Monday, December 29, 2025

VÔ ĐỀ SÁNG CHỦ NHẬT 28/12/2025
https://youtu.be/Gj0ObSnScxo?si=TYMxZBbs0T_Ynl4k




Let Them Fight - America Leaves the Last Battle of the Vietnam War - Xuân Lộc
https://youtu.be/tGlfNNidFEk?si=XrzJqM-IzmEQEHCA


Notes of Dark Docs

Vietcong+ and North Vietnam communist.

Let I tell something, the fall of South Vietnam (ROV – Republic of Vietnam) and the fall of Afghanistan are in different concepts:

+ Firstly, Taliban is an insurrection against Afghanistan government aided by America, they have almost no support by the major power but they still defeated the Afghan govt forces. While South Vietnam failed against Vietcong+ and North Vietnam communist when the US fully withdraw off South Vietnam in 1974, meanwhile; Soviet and China continued supporting North Vietnam to defeat South Vietnam and "unified" Vietnam under Communist banner.

+ Secondly, in the last day of South Vietnam, when the president of ROV-Dương Văn Minh ordered ARVN forces to surrender on midday 30th April 1975, many of ARVN forces and officers-while still fighting against enemy, were felt surprised, disappointed and angered listening their president ordered them to put out the arms.

- Some would surrender immediately,
- some would flee away,
- but some would stand up, against the order and still fighting until weeks later,
- some committed suicides with the sense of humiliation, dishonored, being betrayed.

While what about the Afghan forces?

They fled and surrendered immediately to the enemy, when their president started transition of government to Taliban, most of Afghan forces had been disbanded and stopped the fighting anyway.

+ Thirdly, the war against Taliban by the US was started in 2001, the creation of Afghan government was by American too. While not until 1965 that the US involved into South Vietnam to against Vietcong+ and North Vietnam communist.

Before that during Ngô Đình Diệm's presidency, it was own ARVN forces conducted the attack on Vietcong and it was successfully, even Vietcong leaders had to committed that "The hardest time for our forces (to against South Vietnam) was during 1960-1963(During Diệm's presidency).

After Diệm's assassination by CIA during Kennedy's presidency (because he's against American troops intervened in South Vietnam), that Vietcong started to rise up so much that the United States had to send troops to contain communism.
And notice, the successor of Diệm-Nguyễn Văn Thiệu (who was involved in Diệm's assassination helping by CIA), was a corrupted president, so it's helping Vietcong to getting rural people support.

The only thing I can see comparing Afghanistan to Vietnam that America, while having a good tactic to win almost every battle against the enemy, but not having a will to protect the building that they have built, they just messed up a lot after they leaving.

So then, comparing South Vietnam's fall to Afghanistan ones is like comparing strawberry to apple: they are fruits, with same color but different taste.

P.s: Many people comparing the situation in Vietnam like in Afghanistan, I feeling it's very not a similar concept to referring two of them. So, I let my comment from another video to clarify it in my opinion.

Ghi chú của Dark Docs

Vietcong+ và cộng sản Bắc Việt.

Hãy để tôi nói một điều, sự sụp đổ của Nam Việt Nam (ROV – Việt Nam Cộng hòa) và sự sụp đổ của Afghanistan là ở những khái niệm khác nhau:

+ Thứ nhất, Taliban là một cuộc nổi dậy chống lại chính phủ Afghanistan được Mỹ hỗ trợ, họ gần như không có sự ủng hộ từ các cường quốc lớn nhưng vẫn đánh bại được quân chính phủ Afghanistan. Trong khi Nam Việt Nam thất bại trước Vietcong+ và cộng sản Bắc Việt khi Mỹ rút hoàn toàn khỏi Nam Việt Nam vào năm 1974, trong khi đó; Liên Xô và Trung Quốc tiếp tục hỗ trợ Bắc Việt nhằm đánh bại Nam Việt Nam và "thống nhất" Việt Nam dưới lá cờ Cộng sản.

+ Thứ hai, vào ngày cuối cùng của Nam Việt Nam, khi tổng thống ROV – Dương Văn Minh ra lệnh cho lực lượng ARVN đầu hàng vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều quân nhân và sĩ quan ARVN – trong lúc vẫn đang chiến đấu chống kẻ thù – cảm thấy bất ngờ, thất vọng và tức giận khi nghe tổng thống ra lệnh cho họ dừng lại vũ khí.

- Một số đầu hàng ngay lập tức,
- một số bỏ chạy,
- nhưng một số đứng lên, chống lại lệnh và tiếp tục chiến đấu đến vài tuần sau,
- một số tự sát vì cảm giác nhục nhã, mất danh dự, bị phản bội.

Còn lực lượng Afghanistan thì sao?

Họ bỏ chạy và đầu hàng kẻ thù ngay lập tức, khi tổng thống của họ bắt đầu chuyển giao chính quyền cho Taliban, hầu hết lực lượng Afghanistan đã bị giải tán và dừng chiến đấu.

+ Thứ ba, cuộc chiến chống Taliban của Mỹ bắt đầu vào năm 2001, việc thành lập chính phủ Afghanistan cũng do Mỹ thực hiện. Trong khi đó, phải đến năm 1965 Mỹ mới tham gia vào Nam Việt Nam để chống lại Việt cộng và cộng sản Bắc Việt.

Trước đó, trong thời kỳ tổng thống Ngô Đình Diệm, chính lực lượng ARVN thuộc quyền của họ đã tiến hành các cuộc tấn công vào Vietcong và đã thành công, thậm chí các lãnh đạo Vietcong đã phải thừa nhận rằng "Thời gian khó khăn nhất cho lực lượng chúng tôi (để chống Nam Việt Nam)" là trong giai đoạn 1960-1963 (Trong nhiệm kỳ tổng thống của Diệm).

