD được thành lập năm 1930. Bàn về "nỗi đau thứ hai", trong số "10 nỗi đau lớn" của HCM, Hoàng Tùng viết:

"Nỗi đau thứ hai là, sau vụ chính biến Tưởng Giới Thạch, Bác đi Liên Xô. Trước đó Bác phụ trách phòng Đông Nam Á của Quốc Tế Cộng sản. Bác có đi dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924) nhưng không được bầu vào Ban chấp hành. Lần này sang, do cách hoạt động của mình, Bác bị Liện Xô nghi ngờ là chưa đủ tiêu chuẩn cộng sản. Sang Liên Xô Bác không được giao việc gì cả, không có chức vụ chính thức trong tổ chức quốc tế. Bác xin về, họ không cho tiền. Sau Bác phải xin tiền bạn bè để về...

Nghe tin ở nước nhà giải tán Thanh niên cách mạng dồng chí hội để lập Đảng cộng sản, Bác cho rằng chưa phải lúc. Bác cho rằng lúc đầu hãy tập hợp thanh niên và giương cao ngọn cờ yêu nước đã. Có tổ chức Đảng cộng sản chỉ là tổ chức bí mật chứ chưa đưa Đảng cộng sản ra và nói đấu tranh giai cấp vội, cứ nói đánh Tây cho quần chúng dễ hiểu.

Theo tôi tại sao lại lập Đảng cộng sản? Chuyện này có lẽ bắt nguồn từ Đảng cộng sản Pháp. Đảng cộng sản Pháp sợ liên lụy không giám bênh vực phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa nữa... Đảng cộng sản Pháp cho rằng Bác không lập ra Đảng cộng sản mà chỉ tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, lại phê phán Đảng cộng sản Pháp khá nhiều trên báo chí và ở Đại hội quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Pháp có ý không tán thành Bác. Đảng Cộng sản Pháp cử ba người trong phái đoàn Pháp sang Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (1927), trong đó có Nguyễn Văn Tạo (Năm 1923, Nguyễn Văn Tạo là học sinh bãi khóa ở Sài Gòn được sang Pháp học, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp, rồi vào Trung ương ngay. Nguyễn Ái Quốc không được bầu vào Trung ương, Bác làm việc ở Ban thuộc địa). Nguyễn Văn Tạo đề nghị là ở Đông Dương điều kiện đã chín muồi, đề nghị cho thành lập Đảng Cộng sản. Sau đó mới tác động đến nhóm Bắc kỳ Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, ba người hăng hái nhất lập ra Đông Dương cộng sản đảng, đề nghị giải tán Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.

Việc đó chính là phê phán Nguyễn Ái Quốc hay gọi là sự sửa sai đối với Nguyễn Ái Quốc. Nhưng Bác vẫn im lặng tìm cách sửa sai việc đã rồi, vì ba tổ chức tìm cách chống đối nhau, gây chia rẽ. Sau Lê Văn Lương nói với tôi là khi Bác về, Trịnh Đình Cửu có hỏi Bác giấy ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản, vì Bác nói là Quốc tế Cộng sản cử về, Bác trả lời: Đồng chí tưởng tượng xem, nếu tôi mang trong nguời giấy ủy nhiện của Quốc tế Cộng sản, thì liệu tôi có về được đến đây không?...".

Hiển nhiên, trong các điều kiện kể trên, khi cả bốn phía (HCM và ba Đảng cộng sản ở Đông Dương) đều tỏ ý muốn phục vụ ĐTQT, thì phải chấp nhận sự kiện đã rồi và thống nhất các tổ chức. Đó là con đường sửa sai hợp lý nhất cho HCM. Điều còn lại là phải tiếp tục chứng tỏ sự trung thành tuyệt đối của mình đối với ĐTQT để tránh các biện pháp kỷ luật, khỏi bị thanh trừng như thường đã xẩy ra ở Liên Xô trong các thập niên 1920 và 1930...

Tôn Thất Long

(2006)

Tài liệu tham khảo:

1. 50 ans d'activités du Parti communiste du Vietnam. Edition en langues étrangères, Hanoi, 1980.
2. Pierre-Richard Feray: Le Viet-Nam, Collection Que sais-je?, Presse universitaire de France, 1984.
3. Nguyễn Thế Anh: L'itinéraire politique de Hồ Chí Minh, Đường Mới, Paris, 1990.
4. Tôn Thất Long: Le PCV, Congrès et évolution, Đường Mới, Paris, 1992.
5. Hoàng Tùng (Hồi kí): Hồ Chí Minh, Trung Quốc và Liên Xô.

www.geocities.ws/xoathantuong

http://www.geocities.ws/xoathantuong/ttl_d3qthcm.htm

Hiệu kỳ Trăng Câu Đệ Tứ Đảng.
Trăng Câu Đệ Tứ Đảng (tiếng Pháp: La Partie Trotskyste du Vietnam, PTV) là tên gọi một phong trào cộng sản theo đường lối Trotskyist (khuynh hướng "cách mạng thường trực" do Trotsky thành lập, để chống lại đường lối "cách mạng vô sản trong một quốc gia" của Stalin). Lãnh tụ Cộng sản Đệ Tứ Việt Nam là Tạ Thu Thâu. Trong lịch sử của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ XX, Việt Nam thuộc số ít các nước là nơi mà chủ nghĩa Trotsky tạo được phong trào lớn mạnh. Các lãnh đạo và hầu hết thành viên của chủ nghĩa Trotsky tại Việt Nam đã bị Đảng Cộng sản Việt Nam tiêu diệt từ tháng 10 năm 1945.[1][2]

Mục lục

1 Lịch sử
1.1 Thành lập
1.2 Hoạt động 1.3 Bị tiêu diệt
2 Chú thích
3 Tham khảo


Lịch sử

Thành lập

Năm 1929, Tạ Thu Thâu tham gia khuynh hướng chính trị Trotskyist tại Pháp. Năm 1930, Tạ Thu Thâu và các đồng chí bị trục xuất về nước vì tham gia vào cuộc biểu tình trước điện Elysée (dinh Tổng thống Pháp) để phản đối thực dân Pháp xử tử các chiến sĩ Việt Nam Quốc dân Đảng tham gia khởi nghĩa Yên Bái. Báo Phụ nữ tân văn 3 Tháng Bảy 1930 có bình luận sự kiện này: "Ngày 22 Mai, hồi ba giờ chiều, độ một trăm người thanh niên Annam biểu tình ở trước điện Elyése, lúc ấy chính là lúc quan Giám quấc đương nghị sự về cái án xử tử 39 nhà cách mạng Bắc kỳ...Truyền đơn của hai đảng cộng sản Annam; một là đảng Trotsky, là đảng cực tã; hai là đảng sô viết, đều là tỏ cái tình hình Đông dương...Mấy tháng nay các đảng viên cộng sản Annam thường có truyền đơn nói về việc Đông Dương; nhóm nhiều cuộc biểu tình để phản kháng các án xử tử đã nói trên; và sau hết có tổ chức ra một cái Ủy hội phấn đấu. Ủy hội trước ngày biểu tình ở điện Elysée có mời đảng viên của phái Trotsky. Phái nầy có đến, và có hứa sẻ hiệp nhau lại đi phát biểu. Annam về đảng Trotsky vận động hăng hái lắm. Bọn nầy học thức rộng, am hiểu tiếng Pháp và tiếng Nam, rất sành về việc tổ chức. Thế lực của họ khá lớn, cho nên hai tờ báo cộng sản cực tả ở đây là báo Vérité và Lutte des classes, dễ cho họ có một địa vị lớn trong sự ngôn luận. Mấy hôm nay, hai tờ báo ấy đăng nhiều bài của mấy đảng viên Annam, nói về tình hình Đông Dương, kết luận rằng cuộc cách mạng bên ấy thiếu một bộ ý tưởng (système idéologique). Trước ngày biểu tình, họ có dán quảng cáo, dán rồi là thấy bị lột mất, và người đi dán bị dẫn về bót giam vài giờ. Họ cũng có phát truyền đơn để gọi lao động thế giới. Và lại có một tờ tuyên ngôn đối với Chính phủ, và đối với bần dân thế giới, khi phát giấy cũng có xảy ra vài việc như là việc đánh nhau với một người ở hiệu cơm Pékin, rất kịch liệt. Ngoài hai đảng, còn có Đông Dương học sanh tổng hội rất là hoạt động. Hội viên vài trăm người, chắc không phải đều là cộng sản hết: có người về đảng quấc dân; có người khuynh hướng về xã hội; song bao nhiêu truyền đơn đã phát ra mấy tháng nay đều có một cái đặc sắc là khuynh hướng về bần dân."[3]