Sau khi Diệm bị ám sát bởi CIA trong nhiệm kỳ của Kennedy (vì ông ấy phản đối việc quân đội Mỹ can thiệp vào Nam Việt Nam), lực lượng Việt Cộng bắt đầu nổi dậy mạnh đến mức Hoa Kỳ phải cử quân để kiềm chế chủ nghĩa cộng sản.
Và lưu ý, người kế nhiệm Diệm - Nguyễn Văn Thiệu (người có liên quan đến vụ ám sát Diệm với sự giúp đỡ của CIA) - là một tổng thống tham nhũng, nên điều này giúp Việt Cộng có thêm sự ủng hộ từ người dân nông thôn.

Điều duy nhất tôi thấy khi so sánh Afghanistan với Việt Nam là Mỹ, mặc dù có chiến thuật tốt để thắng hầu hết các trận đánh với kẻ thù, nhưng lại không có ý chí bảo vệ những công trình mà họ đã xây dựng, họ chỉ làm rối tung sau khi rút đi.

Vì vậy, so sánh sự sụp đổ của Nam Việt Nam với Afghanistan giống như so sánh dâu tây với táo: đều là trái cây, cùng màu nhưng hương vị khác nhau.

P.s: Nhiều người so sánh tình hình ở Việt Nam giống như ở Afghanistan, tôi cảm thấy đó không phải là một khái niệm giống nhau khi nhắc đến cả hai. Vì vậy, tôi để lại bình luận của mình từ một video khác để làm rõ điều đó theo quan điểm của tôi.

........

Ngược dòng thời gian

Ngày đó tôi vẫn thắc mắc: Tại sao các tướng ở vùng IV Chiến Thuật ỏ miền tây miền nam tự sát vào ngày 30 tháng 4, 1975 nhiều vậy?
Tuy đọc nhiều lời giải thích về sự tràn ngập quân bộ đội và quân du kích trong miền nam, nhưng các người "lính mình" đều giải thích khác nhau. Không hài lòng ở những câu trả lời, tôi quyết định đi tìm sự thật một mình. Suýt nữa tôi tin là -- Vì hết đạn, lính mình không muốn chiến đấu. Thôi cũng được, tin như vậy để khỏi đau đầu, đau lòng... Nhưng sau này đọc những bài hồi ký, những câu chuyện viết lại, những câu chuyện truyền miệng khi các người "lính mình" ra khỏi tù được Việt cộng thả ra, tôi lại nghĩ -- Chắc Việt cộng nó thấy thắng chắc ăn, không ai phản công, phản pháo, phản đối, thế cũng được.

Nhưng mà thêm sau đó một thời gian nữa, mới biết, Việt cộng thả "lính mình" vì có sự can thiệp của các cựu chiến binh Hoa Kỳ đòi hỏi, cùng với người Việt tị nạn ở hải ngoại miệt mài tranh đấu [người lính VNCH đã giao vũ khí cho Việt cộng rồi, mà còn bắt nhốt tù, tịch thu nhà cửa, lại không cho sổ "hộ khẩu hộ lý hộ chiếu gì đó để cắt đứt đường sống gia đình người chiến bại] can thiệp đòi hỏi tuân theo luật tù binh thế giới chứ không phải luật khỉ đít đỏ... và với một số tiền đô la nào đó. Ủa vậy hả? Rồi sau đó Mỹ mua con lai Mỹ đem về Mỹ với một số tiền nào đó. Vậy hả? Sao Vậy? Và mua hài cốt lính Mỹ còn chôn đâu đó đem về Mỹ, rồi cũng có cả mua các nhân viên, người giúp việc, người làm công cho Mỹ, người làm sở Mỹ thời đó, đem về Mỹ. Trời ơi Việt cộng nhận đô la và đô la tưng bừng, chưa kể được mượn tiền ngân hàng quốc tế bung ra cho Việt cộng để xây dựng "nhà lướt" của họ, nhà bank quốc tế cho vay tiền không tiền lời, quỹ tiền tệ hội này hội nọ cho mượn tiền giúp xóa đói giảm nghèo gì đó, tiền, tiền, đô la, đô la tung vào Việt Nam nhiều biết mấy, nhiều nước đông nam Á cũng thấy thế cũng "nể mặt" Việt cộng nữa là... chúng giầu quá!

Chuyện như thế này, khi Liên Sô Sô Viết sụp đổ, cùng các nước cộng sản đông Âu không nuôi cô báo mấy thằng Việt cộng được nữa, mà Tàu cộng cũng không đủ tiền nuôi cả đám nam cộng cùng bắc cộng bị dụ dỗ, hứa hẹn hão huyền đi theo nó nữa, nên Tàu cộng hiến kế cho Việt cộng quay ra "nẹo" tiền thằng Mỹ mà sống, bằng nhiều hình thức: mở cửa với các nước Tư Bản, đổi mới kinh tế, kêu gọi người Việt hải ngoại về Việt Nm du lịch, du hí, du dương, du ngoạn đầu tư gì đó.

Nghe mấy ông Việt cộng nói -- Vì đã lâu sống trong hố Bò, lỗ Củ Chi, hốc Bò Tó, hang, hầm chỉ biết bắn AK, liệng lựu đạn... nên không ai biết làm kinh tế, số tài sản ăn cắp, ăn cướp của VNCH dù Việt cộng có ăn đến núi cũng phải lở, và còn phải bòn rút tài nguyên VNCH mà lấy Nam lấp bắc, bào mòn miền nam, kéo dài gần 40 năm.

Đặt lại vấn đề: Tại sao miền nam mất quá nhanh chỉ trong ba tháng hay hai tháng gì đó, vậy thì phải có sự sắp đặt cho miền nam mất. Ai sắp đặt? Lại đi tìm câu trả lời lại phải đi một mình...
Hãy nghe một vị Tư Lệnh Không Quân VNCH nói gì nhé.

Tư Lệnh Không Quân Trần Văn Minh & Lời Tự Tình Của Một Cánh Bay!
https://youtu.be/ohS_bnqy8ow?si=Jsc9VlMfbOkhFh9P


Lời Tự Tình Của Một Cánh Bay – Trung Tướng Trần Văn Minh

Để tôi kể bạn nghe về sự thật của tôi. Đó không phải là sự thật về bất cứ sĩ quan hay ông tướng ông tá người Việt nào. Nó không phải là sự thật về một chính khách người Việt nào. Nó chẳng là sự thật về gia đình tôi hay bạn bè tôi.

Nhưng nãy giờ tôi đang nói về sự thật của tôi. Đó là những gì tôi đã thấy và tôi đã tin. Đó là sự thật của tôi. Câu trả lời cho thảm kịch thất trận của miền Nam Việt Nam thật đơn giản. Nó có thể tóm gọn với hai chữ “không đủ”. Chúng tôi không có đủ tiếp liệu trong những tuần cuối cùng của cuộc chiến. Và chúng tôi không có đủ lính. Chỉ có thế. Đó là toàn bộ vấn đề. Không đủ. Báo chí Mỹ nói là chúng tôi thất trận vì chúng tôi tham nhũng. Tôi không chối là đã có tham nhũng tại Việt Nam. Có. Có tham nhũng trên thị trường, trên chính trường và trong một vài đơn vị quân đội. Nhưng dứt khoát không có tham nhũng trong Không Quân. Những người lính Không Quân tin vào Tổ Quốc Không Gian, và họ tin cậy cấp chỉ huy. Không có chuyện tham nhũng nơi các sĩ quan quanh tôi.

Vấn đề sinh tử là chúng tôi không còn cơ phận và cũng không có nhiên liệu. Chúng tôi bị thiếu hụt nhiên liệu trong những ngày cuối cuộc chiến. Vì vậy mà chúng tôi không thể cất cánh. Không lực chúng tôi bị nằm ụ dưới đất. Thế mà người Mỹ, có máy điện toán với đầy đủ dữ kiện. Họ nói rằng chúng tôi có đủ. Họ cả quyết là chúng tôi có đủ nhiên liệu và đồ phụ tùng. Họ cả quyết trên cơ sở chính trị. Họ không cả quyết trên cơ sở thực tế.

Tất cả những gì chúng tôi cần đến là Tiếp Vận. Có tiếp liệu mới đánh đấm được. Khi mà hàng tiếp liệu không được chuyển giao, thì tinh thần chiến đấu của sĩ quan và binh lính chúng tôi sẽ xuống thấp. Ai cũng thấy là đồ tiếp liệu đang cạn kiệt. Họ biết chúng tôi sẽ hết sạch. Và khi họ thấy như vậy, họ sẽ biết là chúng tôi đang bị đồng minh thân thiết bỏ rơi. Và rồi họ sẽ mất sạch tinh thần chiến đấu. Tôi chưa bao giờ nghĩ là đồng minh sẽ lừa dối và bỏ rơi chúng tôi. Tôi nghĩ đến Bá Linh và Đại Hàn khi nghĩ đến các giải pháp của người Mỹ. Và tôi thấy người Mỹ đã bảo vệ họ. Tôi nghĩ là chúng tôi, là tiền đồn của thế giới tự do, rồi cũng được bảo vệ như thế. Đại Sứ Graham Martin nói đi nói lại là Mỹ sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng tôi. Ổng nói là chúng tôi nên tin như thế.

Những gì đã xảy ra vào phút cuối đã như một vài người Mỹ đã nói trước. Chúng tôi thua trận nhanh hơn Bắc quân có thể thắng. Đúng vậy. Tôi coi như sách lược của Tổng Thống Thiệu là bỏ rơi vùng Cao Nguyên sau khi mất Ban Mê Thuột là một chiến thuật hay. Nhưng nếu chúng ta được tiếp vận hợp lý, thì tinh thần chiến đấu của chúng ta vẫn còn, và chúng ta có thể tái phối trí quân đội để tiếp tục chiến đấu.




Khi Tổng Thống Thiệu từ chức vào ngày 21 tháng Tư, tôi đã nghĩ đó là dấu hiệu lạc quan. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ có những thỏa ước mới, những chế độ mới. Phó Tổng Thống Hương trở thành tổng thống. Ông là một nhà giáo lão thành đáng kính. Ông là một người trung thực.

Nhưng rồi ông giao quyền tổng thống cho Tướng Dương Văn Minh. Một vài người chúng tôi tin rằng Tướng Minh có thể đạt được những thỏa ước hòa bình. Nhưng chúng tôi cũng nghĩ tình hình đang diễn ra là một bóng đen hắc ám. Chúng tôi tin rằng người Việt sẽ không còn tự quyết một điều gì. Bất cứ điều gì, chúng tôi tin chắc rằng, phải được quyết định sau bức màn siêu quyền lực. Người Mỹ, người Nga, người Tàu _ chúng tôi tin chắc là thế _ sẽ quyết định số phận của Việt Nam. Chúng tôi đã chờ đợi ngày này qua ngày khác mới thấy những điều họ đã âm mưu. Chúng tôi nghĩ một phần trong những âm mưu đó là người Mỹ sẽ ngưng cung cấp hàng tiếp liệu cho chúng tôi.

Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ

Trong những ngày cuối cùng của VNCH nhiều lần tôi đã có nói chuyện với Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Và nhiều lần ông đã yêu cầu tôi làm đảo chánh. Ông nói, “Hãy cẩn thận. Người Mỹ đang bảo vệ Tổng Thống Thiệu. Đừng để họ biết kế hoạch của các anh”. Rồi khi tôi gặp ổng vài ngày sau đó, ổng lại yêu cầu tôi, “Khi nào thì anh cầm đầu cuộc đảo chánh? Khi nào thì đảo chánh?”. Tôi nói với ổng là tôi không muốn cầm đầu đảo chánh. Tôi hỏi ông ấy là ông có muốn đảo chánh không? Và ổng nói không, không muốn. Ông nói là ông nghĩ tôi muốn. Ổng quá cẩn thận. Ông muốn tôi cầm đầu đảo chánh để ông trở thành người lãnh đạo mới của đất nước. Nhưng điều mà Tướng Kỳ không thể nào hiểu được là tôi và binh lính của tôi sẽ không trung thành với ai cả. Chúng tôi chỉ trung thành với Tổ Quốc. Chúng tôi trung thành với Việt Nam, chúng tôi yêu Việt Nam. Rất nhiều người lính chúng tôi đã chết cho Việt Nam. Họ đã chiến đấu và chết không vì bất cứ ai, mà cho Việt Nam.


Trong một cuốn hồi ký Tướng Kỳ nói là tôi đã đến nhà ổng và nói là tôi sẽ trung thành với ổng bằng bất cứ giá nào. Ông nói tôi đã nói với ổng là người của Tòa Đại Sứ Mỹ đang đút tiền cho tôi để thăm dò ông cho Mỹ. Không có điều nào đúng cả. Không hề có ai đưa tiền cho tôi cả – đặc biệt là người của Tòa Đại Sứ Mỹ. Và tôi không hề có chuyện đàm phán nào với tướng Kỳ. Đọc nó rất buồn cười. Tại sao ổng lại bịa ra những điều này trong cuốn hồi ký? Ông moi những chuyện này ở đâu ra vậy? Có thể là ông đang nhắm tới một ai đó chớ không phải tôi. Ông không được bịa chuyện về tôi.

Gần trưa ngày 29 tháng Tư, tôi nhận một cuộc điện gọi từ cơ quan DAO nói rằng sẽ có một cuộc họp giữa Mỹ và các cấp chỉ huy của Vietnam Air Force (VNAF). Tôi qua cơ qua DAO với nhiều người nữa. Chúng tôi được đưa vào một gian phòng. Rồi người ta để chúng tôi ngồi đó một lúc lâu. Chúng tôi nghĩ Đại Sứ Martin hoặc Tướng Homer Smith (tùy viên quân sự) hoặc ai đó sẽ thuyết trình một kế hoạch đẩy lui Cộng quân. Nhưng chẳng có ai thuyết trình cả. Không có ai thuyết trình cho tới xế trưa. Sau khi chúng tôi đi vào khu vực cơ quan DAO thì một người lính gác đã tước vũ khí của chúng tôi. Điều này chưa bao giờ xảy ra trước đó. Rồi cuối cùng cũng có một người, mặc đồ sĩ quan, bước vào phòng và nói, “Đã kết thúc rồi, Thưa Tướng Minh. Một trực thăng đang đợi ngoài kia sẽ đưa ông đi”. Chúng tôi bước ra chiếc trực thăng. Nó đưa chúng tôi bay ra chiếc Blue Ridge ngoài biển Đông.

Một đại tá Không Quân Mỹ đang ngồi trên tàu với tôi. Ông ta ngồi kế bên tôi. Ổng khóc suốt chuyến bay. Ổng không nói được. Nhưng ông ấy đã viết gì đó lên một mảnh giấy rồi đưa cho tôi. Tôi đọc, “Thưa tướng quân, tôi rất tiếc”. Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy đó cho tới ngày hôm nay. Tôi sẽ giữ mảnh giấy đó suốt đời. Tôi sẽ luôn nhớ tới chuyến bay buồn thảm ra chiến hạm Blue Ridge.

Đối với những người theo đạo Phật như chúng tôi, chúng tôi tin rằng thượng đế đã an bài mọi sự. Chúng tôi tin rằng chúng tôi phải chịu nhiều đau khổ trong cuộc đời này bởi vì kiếp trước chúng tôi đã tạo nhiều ác nghiệp. Tôi tin rằng trong cái kiếp trước mà tôi không nhớ nổi chắc là tôi đã phạm nhiều điều sai quấy. Đó là lý do tại sao chuyện ác lai này lại báo ứng với tôi và với quê hương tôi. Đôi khi chúng ta có thể cưỡng lại số phận nếu chúng ta hành thiện và chỉ làm những điều lương tâm sai bảo. Đó là những gì tôi đang cố tu thân. Tôi phải cố tu thân và làm những gì hợp với lương tâm.

Nhưng từ khi đất nước tôi sụp đổ, tâm hồn tôi đã hóa ra tan nát. Trong 20 năm qua thâm tâm tôi đã cảm thấy trĩu nặng nỗi buồn đau và trống vắng. Nó vẫn không phai đi. Tôi cảm thấy nó hằng ngày. Không một ngày nào trôi qua trong đời mà tôi không nhớ về Việt Nam.

"Bạc lòng nhưng chẳng cam lòng,
Mang theo nhục nước vào trong mộ phần”.


(Hà Huyền Chi)
Sự thật Đời Tôi – Trung Tướng Trần Văn Minh

----------------------------------------
Chỉ đem ra, chúng tôi không bàn luận, mỗi người nghe và tự tìm lấy câu trả lời.