Năm 1931, Tạ Thu Thâu thành lập nhóm Trotskyist tại miền Nam, ảnh hưởng của nhóm Trotskyist nhanh chóng lan rộng. Các nhóm Trotskyist có Tả đối lập, Tả cách mạng Tháng Mười, Đông Dương cộng sản, chống lại đường lối Quốc tế Đệ Tam. Cũng trong năm này phái Stalinist (Đệ Tam) của Nguyễn Văn Tạo và Dương Bạch Mai bắt tay với nhóm Trotskyist lấy tờ La Lutte (Tranh đấu) làm cơ quan đấu tranh (với tòa soạn đặt ở đường Lý tự Trọng hiện nay). Trong thời kỳ hợp tác từ năm 1934-1937 nhóm La Lutte tham gia ứng cử vào Hội đồng Thành phố và Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Cả Đệ Tam và Đệ Tứ đều có người đắc cử (Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Thạch). Trước cuộc bầu cử Hội đồng thành phố tháng 4 và 5 năm 1933, Nguyễn An Ninh tập hợp Nguyễn Văn Tạo (cộng sản Stalinist), Tạ Thu Thâu, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương (cộng sản đối lập Trotskyist), Trần Văn Thạch và Lê Văn Thử (cảm tình Trotskyist), Trịnh Hưng Ngẫu (một người vô chính phủ) lập "Sổ lao động" và ra tờ La Lutte[4]

Hoạt động Năm 1932, ba nhóm hợp nhất trong tổ chức Tạ Thu Thâu, nhưng đến năm 1933 tách thành nhóm Tranh đấu và nhóm Tháng Mười. Nhóm Tranh đấu hợp tác với Đảng Cộng sản Đông Dương. Ở Hà Nội, một nhóm gọi là nhóm "Tháng Mười" (phân biệt với nhóm Tranh đấu), còn gọi là Liên đoàn Cộng sản quốc tế hay Nhóm Leninist Bolșevic do Hồ Hữu Tường lãnh đạo, có các cơ sở Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, ra báo Tháng Mười, từ 1931 đến 1936.

Năm 1937, Stalin tuyên bố phải loại trừ những phần tử Trotskyist. Năm 1938, những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (Đệ Tam) rút khỏi nhóm La Lutte. Những người Cộng sản Đệ Tứ tiếp tục xuất bản tờ La Lutte và thêm mục tiếng Việt. Sau khi việc hợp tác giữa Đệ Tứ và Đệ Tam sụp đổ hai bên công kích lẫn nhau. Đệ Tứ chỉ trích những quan điểm của Đệ Tam như: "thực hiện chủ nghĩa xã hội trong một nước", "chế độ độc đảng", " chính sách manh động trong cuộc nổi dậy Xô viết Nghệ Tĩnh", "sùng bái Stalin". Đệ Tam nói rằng Trotskyist không còn là một khuynh hướng chính trị mà trở thành "một đàn chó săn cho phát xít Nhật và phát xít quốc tế". Tháng 8 năm 1938, trên tờ Tin tức của Mặt trận Dân chủ Đông Dương (dập khuôn theo Mặt trận bình dân bên Pháp, Mặt trận gồm ba đảng SFIO -Xã hội Quốc tế Lao động; Đảng Tin tức (cộng sản, Đệ Tam Quốc tế); và đảng Ngày nay (cấp tiến xã hội)) kêu gọi:"củng cố hành động chiến đấu để đánh đổ quân phát sít và tay sai của nó là quân tờ rốt kít phá hoại" và báo trào phúng Vịt đực bình luận "Mặt trận dân chủ chống Mặt trận cối xay" vì họ thời điểm đó không tìm thấy kẻ thù.

Theo ông Nguyễn Văn Trấn, Tạ Thu Thâu thảo một bản kiến nghị đại khái định gửi cho Mặt trận bình dân một bức tối hậu thư hạn "trong vòng ba tháng" phải ban hành cho dân chúng Đông Dương những quyền tự do dân chủ, bằng không. La Lutte sẽ kêu gọi quần chúng công kích tới cùng. Còn nhóm Đệ Tam thì cho: Mặt trận bình dân Pháp vừa mới thắng lợi trong vụ tuyển cử và do đó mới có chính phủ của một vài đảng trong mặt trận ấy lên cầm quyền nội các. Còn bộ máy cai trị nhà nước vẫn nắm trong tay giai cấp tư bản và thế lực phản động vẫn còn rất mạnh. Vậy các chính phủ Blum cũng như Sôtăng không thế nhồi lại một cục với Mặt trận bình dân được. Và dầu có một Chính phủ Mặt trận bình dân thành lập đúng theo hình ảnh của Mặt trận bình dân như những điều kiện đã định trong nghị quyết Quốc tế Cộng sản đi nữa, thì chính phủ ấy cũng chưa phải là chính phủ vô sản chuyên chính hay là chính phủ công nông chuyên chính, mà nó chỉ là một chính phủ chống phát xít, chống chiến tranh ủng hộ tự do hòa bình, đòi cải thiện sinh hoạt cho dân chúng[5], và cho nhóm Đệ Tứ là "phá hoại", và tẩy chay.

Báo trào phúng Vịt đực, có nhắc một chi tiết "ông Tiến, Tiếp, Diên (Khuất Duy Tiến, Nguyễn Đình Tiếp, Võ Đức Diên, ba đại diện Mặt trận Dân chủ của phái đệ Tam Cộng sản, xã hội cấp tiến, xã hội) đã trúng cử nghị viên thương mại rồi, anh em công nông công kiêng ba ông này đi chơi tễu ở các phố, đến vườn hoa Cửa Nam (Hà Nội) gặp "tên" tơ -rốt - kít Huỳnh Văn Phương thì anh chị em đều xông cả lại chất vấn và xỉ vả", cho nhóm đệ Tứ "rủ những "người" trước kia vào phe quốc gia xã hội hay bảo hoàng". Báo Vịt đực dẫn lại Nhật báo, cơ quan Ốtkít ở Nam Kỳ có đưa tin về cuộc biểu tình ở Hà Nội: "phái Talin làm cuộc biểu tình ở Hà Nội. Ngay lúc ấy phái Ốtkít bèn kéo nhau làm cuộc biểu tình chống lại. Trong cuộc sung đột ấy có 49 người bị bắt, trong số này có 9 đảng viên Ốtkít. Sau khi bị bắt về bóp tất cả đều được thả ra". Vào thời điểm đó tranh cử ở Bắc Kỳ, một bên là nhóm cộng sản đệ Tam quốc tế, nhóm xã hội (đảng viên Đảng Xã hội Pháp ở Đông Dương), nhóm xã hội cấp tiến của tư sản, tiểu tư sản (đứng về bình dân, về sau nhiều người là thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng) chọi bên bảo hoàng ("quốc gia") của giới phong kiến, ngoài ra là nhóm quốc xã, Trốtxkít. Ở Nam Kỳ nhóm đệ Tam và đệ Tứ một thời liên kết chọi nhóm lập hiến của tư sản, về sau nhóm đệ Tam lại liên kết với nhóm lập hiến chọi nhóm đệ Tứ.

Những lãnh đạo Đệ Tam cũng cho những người Trotskyist đã chỉ điểm cho Pháp bắt người của họ. Nguyễn Văn Tạo tách ra lập tổ chức riêng năm 1939, sau khi Đệ Tứ giành được thắng lợi trong bầu cử ở Nam Kỳ, còn Đệ Tam thì không. Nhóm Đệ Tứ giành được 3 ghế trong cuộc bầu cử ngày 30 tháng 4, và ngày 18 tháng 5 đã gửi thư cho Trotsky, thông báo chiến thắng lớn trước liên minh tất cả các nhóm tư sản và Stalinist (Mặt trận Dân chủ Đông Dương). Sau bầu cử, Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng cộng sản đã phê phán Nguyễn Văn Tạo liên kết với Đảng Lập hiến, vì thế thất bại.

Tờ Ngày nay, ông Trần Văn Lai tường thuật cuộc bầu cử: "Từ ngày có nghị viên quản hạt đến nay, chưa bao giờ có bóng một người của giai cấp cần lao ra tranh cử. Cái nghị viện tối cáo ấy dành riêng cho bọn nhà giàu và nhất là cho bọn người trong đảng lập hiến, một chánh đảng có thế lực nhất ở Nam kỳ và bây giờ đã tới ngày đổ nát...Quần chúng bị đảng Lập hiến phỉnh lừa mấy lần đã chán nản... nhờ thế mà Thâu Thạch Tạo, Mai được đưa vào Hội đồng thành phố. Nhóm Tranh đấu rồi cũng chia rẽ làm hai: thêm nhóm Dân chúng. Lúc bấy giờ bọn Chiểu, Lam, Khá, Thuận,.v.v...nghĩa là bọn đại biểu nhà giàu ở viện quản hạt cùng hợp tác với nhóm Tranh đấu. Nhưng chưa thành thì bọn ấy thình lình rút tên ra để cho hai nhóm cực tả là Dân chúng và Tranh đấu bị nhốt khám. Thế là từ đó, nhóm Tranh đấu (Đệ Tứ quốc tế) nghịch hẳn với nhóm Dân chúng (Đệ Tam quốc tế). Thấy rõ các chiến sĩ hai nhóm cực tả ấy đã từng hy sinh vào tù ra khám, nên dân chúng Nam kỳ hiện nay hết sức tín nhiệm, nhất là nhóm Dân chúng của phái Đệ Tam được dân cầy lục tỉnh hoan nghênh, vì nhóm ấy có phái người đi cổ động. Còn thanh niên trí thức ở Nam kỳ, nhất là Saigon, Chợ lớn, Gia định thì chỉ tín nhiệm nhóm Đệ Tứ thôi... Đáng chú ý nhất là các nhà ứng cử ở quận nhì. Trong số ấy có tất cả 11 nhà ứng cử ra tranh... găng nhau hơn hết là hai sổ trạng sư Vương Quang Nhường và Nguyễn Đăng Liêng cực hữu, và sổ Tranh đấu Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm cực tả...Nhà nước lại làm khó dễ cho sổ cực tả...Hai ông (Thạch, Thâu) cùng các tổ chức thợ thuyền khác đánh điện tín ra ông toàn quyền ở Hà Nội và qua ông Tổng trưởng Bộ thuộc địa phản đối sự vô lý... Cuộc tuyển cử kỳ nhất, cử tri không đi bầu đến hơn phân nửa...cho nên mặc dầu kỳ nhì ông Ng.phan long (mà từ lâu người ta hết tín nhiệm) ra tranh và đồng thời nhóm Dân chúng cũng đưa Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo,...cốt để chia bớt số thăm của sổ Tranh đấu, đặng cho sổ Vương Quang Nhường nghĩa là cho bọn của các nhà tư bản sai ra đắc cử. Nhưng...cử tri ở quận nhì đều bỏ cho sổ Tranh đấu hết...Bầu cho sổ Tranh đấu, cử tri quận nhì chỉ cốt muốn đưa vào nghị viện những người cách mệnh...,muốn đuổi ra ngoài những ông nghị câm mà ông thống đốc Pagès đã bảo..."các ông chỉ thay mặt cho bọn nhà giàu thôi"...,muốn cho cái chính sách cai trị hẹp hòi ở đây mở rộng thêm,...dân xứ này đặng sung sướng...và thực lòng hợp tác với chính phủ, để bảo vệ đất nước. Thế thôi, chứ người cử tri không hề nghĩ đến và phân biệt chủ nghĩa Cộng sản đệ Tứ quốc tế hay Đệ Tam quốc tế gì cả[6].

Năm 1939 hai nhóm Tranh đấu và Tháng Mười hợp nhất danh nghĩa trong Đảng Đệ Tứ Quốc Tế Cộng Sản. Năm 1939, tờ La Lutte bị cấm hoạt động. Tạ Thu Thâu bị xử năm năm tù, muời năm quản thúc. Tháng 10 năm 1940, Tạ Thu Thâu bị đày ra Côn Đảo cùng với Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Hữu Tường…

Năm 1944, sau khi được trả tự do những người Cộng sản Đệ Tứ tiếp tục hoạt động. Một hội nghị tổ chức Tháng Tám năm 1944, và Tranh đấu và Liên đoàn cộng sản quốc tế (ICL) tái tổ chức tại miền Bắc bỏ qua bất đồng (nhiều đảng viên ICL đồng ý hợp nhất với Đảng cộng sản Đông Dương), thành lập Trăng câu đệ Tứ đảng. Tại miền Bắc, năm 1941, Lương Đức Thiệp lập Nhóm Hàn Thuyên năm 1941, và 1945 lập Đảng Xã hội Thợ thuyền Việt Bắc, ra tờ Chiến đấu[7].

Tháng Tám 1945 nhóm Tranh đấu ủng hộ Mặt trận Quốc gia Thống nhất (một liên minh nhiều tổ chức thân Nhật, nhưng có ý giành độc lập khi Nhật đầu hàng Đồng minh, sau sáp nhập Việt Minh). Trong khi ICL chủ trương theo Việt Minh, (như Trương Tửu, Lê Văn Siêu...). Dẫu sao các nhóm đệ Tứ không thu hút nhiều người ủng hộ (trừ một thời gian ở Sài Gòn -Chợ Lớn), chỉ là các nhóm nhỏ, và sau Cách mạng một số tham gia các cấp chính quyền liên hiệp ở vài địa phương một thời gian ngắn...