#1635: Tình Hình Thế Giới Đầy Biến Động | 29.12.25
https://youtu.be/uDSi5TpG080?si=ak8UnJ-7mf9tIVyu


#1636: Lý Do Nga Còn Tiền Đánh Hoài | Vì Sao Mỹ Muốn Greenland? | 30.12.25
https://youtu.be/0kDs-daeCFk?si=zcdl6qcUj8drNYsT


Người Việt trong nước không đòi, tố cáo Tàu cộng
Người Việt Hải Ngoại khắp năm châu bốn bể đòi Tàu cộng
50 năm biến cố Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
https://youtu.be/TLKNocMYR6o?si=uaWYFqabQqyxXtGt










Friday, December 26, 2025

 


Từ Chiến Sĩ đến Tu Sĩ
Thiếu Úy Biệt Cách Dù - Ngô Nhựt Tân, Từ Chiến Trường Đến Tiếng Chuông Chùa Tĩnh Lặng!
https://youtu.be/QneUfl9i6Dk?si=Sx-RorfXrpYp2YXo




Người lính dẫn đầu toán lính đó là chiến sĩ Ngô Nhựt Tân - Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù


Có một vị sư trong Phật giáo luôn luôn ca tụng sự liêm chính của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đó là nhà sư Thích Thông Lai. Ngôi chùa Thượng Tọa Thích Thông Lai có trưng bày hình ảnh tướng tá tự vẫn trong ngày 30 tháng 4, năm 1975. Tỳ Kheo Thích Thông Lai ngày xưa trong quân đội của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quân đoàn Không Quân, Sư Đoàn 6 Không Quân, ông là nha tuyên úy phật giáo.

Đoạn video dưới đây chúng ta sẽ biết thêm.

LỄ TƯỞNG NIỆM Cố TT NGÔ ĐÌNH DIỆM 2025 Houston, TX
https://youtu.be/jRdO4M86Cdg?si=R6GLBdB0ptr413aY


..........................................

Ngoài ra, còn một phi công VNCH sau cuộc chiến, ông đã trở thành một mục sư tại tiểu bang Texas, đó là pilot Chung Tử Bửu.
 photo kingbee26_zps7017cc8c.jpg
Chung Tử Bửu là học sinh Trung Học Lê Lợi, Di Linh gần Đà Lạt, hiện ông đang là Mục Sư tại tiểu bang Texas.

Queen Bee/Phi Đoàn 219 Long Mã

 photo ChungT1EEDB1EEDuVagraveErnest_zpsc7179c6a.jpg

Phi công Chung Tử Bửu và Ernest


Queen Bee/Phi Đoàn 219 Long Mã
--------------
Phi Công Biệt Kích (Queen Bee 1)
Cùng thời gian đó, có một tên đại tá Việt cộng đến thẩm vấn tôi suốt một tuần về các vấn đề xã hội, thông tin báo chí, văn hóa văn nghệ của Miền Nam. Hắn ba hoa khoác lác về vấn đề tự do tín ngưỡng ở miền Bắc rồi khoe về các nơi thờ tự hiện đang có tại Hà Nội. Tên đại tá Việt cộng hỏi tôi:

- “Tôi có thể giúp anh được gì không?”

Tôi trả lời:

- “Dạ có, tôi muốn có một quyển Thánh Kinh để đọc.”

Hắn giãy như đỉa phải vôi:

- “Ô ô ô ô... cái... cái... cái đó thì không được! Vì chúng tôi không tin, không cho phép, và cũng chẳng đào đâu ra để có cho anh.”

(Trích đoạn "Như Chuyện Không Tưởng")

--------------

Những tu sĩ có mặt và làm việc trong quân đội của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Trung tá Tuyên úy Phan Phát Huồn


NHA TUYÊN ÚY QUÂN LỰC VNCH
Tuyên úy trong quân lực VNCH trước 1975 chỉ có nơi ba tôn giáo: Phật Giáo, Công Giáo và Tin Lành, do các tu sĩ đảm trách trong các  hoạt động  Mục vụ, Phật vụ về tinh thần cho các binh sĩ thuộc tôn giáo của mình, thực hiện các nghi lễ tôn giáo tại khu vực đóng quân. Cấp bậc tuyên úy trong quân lực VNCH là cấp bậc giả định để tương xứng với đơn vị trách nhiệm. Cấp bậc tuyên úy trong các quân đội trên thế giới đã có từ lâu, các tuyên úy đầu tiên trong quân đội Anh là các linh mục có mặt trên các tàu hải quân ở thế kỷ thứ 8.  Các nhà  nguyện trên đất liền cũng thấy xuất hiện  trước đó, dưới triều Vua Edward I. (1239 - 1307)

Tuyên úy trong quân lực VNCH được ủy nhiệm từ các Tòa Tổng Giám Mục, Hội thánh Tin Lành hay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất - Viện Hóa Đạo.
Nha Tuyên Úy QL.VNCH trực thuộc Cục Xã hội Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, trách nhiệm săn sóc gia đình binh sĩ về gia cư, trường học, y tế và tang chế.

Cục có một trường Nữ Trợ tá Xã hội đào tạo các nữ sĩ quan và hạ sĩ quan chăm lo đời sống gia đình binh sĩ tại các khu gia binh. Họ cũng thăm viếng ủy lạo thương bệnh binh tại các Quân y viện và chăm lo gia đình tử sĩ. Đồng thời Cục Xã hội xin Bộ Giáo dục và Thanh niên cho phép thành lập các trường trung tiểu học Văn hóa quân đội theo quy chế công lập, để cho con em quân nhân theo học mà không phải thi tuyển cũng như phải đóng học phí như các trường tư thục.
Ngoài ra, Cục Xã Hội còn trông coi các Nha Tuyên Úy Công giáo, Phật giáo và Tin lành.

I. NHA TUYÊN ÚY PHẬT GIÁO
Ngành Tuyên Úy Phật Giáo được thành lập vào ngày 13 Tháng Ba, 1964 do sự vận động và khai sáng của Hòa Thượng Thích Tâm Châu. Vị giám đốc đầu tiên là Hòa Thượng Thích Tâm Giác. Ngành nhanh chóng được phát triển đến khắp các đơn vị lớn nhỏ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa trong nỗi vui của các quân nhân Phật Tử. Vì được tổ chức rộng lớn nên các sĩ quan Tuyên Úy được bổ nhiệm vào các đơn vị tác chiến cũng phải có mặt trên khắp các chiến trường để giữ vững tinh thần cho các quân nhân Phật Tử.
Cố Hòa Thượng Thích Tâm Giác, giám đốc đầu tiên của ngành này, được coi là vị sư già xem các sĩ quan tuyên úy như đàn con ruột thịt, chăm lo và bảo bọc trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam. Và Hòa Thượng Thích Thanh Long, giám đốc cuối cùng của ngành, được coi là một vị đạo cao đức trọng trong mọi hoàn cảnh.

Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định sinh ra tại tỉnh Nam Định, cha là cụ ông Trần Văn Quý, mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ông là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Thuở nhỏ, ông yếu đau luôn, được giao cho các vị Tăng tại ngôi chùa trong thôn trông coi và ở luôn trong chùa. Đến khi lên 7 tuổi, ông xin với song thân cho xuất gia đầu Phật, thụ nghiệp với Hòa thượng Thích Trí Hải tại chùa Mai Xá thuộc Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là Nam Hà).
 
Ông được trường Tăng Học Quán Sứ lựa chọn gửi đi du học Nhật Bản năm 1954. Sau 8 năm du học, ông đạt được bằng Tiến sĩ Xã hội học, Tiến sĩ Triết học Đông Phương và Tam đẳng huyền đai tại viện Nhu đạo KODOKAN. Và là giám đốc viện Nhu đạo Quang Trung 1964, nằm trên đường Phạm Đăng Hưng, Dakao, Sài Gòn, nơi cư xá của Nha Kỷ Thuật Học Vụ Quận I Sài Gòn.  https://quangduc.com/a5501/hoa-thuong-thich-tam-giac

Hòa thượng được đề cử là Chánh Đại Diện Miền Vĩnh Nghiêm của khối phật giáo đồ miền Bắc lập nghiệp và hành đạo tại miền Nam, kiêm nhiệm các chức vụ Tổng vụ trưởng Kiến Thiết và Tài chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập năm 1964. Đồng thời hòa thượng còn giữ chức giám đốc nha tuyên úy trong quân đội. Cuối năm 1964, ông thành lập viện Nhu đạo Quang Trung, nhằm tạo lập cho thanh niên Việt Nam có được một thể lực tự vệ.

HT Tâm Giác đã tích cực thành lập các đơn vị Tuyên Úy Phật Giáo từ cấp Tiểu Đoàn đến Quân Đoàn nhằm săn sóc về mặt tâm linh cho các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính Phật Giáo. Sau khi HT viên tịch vào ngày 20 tháng 10 năm Quý Sửu, tức ngày 15/11/1973, được an táng tại nghĩa trang Vĩnh Nghiêm, huyện Hóc Môn.
Hòa Thượng Thích Thanh Long kế nhiệm HT Tâm Giác cho đến ngày miền Nam rơi vào tay Việt cộng, và ngài chấp nhận ở lại với anh em binh sĩ và gia đình để bị nhiều năm trong lao tù Việt cộng, nhưng chính những năm tháng bị tù tội, Hòa Thượng đã nêu gương sáng cho nhiều bạn đồng tù và cho cả những cai tù. Mọi người rất nể phục phẩm hạnh và đức độ của một vị chân tu, đem tình thương, lòng từ bi trải khắp mọi người.
1. https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/Ngay-Hiep-Ky-Tuyen-Uy-Phat-Giao-quan-luc-VNCH-4617/
2. http://gopnang.ning.com/page/nhung-vi-s-nha-tuyen-uy
3. https://danchuahiepthong.wordpress.com/2010/12/28/m%E1%BB%99t-thanh-gia-cha-vang-dong-cctvn-m%E1%BB%99t-doa-sen-tt-thich-qu%E1%BA%A3ng-long-nha-tuyen-uy-qlvnch/
4.  http://gopnang.ning.com/page/nhung-vi-s-nha-tuyen-uy

TRUNG TÁ TUYÊN ÚY PHẬT GIÁO THÍCH HẠNH ĐẠO

Năm 1964 khi ngành Tuyên Úy Phật Giáo được thành lập, Hòa Thượng Thích Hạnh Ðạo xin tham dự và tốt nghiệp khóa I Sĩ Quan Tuyên Úy Phật Giáo trong QLVNCH, được công cử ra Vùng I làm phụ tá tuyên úy Quân Khu I.
Khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập cũng vào năm 1964, hòa thượng được công cử vào chức vụ tổng thư ký cho Ban Ðại Diện Giáo Hội tại Quảng Nam-Ðà Nẵng.
Tới năm 1966, hòa thượng được cử về làm tuyên úy trưởng tại Tổng Y Viện Cộng Hòa ở Sài Gòn.
Năm 1968, hòa thượng được quân đội thăng trung tá, đảm nhận chánh sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Ðoàn 4, Quân Khu 4.
Năm 1970, hòa thượng được công cử làm giám đốc cơ quan viện trợ CRS là cơ quan viện trợ nhân đạo quốc tế của Hoa Kỳ ở Việt Nam.
Từ 1970 đến 1975, hòa thượng về trụ trì tại chùa Từ Tâm trong Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Ðà Nẵng.
Gần 10 năm bị Cộng Sản cầm tù sau 30 tháng 4 năm 1975 chỉ vì đã gần gũi, khuyến hóa anh em trong QLVNCH trong vai trò một sĩ quan Tuyên Úy Phật Giáo, cố Trung Tá Tuyên Úy Phật Giáo Thích Hạnh Ðạo đã không chỉ là một vị sĩ quan trong phạm vi tinh thần mà ngài đã tích cực trong nhiều công tác xã hội
Sau khi ra tù năm 1985, hòa thượng được chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh trong chương trình H.O. 19.