Ngay sau khi cấm Đại Việt Quốc dân Đảng hoạt động, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tố cáo những người Trotskyist (nhóm La Lutte và nhóm Liên minh Cộng sản Quốc tế) là kẻ thù của mình. Đảng cộng sản Đông Dương và những người Trotskyist từ lâu đã chỉ trích nhau là tay sai đế quốc. Tuy nhiên xung đột của hai nhóm này trước năm 1945 chỉ thể hiện bằng báo chí, diễn thuyết, truyền đơn. Sau năm 1945, hai nhóm bất đồng quan điểm về việc thực hiện cách mạng xã hội và cách đối phó với việc Đồng Minh đổ bộ vào Nam Kỳ. Những người Trotskyist muốn thực hiện ngay lập tức một cuộc cách mạng xã hội và vũ trang quần chúng chống lại lực lượng Đồng Minh còn Đảng cộng sản Đông Dương muốn thực hiện giải phóng dân tộc trước rồi làm cách mạng xã hội đồng thời thỏa hiệp với Đồng Minh để giành độc lập từng bước.[2]

Bị tiêu diệt

Ngày 7 và 8 tháng 9 năm 1945, một số thành viên Trotskyist cùng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tham gia một cuộc tấn công đẫm máu nhưng bất thành nhằm vào các thành viên Việt Minh ở Cần Thơ. Họ tổ chức một cuộc biểu tình của khoảng 20.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo với các khẩu hiệu "Võ trang quần chúng chống thực dân Pháp. Tẩy uế các phần tử thúi nát trong ủy ban Hành chánh Nam bộ". Việt Minh huy động Thanh niên Tiền phong bắn vào đoàn biểu tình khiến nhiều người chết và bị thương.[2]

Ngay sau đó, Dương Bạch Mai tống giam những người Trotskyist tại Sài Gòn. Binh lính Anh tìm thấy họ đêm 22/9/1945 và giao nộp cho người Pháp.[2] Sau khi được thả, những người Trotskyist tổ chức tấn công quân Anh, Pháp theo lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu đứng đầu. Trong một đợt tổng rút quân của lực lượng kháng chiến Nam Bộ giữa tháng 10/1945, Đảng cộng sản Đông Dương đã truy lùng, bắt giữ và hành quyết một cách có hệ thống khoảng 20 lãnh đạo phe Trotskyist trong đó có Phan Văn Hùm, một lãnh đạo có uy tín của phe Trotskyist. Những nhân vật chính yếu của Cộng sản Đệ Tứ như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch bị Việt Minh giết. Hoạt động của Cộng sản Đệ Tứ tại Việt Nam xem như chấm dứt năm 1946. Những thành viên Trotskyist khác phải nương tựa Hòa Hảo và các đảng phái quốc gia khác ở Đồng bằng sông Cửu Long.[2]

Tại miền Bắc, các chính quyền địa phương được lệnh phát hiện, bắt giữ và tống giam những người Trotskyist tuy Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ra văn bản nào cấm lực lượng này hoạt động. Đến năm 1946, những người Trotskyist tại miền Bắc không còn là mối lo ngại đối với chính quyền hoặc không còn người Trotskyist nào bị phát hiện. Trên báo chí, từ Trotskyist vẫn tiếp tục xuất hiện là để cảnh cáo những nhân viên nhà nước công khai phàn nàn đồng lương không đủ sống hay những người dám đấu tranh để người lao động kiểm soát nhà máy, xí nghiệp.[8]


Photo: Thà để Hoàng Sa cho Trung cộng chiếm giữ cho ta, còn hơn để VNCH giữ.
Lê Đức Thọ



https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%87_T%E1%BB%A9_Qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam



=======================================

Hồ Hữu Tường, Người Chết U Uẩn

Đỗ Thái Nhiên

Thời gian chẳng bao giờ chờ đợi bất kỳ người nào, thời gian chỉ biết miệt mài vun vút lao tới; Thế nên, một trong những tình cảm căn bản của con người là lòng nuối tiếc thời gian đã qua đi. Lòng nuối tiếc này khi gặp các điểm mốc của thời gian đã biến thành nỗi xao xuyến, bồi hồi. Thực vậy, trong không khí giao tiếp giữa đêm đen của năm cũ và sáng hồng của năm mới, có lẽ không ai trong chúng ta không bùi ngùi nghĩ đến quá khứ và không băn khoăn nhìn về tương lai. Bằng tất cả bùi ngùi và băn khoăn vừa kể, bài viết này đã chọn cái chết của Hồ Hữu Tường như một mảng quá khứ và chọn những toan tính của đảng Cộng Sản Việt Nam chung quanh cái chết này như những tia sáng chiếu rọi vào thực chất điều được gọi là "đổi mới" của Cộng Sản Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

Lúc bấy giờ là mùa thu năm 1978, tôi được di chuyển từ phòng biệt giam qua phòng giam tập thể thuộc trại giam số 4 Phan Đăng Lưu Trại giam này, công an Cộng sản dành riêng để giam tù chính trị trong thời kỳ thẩm vấn. Tù chính trị đối với Cộng sản bao gồm:

- Những người có tư tưởng chống cộng trước hoặc sau năm 1975,
- Những người trước kia đã làm công tác an ninh tình báo dưới các chế độ của VNCH, và
- Những người tham dự vào các tổ chức chống cộng tại Việt Nam sau năm 1975.

Khoảng 4 giờ chiều ngày hôm ấy, sau nhiều tháng nằm xà lim, tôi bước vào phòng giam tập thể bằng cảm giác ấm áp của một người được trở về với xã hội loài người, dầu là xã hội tù. Tôi lại càng cảm thấy ấm áp hơn khi chợt nhận ra cùng phòng với tôi có Hồ Hữu Tường. Do cách biệt về tuổi tác và khác biệt về nghề nghiệp, tôi không có dịp quen biết với Hồ Hữu Tường trước khi vào tù. Tuy nhiên, nhà Hồ Hữu Tường và nhà tôi ở cùng xóm. Vì vậy hình ảnh của Hồ Hữu Tường lập tức gợi cho tôi nhớ khu xóm cũ cùng với những bà con láng giềng của tôi. Gợi nhớ này chính là nguồn gốc của cảm giác ấm áp. Có lẽ Hồ Hữu Tường cũng nhận ra tôi là hàng xóm láng giềng ngày trước nên ngay phút đầu gặp tôi, Hồ Hữu Tường vừa giữ thế kẻ cả, vừa tỏ ra thân mến. Tôi hoàn toàn không cảm thấy bị xúc phạm trước cung cách kẻ cả của Hồ Hữu Tường. Ngược lại, kiến thức của Hồ Hữu Tường cộng với tuổi đời 70 của ông ta lúc bấy giờ, cộng với "chất Việt Nam" mà Hồ Hữu Tường đã thể hiện trong mỗi suy tư và hành động đã dễ dàng chinh phục tôi đến độ tôi không còn nhận biết Hồ Hữu Tường đã trở thành người "bạn tù" khả kính và thân thiết của tôi tự lúc nào. Tôi gọi Hồ Hữu Tường là bạn bởi vì có lần, sau một lúc hàn huyên, Hồ Hữu Tường đã nói với tôi:
"Tao cho phép mày xem tao như bạn, tình bạn giữa tao và mày là tình bạn vong niên, tình bạn không phân biệt tuổi tác: tuổi tao gấp đôi tuổi mày". Vả lại, không riêng gì đối với cá nhân tôi, Hồ Hữu Tường bao giờ cũng giữ được mối liên hệ vui vẻ đối với mọi người. Đặc biệt đối với những người tù trẻ tuổi, mỗi tối sau giờ cơm, Hồ Hữu Tường thường giúp họ giải khuây bằng cách kể cho họ nghe chuyện cổ tích, chuyện Tàu, chuyện ma Bình Thuận. Liên hệ giữa Hồ Hữu Tường và những người tù trẻ này thân mật và vui vẻ đến độ: Có một hôm, cả phòng tù đang nghỉ trưa, một anh tù người Việt gốc Hoa nằm ở đầu phòng bỗng ngồi nhỏm dậy nói lớn tiếng cho Hồ Hữu Tường nằm ở cuối phòng có thể nghe được:

-- Bác Tường ơi! Thời Tây, thời Ngô Đình Diệm và cả thời này nữa, thời nào Bác cũng ở tù Bác có hiểu tại sao Bác cứ ở tù hoài hoài vậy không?

Hồ Hữu Tường nhìn Lý Hùng (tên chú tù trẻ) vừa cười vừa hỏi dò chừng:

-- Mày trả lời giùm tao đi, tại sao?

Lý Hùng nhanh nhẩu trả lời:

-- Dễ quá mà! Tên Bác là "Hữu Tường" nên Bác phải "hưởng tù" dài dài thôi!

Câu nói của Lý Hùng làm cả phòng cười rộ lên. Riêng Hồ Hữu Tường không cười, mắt nhìn xa xăm trông thật buồn, ông ta nói nhỏ giọng:

-- Có thể thằng này nói đúng!

Sau một vài tiểu tiết để bạn đọc thấy rõ hơn hình ảnh của Hồ Hữu Tường trong tù, đến đây bài viết xin quay trở về câu chuyện chính: Cộng Sản vốn xem Duy Vật biện chứng như chiếc đũa vạn năng. Vận dụng chiếc đũa vạn năng này vào khung cảnh nhà tù, Cộng sản chỉ cho tù ăn vừa đủ để không bị chết vì đói. Do đó bất kỳ người nào bước vào nhà tù Cộng sản đều thấy về mặt bao tử, tù được phân làm hai loại:

- Tù được thăm nuôi là loại tù đã chấm dứt giai đoạn thẩm vấn, có thân nhân và được công an cho phép gia đình tiếp tế lương thực hàng tháng

- Tù không được thăm nuôi là loại tù chưa kết thúc thủ tục thẩm vấn. Thủ tục này có thể kéo dài từ ba tháng đến ba năm hay hơn thế nữa. Có nhiều trường hợp một người tù đang được thăm nuôi lại có lệnh cấm thăm nuôi. Điều này có nghĩa là đương sự đã vi phạm kỷ luật nhà tù, hoặc đã bị nghi ngờ khai sai sự thật trong giai đoạn thẩm vấn.

Thông thường nếu không là bạn thân, tù nhân thường ăn cơm chung nhóm với nhau theo sự phân biệt có hay không có thăm nuôi. Tù không được thăm nuôi phải ăn cơm một mình, hoặc chỉ ăn cơm chung với những người cùng không được thăm nuôi. Mặt khác tù không thăm nuôi phải không hề nói hoặc làm bất kỳ điều gì nhằm xin hưởng lương thực của người khác. Đó là "luật tự trọng" trong những phòng giam tập thể. Vào lúc chuyển từ xà lim qua nhà giam tập thể, tôi là tù không được thăm nuôi. Vừa muốn giữ lòng tự trọng, vừa muốn làm cho những lần ăn cơm gạo mốc với nước muối bớt phần cô quạnh, tôi tìm cách làm quen và ăn cơm chung với hai người thuộc loại "con bà phước" (không được thăm nuôi): một người tên Phạm Văn Luyện, người kia tên Phạm Anh Phong là một cựu binh nhì nhảy dù, can tội rải truyền đơn chống cộng, tuổi dưới 25, điệu bộ ngổ ngáo. Tôi tiến đến chiếu nằm của Phong, ngồi xuống, nheo mắt nhìn Phong cười, vào đề rất tự nhiên:

-- Ê bồ! Tôi vừa mới ở xà lim qua, đang rất mệt mỏi, bồ cho tôi được ăn cơm chung với bồ được không?

Phong đưa hai tay nắm lấy vai tôi, nghiêng đầu, nhìn thẳng vào mặt tôi cười thành tiếng:

-- Ông thầy này ngộ ghê! Thầy ăn cơm chung với tôi hay ăn một mình thì thầy và tôi đều ăn cơm với nước muối, cần gì phải xin phép! Mà này, tôi đang ăn chung với một thằng Việt cộng, thầy có chịu ăn chung với nó không?

-- Thằng Việt cộng đó tên gì? Phạm tội gì? Nó đã ở tù bao lâu rồi?

Phong trả lời thật rõ ràng:

-- Tên anh ta là Phạm Văn Luyện, phạm tội tổ chức đưa người vượt biên để kiếm tiền Luyện mới vào phòng này khoảng hai tuần, anh ta tự nhận là cán bộ tình báo của Hà Nội, kể chuyện tình báo rất hấp dẫn, tôi khoái nghe chuyện nên tôi ăn cơm chung với anh.

Từ đó Luyện, Phong và tôi ăn cơm chung.

Luyện khoảng 42 tuổi, người ốm, dong dỏng cao, da đen sạm, tóc quăn. Nghe Luyện nói chuyện, từ giọng nói đến cách dùng chữ, người ta nhận ra ngay là Luyện đã hấp thụ trọn vẹn chế độ giáo dục của Cộng sản Miền Bắc. Phòng giam của tôi gồm toàn những người chống cộng gay gắt, thế nhưng tôi không hề nhận ra bất kỳ người nào có vẻ có ác cảm với Luyện. Phải chăng vì Luyện có dáng dấp phong trần, có lối nói dễ hiểu, có nhiều chuyện hấp dẫn?

Phải chăng vì Luyện không giống những tên Việt cộng mà người ta thường gặp: Luyện không hề có vẻ thủ thế mỗi khi nói chuyện với người khác, nhất là nói về những nhân vật cao cấp của Cộng sản Hà Nội? Phải chăng vì Luyện không bao giờ có ý dòm ngó, không làm điềm chỉ viên, và nhất là vì Luyện không bao giờ bỏ qua cơ hội có thể giúp đỡ người khác, dĩ nhiên toàn là những người chống cộng? Thiện cảm mà phòng tù của tôi dành cho Luyện có nguyên nhân là tổng số của những cái "phải chăng" kể trên.

Đối diện và cách nhà giam của tôi khoảng ba thước là một dãy xà lịm. Mọi liên lạc (nói chuyện hoặc tiếp tế thức ăn) giữa xà lim và nhà giam tập thể đều bị nghiêm nhặt cấm chỉ. Người tù nào vi phạm luật cấm này sẽ bị lính canh hoặc còng tay vào song cửa của phòng giam (trong trường hợp này, người tù đương sự bị buộc phải đứng chứ không thể ngồi, kể cả giờ ngủ ban đêm), hoặc bị đánh đòn ngay trước cửa phòng giam. Chiều hôm ấy, khoảng 6 giờ, thủ tục điểm danh đã xong và cơm chiều đã qua, đang khi mọi người chuyện trò to nhỏ với nhau, Luyện lén ném vào cửa gió (bằng hai bàn tay) của xà lim đối diện một ít thuốc lá và diêm quẹt. Ngay lúc đó, Luyện bị lính canh bắt gặp quả tang. Tên lính canh quát tháo ầm ĩ:

-- Mày mới ném thuốc lá vào xà lim, tao bắt gặp, tao sẽ cho mày chết! Mày tên gì?

Luyện bình thản trả lời:

-- Tôi tên là Phạm Văn Luyện.

Người lính canh chạy lên phòng giám thị một lúc rồi quay trở lại. Tôi không thấy người lính canh cầm theo chìa khóa hay còng tay. Nét mặt của người lính canh cũng không còn hung hăng như cách đó vài phút. Anh ta gọi Luyện đến gần cửa song sắt, nói giọng ôn tồn:

-- Đây là lần thứ nhất anh vi phạm kỷ luật, vì vậy phòng quản giáo tha cho anh. Nếu tái phạm anh sẽ bị nghiêm trị.

Nói xong, người lính canh bỏ đị. Cả phòng nhìn Luyện kinh ngạc. Theo tập quán trong tù: mỗi lần phạm kỷ luật (nhất là liên lạc với tù bị giam trong xà lim) là mỗi lần bị phạt, công an không cần biết lần đầu hay lần cuối.

Trước đó nhiều ngày, Luyện thường nói cho Phong biết trước ngày giờ mà Luyện sẽ được công an gọi đi thẩm vấn. Sự thể này là điều rất khác lạ, bởi vì, công an Cộng sản không bao giờ báo cho tù nhân biết trước ngày giờ của các cuộc thẩm vấn.

Bài viết ghi lại hai chi tiết nhỏ kể trên với chủ ý ghi nhận Luyện như một "người tù đặc biệt". "Người tù đặc biệt" này nói chuyện dễ dàng với tất cả các bạn tù, nhưng nhất thiết không nhờ vả bạn tù nào, đặc biệt là về mặt lương thực. Điều đáng chú ý là Luyện giao thiệp với mọi người trong phòng giam, ngoại trừ Hồ Hữu Tường.