Năm 1993, hòa thượng định cư tại California và khai sơn ngôi chùa Phổ Ðà làm nơi tu học cho tăng tín đồ và hoằng dương Phật pháp. Hòa thượng trụ trì tại đây cho đến ngày viên tịch. Di cốt của ngài được nhập tháp tại chùa Phổ Ðà. Hòa thượng viên tịch vào lúc12 giờ trưa ngày 28 tháng 7 năm 2011. 

CÁC VỊ SƯ TUYÊN ÚY TRONG TÙ CẢI TẠO

Sau 30 Tháng Tư, 1975, nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã coi những sĩ quan Tuyên Úy có “tội” nặng vì đã là nguyên nhân chính làm cho tinh thần chiến đấu của các quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa tăng cao. Hầu hết các sĩ quan Tuyên Úy đều phải ở tù cải tạo cả chục năm trời. Cũng chính trong thời gian này, các nhà tu hành trong lốt sĩ quan Tuyên Úy đã thể hiện được cái tinh thần đạo pháp của tôn giáo mình. Xem Những Vị Sư Nha Tuyên Úy - trích Hồi Ký Những Người Tù Cuối Cùng - Phạm Gia Đạihttps://www.okclips.net/video/MeIduLtvyqs/nhung-vi-su-nha-tuye.html

Hòa thượng Thích Thanh Long, Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo sau khi Hòa Thương Thích Tâm Giác viên tịch và năm 1973. Như các sĩ quan trong QL.VNCH khác, thầy đã bị bắt đi cải tạo sau khi csVN chiếm đóng miền nam. Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái  Trong tù cộng sản thầy vẫn an nhiên tự tại thể hiện được cái “Pháp” trong tinh thần Phật Giáo. Thượng Tọa luôn thể hiện được cái tâm thanh thản, sắc sắc không không, để giúp anh em bạn tù vượt qua được những phương cách trị tù qua các trại giam cải tạo của Cộng Sản.  HTThích Thanh Long, đã sống vì anh em quên cái xác thân mình qua mọi hành vi cư xử khiến cho Ký Giả Lô Răng của nhật báo Tiền Tuyến khi ra khỏi tù qua tị nạn tại Úc Châu đã viết về Hòa thượng như một vị Phật sống khi được cùng chung đội lao động với Hòa thượng. HT cũng từng là một Sĩ Quan Chỉ Huy trong ngành Tuyên Úy Phật Giáo. Khi Cộng Sản tha ra khỏi tù, một vài năm sau người đã viên tịch tại một ngôi chùa ở quận 3 Sài Gòn vì kiệt sức.  Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày  trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc. Câu chuyện về tấm gương bồ tát của Hòa thượng Thích Thanh Long có thể đọc tiếp nơi:  https://www.chuabuuchau.com.vn/phat-giao-viet-nam/thuong-toa-thich-thanh-long_32306.html

Ngành Tuyên Úy Phật giáo trong QLVNCH đã đào tạo được 7 khóa với tổng số 60 sĩ quan Tuyên Úy Phật giáo. Trước khi dứt lời ông nhắc nhở mọi người Việt tị nạn đừng quên thảm họa mất nước trước cuộc xâm lăng của Tàu Cộng.
II.GIÁM ĐỐC NHA TUYÊN ÚY CÔNG GIÁO


Linh Mục Cao Đức Thuận sinh ngày 25-7-1924 tại Nhân Nghĩa, Hải Phòng. Ngài học Tiểu Chủng Viện Ba Đông, Hải Dương (1935), Đại Chủng Viện thánh Alberto, Nam Định (1945). Năm 1954, Ngài học Thần Học năm cuối tại Học Viện Đa Minh, Rosary Hill, Hongkong. Ngài thụ phong linh mục tại Hongkong do Đức Cha Bianchi, Tổng Giám Mục Hồng Kông ngày 2-5-1955. Sau đó, trở về Việt Nam.
Năm 1957, Ngài được Hội Đồng Giám Mục Miền Nam chỉ định phục vụ trong Quân Đội với chức vụ Tuyên Uý  Công Giáo tại Phan Rang, Nha Trang, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Bình Tuy.

Năm 1967-1970, Phó Giám Đốc Nha Tuyên Uý Công Giáo tại Saigon và Quản nhiện Giáo Xứ Đồng Tiến. Năm 1970-1974, Chánh xứ giáo xứ Quý Đức – Qui Nhơn.
Năm 1974, đảm nhiệm chức vụ Giám Đốc Nha Tuyên  Uý Công Giáo thuộc QL VNCH.
Hiện nay, vì tuổi cao, Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn đã bổ nhiệm Cha Phêrô Nguyễn Văn Phương, OP, là người kế vị Cha Louis Bertrand Cao Đức Thuận. 
Linh Mục Cao Đức Thuận, 150 Bùi Thị Xuân, Phường 2, Quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam. ĐT: (+84) 28 3844 8723; (+84) 977- 374-059. Nguồn:
https://www.danchuaucchau.org/linh%E2%80%82muc%E2%80%82louis-bertrand%E2%80%82cao%E2%80%82duc%E2%80%82thuan/

L.M PHÊRÔ PHAN HUÔN 
PHÓ GIÁM ĐỐC NHA TUYÊN ÚY CÔNG GIÁO

Lm Phêrô Phan Phát Huồn,  Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1926, tại Thừa Thiên-Huế, Việt Nam, vừa được Chúa gọi về lúc 11:10 sáng thứ Sáu, ngày 16 tháng 10 năm 2015, tại Viện Dưỡng Lão, Long Beach, California, Hoa Kỳ, hoàn tất hành trình 89 năm ở trần gian, 67 năm tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, và 62 năm thi hành sứ vụ Linh mụ