Mãi sau hai tháng có mặt bên cạnh Hồ Hữu Tường, một tối cơm nước xong, lần đầu tiên tôi thấy Luyện bước đến chiếu nằm của Hồ Hữu Tường. Hai người to nhỏ với nhau khoảng hơn một tiếng đồng hồ. Ngồi ở một góc phòng, quan sát đôi mắt, hoặc chú ý, hoặc trầm tư của Hồ Hữu Tường, tôi biết Hồ Hữu Tường rất quan tâm đến những điều Luyện nói. Câu chuyện giữa hai người chỉ chấm dứt sau tiếng kẻng báo ngủ của trại tù. Câu chuyện giữa Phạm Văn Luyện và Hồ Hữu Tường có lẽ đã làm cho vị học giả này suy nghĩ lung lắm. Thế nên sáng hôm sau, Hồ Hữu Tường nói chuyện với tôi ngay:

-- Mày có biết tối qua thằng Luyện nói chuyện gì với tao không?

-- Chuyện gì vậy Bác? Tôi làm sao đoán được!

-- Câu chuyện ngộ lắm! Thằng Luyện cho tao biết nó là tù giả. Hồ sơ phạm tội tổ chức vượt biên của nó chỉ là hồ sơ giả. Nó bảo nó là người của Lê Đức Thọ. Nó được gài vào nằm chung phòng giam với tao trong hai tháng qua chỉ để quan sát xem “Bác Tường ngày nay có còn là Bác Tường của các năm 1945 nữa hay không?” Ngay các lời nói đầu của nó, tao đã cảm thấy sự việc sẽ không đơn giản. Do đó, thay vì đi thẳng vào câu chuyện do Luyện mở đề, tao đã lái câu chuyện đi hướng khác để thăm dò về cá nhân nó. Nó bảo với tao: "Đầu thập niên 1960, Võ Nguyên Giáp hợp tác với Ung Văn Khiêm âm mưu lật đổ Hồ Chí Minh, công việc bại lộ, Võ Nguyên Giáp bị thất sủng. Buồn vì "tình đời đen bạc", hằng ngày Võ Nguyên Giáp đi học nhạc cổ điển Tây Phương "để giải sầu". Thằng Luyện lúc bấy giờ được tình báo Hà Nội bố trí làm người hầu cận cho Giáp, nên hằng ngày phải ôm nhạc cụ đi theo Giáp. Nghe Luyện nói tới đây, tao làm bộ hỏi nó vài vấn đề căn bản về nhạc cổ điển Tây Phương. Những câu trả lời của thằng Luyện quả tình làm tao vô cùng kinh ngạc: nó thực sự có những hiểu biết căn bản về nhạc cổ điển. Sau câu chuyện nhạc cổ điển, thằng Luyện còn cho tao biết: do công vụ, nó đã rất nhiều lần đóng vai hầu cận Tôn Đức Thắng và Lê Du ẩn. Tao vội vồ lấy cơ hội này để hỏi dò Luyện vài câu về cá tính và về sức khỏe của Thắng và Duẫn. Lần thứ hai Luyện làm tao ngạc nhiên: Luyện nói về cá tính và bệnh tật riêng của hai người này đúng như tao đã biết. Thời Pháp, tao ở tù chung nhiều năm với Lê Duẫn. Đối với Tôn Đức Thắng, gia đình vợ tao rất thân thiết với gia đình vợ Thắng. Tối hôm qua, thằng Luyện nói chuyện với tao rất nhiều, nhưng nội dung chủ yếu là bấy nhiêu. Mày có ý kiến gì không?

Tôi nhìn thẳng vào mắt của Hồ Hữu Tường, đôi mắt còn giữ nguyên vẻ mệt mỏi của một đêm thao thức. Tôi trả lời Hồ Hữu Tường, giọng cố làm ra vui vẻ để khỏa lấp những ưu tư trên trán của Hồ Hữu Tường:

-- Câu chuyện có vẻ ly kỳ và hấp dẫn, phải không Bác? Tôi tin là Bác đã ghi nhận những điểm cần ghi nhận. Tuy nhiên xin nói thêm các chú ý của tôi về Luyện.

Thứ nhất: Luyện liên lạc với xà lim nhưng không bị phạt.

Thứ hai: Luyện biết trước ngày giờ công an thẩm vấn nó.

Thứ ba: Luyện sống trong tù rất bình thản, không giống bất kỳ tên Việt cộng tham ô nào.

Thứ tư: trắc nghiệm bất ngờ của Bác đối với Luyện về nhạc cổ điển Tây Phương, về Duẩn và về Thắng.

Thứ năm: những lúc nói chuyện với tôi, Luyện thường nhắc tới các sinh viên Sài Gòn theo cộng sản thời Mậu Thân: Nguyễn Hữu Thái, Trần Triệu Luật, Huỳnh Tấn Mẫm, Đỗ Hữu Cảnh, Trịnh Đình Ban v. v... Luyện cho rằng những người này hoặc làm việc trung thành với Mỹ, hoặc đi hàng hai. Luyện nói chính xác về tính tình của mỗi người trong nhóm sinh viên vừa kể.

Tôi bảo là "chính xác" bởi lẽ tôi cũng đã hiểu biết rành rẽ về nhóm sinh viên này vào thời kỳ tôi sinh hoạt với Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn từ 1963 đến 1970. Điều đáng chú ý là Luyện đã được đào tạo tại Miền Bắc, nhưng lại có tin tức chi tiết về sinh viên Sài Gòn trước năm 1975. Dĩ nhiên Phạm Văn Luyện sẽ còn tìm tới nói chuyện với Bác nhiều lần nữa, và câu chuyện sẽ phải có kết luận. Tôi nói với Bác các chú ý của tôi về Luyện để đề nghị Bác không nên xem Luyện như một thằng tù bất bình thường, bịa chuyện ra để giải trí.

Hồ Hữu Tường vỗ vai tôi, trở về với điệu bộ xuề xòa của các bậc lão niên Miền Nam:

-- Mày nói tao đồng ý. Tao phải thận trọng trong giao dịch với thằng Luyện Giao Dịch này sẽ rất phức tạp. Nếu quả thật Luyện là người của Lê Đức Thọ, thì Thọ muốn gì?

Ba ngày liên tiếp sau đó, mỗi ngày từ 6 giờ chiều (sau giờ cơm) đến 9 giờ tối, Luyện đều tìm đến nói chuyện với Hồ Hữu Tường. Câu chuyện được trần thuật tổng hợp như sau:

Tôi hỏi Hồ Hữu Tường:

-- Bác nghĩ gì về chương trình này?

Hồ Hữu Tường vừa nhâm nhi miếng gừng tươi trong miệng, vừa trả lời tôi:

-- Ngày nay, sau 52 năm lăn lộn trên chính trường, Cộng Sản đối với tao chỉ là sự ngu dốt cộng với tính xảo trá bất tận. Lịch sử phát triển của đảng CSVN chính là lịch sử của những cuộc "thay đào đổi kép" nhưng không đổi tuồng. Thay đổi đào kép chỉ nhằm mục đích dối gạt dư luận, là tuồng đã đội Chính Phủ Liên Hiệp do thằng Luyện trình bày là thí dụ điển hình của kỹ thuật dối gạt theo kiểu "tuồng cũ, đào kép mới". Tuồng cũ là tuồng chuyên chính vô sản. Vở tuồng này ngay từ đầu đã đi ngược lòng dân, đã xa rời thực tại. Tao không chấp nhận tuồng cũ thì làm sao tao có thể chấp nhận đóng vai đào kép mới?

Hồ Hữu Tường nói tới đây, tôi nóng nảy đặt câu hỏi:

-- Như vậy Bác đã dứt khoát từ chối mọi đề nghị của thằng Luyện chưa?

-- Chưa, tao bảo với nó: "Hãy để tao suy nghĩ vài ngày".

Vài ngày sau đó, liên hệ giữa Hồ Hữu Tường và Luyện vẫn bình thường, vẫn Bác Bác Cháu Cháu. Thế rồi một buổi sáng đầu tuần, nhân viên công an thuộc Sở Công an Thành phố gọi Hồ Hữu Tường lên phòng thẩm vấn. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, Hồ Hữu Tường trở lại phòng giạm. Chờ cho nhân viên giám thị kh óa cửa phòng và đi khuất mắt, Hồ Hữu Tường tiến đến cạnh tôi, nói vừa đủ cho tôi nghe:

-- Sáng nay thằng công an chấp pháp yêu cầu tao trả lời bằng viết mười câu hỏi ghi sẵn của Sở Công An Thành Phố về hồ sơ cá nhân của tao. Trước khi trả lời mười câu hỏi vừa kể, tao yêu cầu thằng chấp pháp cho tao được nói chuyện riêng của tao. Nó đồng ý. Tao liền kể cho thằng công an này nghe toàn bộ chi tiết câu chuyện giữa thằng Luyện và tao. Tao càng nói, nét mặt của thằng công an chấp pháp càng lộ vẻ kinh ngạc và bối rối. Nói xong, tao hỏi nó nên đối xử như thế nào đối với thằng Luyện. Nó chỉ hỏi tao thêm một số chi tiết về Luyện và tuyệt nhiên không đưa ra bất kỳ đề nghị nào. Sau đó tên công an thẩm vấn bảo tao trả lại nó giấy bút và mười câu hỏi. Nó không còn quan tâm đến mười câu hỏi nữa. Nó ra về.

Quả thực câu chuyện vừa kể đã làm tôi bàng hoàng. Tôi nói cho Hồ Hữu Tường nghe về những lo lắng của tôi:

-- Thằng Luyện đã rất nhiều lần dặn Bác tuyệt đối giữ kín những gì nó nói với bác, nếu bất kỳ tên công an cộng sản nào, không thuộc nhóm Lê Đức Thọ, biết được công tác của Luyện thì tức thời nhóm Thọ sẽ một mặt phủ nhận Luyện, lúc đó Luyện từ tù giả thành tù thật, mặt khác thủ tiêu Hồ Hữu Tường để trả đũa và để nhận chìm câu chuyện. Sáng nay, Bác phản ứng như vậy nhằm mục đích gì?

Hồ Hữu Tường thản nhiên trả lời:

-- Dĩ nhiên là tao nhằm mục đích phá vỡ kế hoạch của Lê Đức Thọ, nếu quả thật thằng Luyện là ng ười của Thọ Phe Thọ trách cứ tao ư? Tao sẽ trả lời rằng, tao là tù, tao phải tôn trọng nội qui phòng tù. Im lặng về vụ Luyện tức là tao vi phạm kỷ luật trại giam. Lê Đức Thọ có tin tao thực tâm tôn trọng kỷ luật hay không, tao chẳng cần biết. Còn tánh mạng của tao ư? Bọn Hà Nội chắc hẳn không ưa gì tao, nhưng đối với chúng nó thì tao là "con gà đẻ trứng vàng". Bộ óc của tao sản sinh ra trứng vàng. Hà Nội đang vô cùng bối rối trước hiện tình quốc nội và quốc tế, ngày nào đó Hà Nội sẽ cần đến ý kiến của tao, giết con gà, Hà Nội sẽ mất trứng vàng, tao chưa thể chết đâu, mày đừng lo!

-- Tại sao bác lại tin rằng Hà Nội xem ý kiến của bác là ý kiến vàng?

-- Câu hỏi của mày phải được trả lời rất dài dòng. Tao chỉ nói với mày một cách khái quát rằng: Hiện nay Hà Nội xem tao là một trong vài người hữu hiệu nhất trong vai trò làm gạch nối giữa đám Hà Nội ngu dốt và Thế Giới Tự Do. Tao còn nhớ, những ngày còn ở tù chung với Lê Duẩn thời Pháp thuộc, có lần tao đã nói với Lê Duẩn rằng: "Trên địa bàn sinh hoạt chính trị của thế giới, anh đừng bao giờ quên rằng mình là người da vàng, và cũng đừng bao giờ quên rằng người da trắng lúc nào cũng canh cánh bên lòng mối ưu tư mà họ gọi là "họa da vàng". Á Châu ổn định là một trong các yếu tố trội yếu của thế giới ổn định. Á Châu chỉ ổn định chừng nào Á Châu có được thế chân vạc tạo bởi ba khối: Khối Trung Hoa, Khối Ấn Độ và Khối Đông Nam Á. Tôi tin là một lúc nào đó, bằng cách nào đó, Trung Hoa chỉ còn là Hoa Bắc Cộng với Hoa Trung Hoa Nam sẽ kết hợp với các nước Đông Nam Á tạo thành Liên Bang Đông Nam Á. Trong trường hợp này, Trung Hoa (hiểu theo nghĩa Hoa Bắc + Hoa Trung), Liên Bang Đông Nam Á và Ấn Độ, mỗi khối sẽ có dân số trung bình khoảng 500 triệu, thế chân vạc sẽ ổn cố về kinh tế cũng như về chính trị, quân sự". Lê Duẩn rất chú ý tới ý kiến vừa kể. Hẳn nhiên Lê Duẩn sẽ tìm cách khai thác ý kiến này theo tính toán của người Cộng sản. Phần tao, tao vẫn đi con đường trung lập chế. Nghệ thuật và kỹ thuật cao cấp của chính trị chính là khả năng biến ý đồ của địch thành kế hoạch của ta.

Trong tình huống căng thẳng ngoại giao giữa Hoa và Việt như hiện nay, chắc hẳn Lê Duẩn sẽ phải suy nghĩ nhiều hơn về Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam. Cuối con đường suy nghĩ này, Lê Duẩn sẽ gặp tao.

-- Tôi đồng ý với Bác là có thể Lê Duẩn rất quan tâm đến thế chân vạc của Á Châu. Tuy nhiên như Bác đã biết, đảng CSVN hiện nay rất phân hóa Lê Duẩn cũng chỉ là một phe bên cạnh nhiều phe khác. Thế nên khi phá vỡ tính chất bí mật của kế hoạch khai sanh ra chính phủ Liên Hiệp, bác có thể gặp một trong hai trường hợp kể sau:

a/ Phe Lê Đức Thọ sẽ thủ tiêu Bác để bít đầu mối, và để trả đũa Bác đã làm vỡ kế hoạch của họ.

b/ Phe chống Lê Đức Thọ sẽ thủ tiêu Bác để phá Lê Đức Thọ. Bác nghĩ như thế nào về sự lo ngại của tôi?

Hồ Hữu Tường im lặng một lúc rồi chậm rãi trả lời:

-- Ý kiến của mày không phải không có căn cứ. Tuy nhiên, ở vào hoàn cảnh của tao, tao không còn cách chọn lựa nào khác hơn là phá vỡ kế hoạch của Thọ, phá vỡ âm mưu "tuồng cũ, đào kép mới".

Nói chuyện với tôi xong, Hồ Hữu Tường trở về chiếu nằm của ông ta. Tôi thấy Hồ Hữu Tường và Phạm Văn Luyện nhỏ to với nhau trong chốc lát. Luyện vốn là người rất thâm trầm, khó mà nhìn thấy cảm nghĩ của Luyện xuất hiện trên nét mặt. Thế nhưng hôm ấy, lần đầu tiên tôi thấy Luyện biến sắc mặt.

Những ngày sau đó, Luyện không còn nói chuyện với Hồ Hữu Tường nữa. Luyện mất hẳn vẻ hoạt bát thường lệ. Luyện chỉ nói cho Phong (anh binh nhì nhảy dù) biết là bảy ngày sau anh ta sẽ rời phòng.

Cuối cùng Luyện từ giã chúng tôi đúng như lời anh ta đã báo trước. Lúc bấy giờ là trung tuần tháng 12 năm 1978. Cuối tháng 6 năm 1979, công an ra lệnh cho Hồ Hữu Tường ôm vật dụng cá nhân rời khỏi trại Phan Đăng Lưu.

Tháng 8 năm 1979, tại khám Chí Hòa, tôi nghe tù nhân bàn tán với nhau về chuyến xe chở Hồ Hữu Tường từ khám Chí Hòa đi trại lao động đã bị phục kích, một số tù chết, số khác bị thuơng Hồ Hữu Tường bị thương và được mang trở lại bệnh xá của khám Chí Hòa. Những tháng đầu tiên tại khám Chí Hòa, tôi ở cùng phòng với Cao Dao Nguyễn Trần Huyên, người tự nhận là một trong các sáng lập viên của báo Nhân Dân Hà Nội.

Vào dịp Giáng Sinh năm 1979, ông Cao Dao đã được phép gặp Ủy Ban Ân Xá Quốc Tế cùng với người con trai của ông ta có mặt trong Ủy Ban này. Nhân lần gặp gỡ này, ông Cao Dao có nói lại với bạn tù cùng phòng rằng: Ủy Ban Ân Xá Quốc Tế đã nhiều lần yêu cầu được gặp Hồ Hữu Tường nhưng công an cứ từ chối, viện cớ Hồ Hữu Tường đang bị bệnh. Đó là tin tức cuối cùng tại khám Chí Hòa về Hồ Hữu Tường.

Đầu năm 1981, vài ng ười tù trong khám Chí Hòa nhận được tin từ những người đi thăm nuôi: Hồ Hữu Tường hấp hối tại trại tù Hàm Tân, được công an cho phép mang về nhà và từ trần tại tư gia.

Tin Hồ Hữu Tường qua đời làm cho tôi vô cùng thắc mắc. Nếu cần chọn một ông già thất tuần kh ỏe mạnh nhất, tôi không ngần ngại chọn Hồ Hữu Tường. Hồ Hữu Tường là người có thừa hiểu biết và kinh nghiệm về các phương cách giúp cho người tù bảo vệ sức kh ỏe trong điều kiện của lao tù. Vì vậy hơn một năm ở chung phòng với Hồ Hữu Tường, tôi không hề một lần thấy Hồ Hữu Tường bị bệnh, dầu chỉ là hắt hơi hay sổ mũi. Gần như trọn ngày, Hồ Hữu Tường bao giờ cũng ở trần, cũng ngậm gừng tươi trong miệng Trong khoảng từ 1 đến 4 giờ sáng, nếu người nào thức giấc nửa đêm đều thấy Hồ Hữu Tường đầu đội mũ ni che tai, mình mặc bà ba nâu, ngồi đánh cờ tướng một mình: tay phải đánh với tay trái, đêm nào cũng như đêm nào. Mặc dầu ngủ ít theo tuổi già, ban ngày kể cả giờ ngủ trưa rất ít khi người ta thấy Hồ Hữu Tường nằm nghĩ. Người đàn ông có sức kh ỏe bền bĩ đó chỉ hai năm sau đã phải từ trần vì lý do "suy nhược toàn diện". Hẳn nhiên, chẳng còn cái chết nào đáng hoài nghi hơn.

Do lòng tôn kính khả năng suy luận của bạn đọc, thay vì đưa ra một kết luận dứt khoát về trường hợp từ trần của Hồ Hữu Tường, bài viết chỉ xin trân trọng trình với bạn đọc một số ghi chú cần thiết như sau:

- Ghi chú một: mọi quan điểm kinh tế, chính trị được bài viết ghi lại đều là quan điểm do Hồ Hữu Tường phát biểu trong bối cảnh quốc nội và quốc tế năm 1978, trước khi xảy ra chiến tranh giữa Hoa Cộng và Việt Cộng.

- Ghi chú hai: vào lúc câu chuyện Phạm Văn Luyện xảy ra, bên cạnh Hồ Hữu Tường còn có ông Trương Đình Chư, nguyên chỉ huy trưởng Cảnh Sát Đặc Biệt Đà Nẵng, hiện có mặt tại Orange County, California, Hoa Kỳ. Vị sĩ quan này đã trực tiếp thấy và nghe tất cả dữ kiện bên trong và chung quanh hoạt động của Phạm Văn Luyện. Đề cập đến nhân chứng sĩ quan cảnh sát như vừa kể, bài viết có hàm ý biểu lộ thái độ triệt để nghiêm túc và tôn kính đối với bạn đọc trong mục tiêu trình bày sự thật

- Ghi chú ba: bình luận để lượng giá toàn bộ cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Hữu Tường không là chủ đích của bài viết này. Bài viết chỉ nhằm diễn tả thật rõ và thật trung thực thái độ phản kháng của Hồ Hữu Tường đối với thủ đoạn "tuồng cũ, đào kép mới" của Cộng sản Việt Nam. Thái độ phản kháng này ngày nay đã trở thành một loại chúc ngôn có tác dụng lưu ý hậu thế. Lưu ý rằng: Mặc dầu Hoa Cộng và Việt Cộng chẳng thể nào trở lại thời kỳ nồng ấm của hình ảnh "núi liền núi, sông liền sông môi hở răng lạnh" nữa. Thế nhưng trước thảm cảnh tan vỡ của Cộng sản Thế Giới, hai đảng Cộng sản Á Châu này buộc lòng phải liên kết với nhau để tồn tại. Không còn nghi ngờ gì nữa: chủ nghĩa Marx ngày càng để lộ tính thô thiển và bất lực, thay vì theo chân các nước cộng sản Đông Âu, CSVN lại biến hình thành một loại băng đảng hình sự: Họ không ngần ngại đặt lợi lộc của băng đảng lên trên quyền lợi của dân tộc. Để thực hiện âm mưu vừa kể, một mặt CSVN tiếp tục đưa đẩy "tuồng cũ, đào kép mới" để mê hoặc những người nhẹ dạ. Mặt khác CSVN sẵn sàng áp dụng biện pháp Thiên An Môn trong trường hợp quyền thống trị bị lâm nguy. Rất có thể chính CSVN sẽ xử dụng những tay chân của họ trong việc tạo ra "trường hợp quyền thống trị bị lâm nguy" để có cơ hội biểu dương một Thiên An Môn Việt Nam nhằm khủng bố nhân dân trước khi ng ười dân có điều kiện nổi dậy.

- Chính phủ liên hiệp là gì?
- Hòa hợp hòa giải là gì?
- Dân chủ hóa là gì?
- Cởi trói văn nghệ là gì?
- Kinh tế thị trường tự do là gì?

Nếu người chết có thể nói, Hồ Hữu Tường sẽ không ngần ngại trả lời: Tất cả chỉ là "tuồng cũ, đào kép mới".

Đỗ Thái Nhiên

https://hung-viet.org/a1767/ho-huu-tuong-nguoi-chet-u-uan

Đệ Tam Quốc Tế cộng Sản, còn gọi là Quốc Tế Cộng Sản hay Comintern, là tổ chức của những người cộng sản, được thành lập vào tháng 3 năm 1919 ở Moskva và giải tán năm 1943, được tái sinh lại năm 1947 và giải tán năm 1956, https://en.wikipedia.org/wiki/Trotskyism_in_Vietnam

 photo baacutenh tiecircu_zpspluhb4hq.png

 

 photo n_zpsvll9nf4i.jpg

55



 photo fought_zpsw7davgtx.jpg