Năm 1957 Cha gia nhập Ngành Tuyên Úy Công Giáo Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Mặc dầu ở trong nhiệm vụ mới này có biết bao việc phải làm thế mà Cha vẫn tiếp tục viết Sử.
- Năm 1958 Cha đã xuất bản Việt Nam Giáo Sử Quyển I (viết về Lịch sử Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam từ năm 1533 đến 1933).
- Năm 1962 Cha xuất bản tiếp Việt Nam Giáo Sử Quyển 2 (viết về Lịch sử Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam từ năm 1933 đến 1960).
Thời gian 18 năm trong quân đội (1957 -1975), chỉ trừ ra 3 năm theo học ngành Tuyên Úy quốc tế (1965-1968) tại New York, Cha đã tuần tự đảm trách nhiều phận vụ: Trưởng Phòng Tuyên Úy Sư Đoàn 3 Dã Chiến, Trưởng Phòng Tuyên Úy Bộ Tổng Tham Mưu, Trưởng Phòng Tuyên Úy Quân Khu Thủ Đô, Trưởng Phòng Giáo Vụ Nha Tuyên Úy, và Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy.

Cha đã đóng góp vào công trình xây dựng tinh thần và thiêng liêng cho binh sĩ, gia đình và cho con em của họ... Cha làm Chủ Bút Nguyệt San Tinh Thần, Giám Đốc Chương Trình Phát Thanh Nha Tuyên Úy.
Cha bị đi tù 13 năm: từ Tháng 8/1975 đến Tháng 2/1988. Được thả về, Cha làm việc mục vụ "chui"... Sau đó Cha đã đến Hoa kỳ theo diện HO và định cư ở Long Beach, California, Hoa Kỳ.
LINH MỤC THIẾU TÁ TUYÊN ÚY (Ambrosio Đỗ Bích Ngô) 

Cuộc đời Cha Amrosio, cũng như bao tu sĩ khác đã tận hiến đời mình từ khi còn trẻ cho đến lúc già cho Giáo Hội. Dù phải trải qua bao sóng gió và thử thách, đặc biệt là quãng thời gian ‘học tập cải tạo’ đầy khắc nghiệt sau biến cố 30/4/1975, nhưng Cha vẫn kiên trung phụng sự Thiên Chúa hết sức mình cho đến cuối đời.  http://www.vietcatholic.org/News/Html/121178.htm
Thời gian 10 năm chiến tranh khốc liệt (1965 – 1975) phụ trách tuyên úy Công Giáo tại Sư Đoàn 2 ở Quảng Ngãi (sau khi hiệp định Paris 1973 chuyển ra Chu Lai thay lính Mỹ) có lẽ là quãng đời đáng nhớ nhất đối với cuộc đời linh mục của Ngài.

Với cấp bậc Thiếu tá Tuyên Úy được nhiều ‘nể trọng’ trong quân đội VNCH và kể cả sau này, khi được trở về từ nhà tù cộng sản sau 13 năm bị đi cải tạo thừa khả năng và tiêu chuẩn HO’ để đi tỵ nạn nước ngoài, nhưng dường như Cha muốn chọn những nơi chốn khó khăn, mà một trong những ‘dấu ấn’ ấy chính là một làng quê xa xôi hẻo lánh thuộc huyện Tư Nghĩa nằm ở tận mãi phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi gần dãy Trường Sơn, nơi Cha Ambrosio đã bỏ nhiều công sức làm nên xóm đạo Rừng Lăng lớn mạnh một thời.

Linh mục Tuyên Úy Ambrosio Đỗ Bích Ngô sinh ngày 11/01/1930 quê làng Phú Lương, Thanh Liêm tỉnh Hà Nam được chúa gọi về ngày  18/1/2014 tại nhà hưu dưỡng dành cho các linh mục gốc Hà Nội tại Sài Gòn.

III. NHA TUYÊN ÚY TIN LÀNH

Tin tức về các vị tuyên úy Tin lành rất hiếm hoi trên internet, nên người viết chỉ tìm thấy được hai vị Mục Sư đã từng phục vụ trong Nha Tuyên Úy Tin lành QL.VNCH
Mục Sư Dương Kỳ, Ðại Tá Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Tin Lành- (1926-2006)
Mục Sư Dương Kỳ sinh ngày 10 tháng 1 năm 1926, tại thôn Triêm Đông, Quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Là con trai của Ông Dương Thự và Bà Đỗ Thị Đỉnh.
Năm 1950: Tốt nghiệp Trường Kinh Thánh Đà Nẵng, Quảng Nam
1950-1951: Truyền Đạo tại Huế
1951-1954: Chủ tọa Hội Thánh Trạm Hành, Cầu Đất, Lạc Lâm, tỉnh Tuyên Đức.
1954-1956: Chủ tọa Hội Thánh Mũi Né
1956-1957: Chủ tọa Hội Thánh Thanh Quít, Quảng Nam
1957-1958: Chủ tọa Hội Thánh Qui Nhơn, Bình Định
1958-1962: Mục Sư Tuyên Úy, Nha Tuyên Úy Tin Lành
1963-1967: Chủ tọa Hội Thánh Bàn Cờ, Sài-gòn
1968-30/4/1975: Giám Đốc Nha Tuyên Úy Tin Lành.
Sau 30/4/1975: Thành lập Hội Thánh mới tại số 7 Trần Cao Vân, Sài-gòn, nhưng được một tháng thí bị chính quyền Việt Cộng gọi trình diện cải tạo.
16/6/1975 - 27/7/1988 :  Bị tập trung cải tạo tại miền Nam và Bắc Việt Nam.
26/2/1990 :  Định cư tại Hoa Kỳ.
Từ 1990:  Không nhận lãnh chức vụ quản nhiệm Hội Thánh vì bệnh tim mạch, nhưng từng hồi từng lúc được cộng tác hầu việc Chúa với Mục Sư một số nơi như: Chicago, Wheaton, Pasadena và chia xẻ Lời Chúa cho một số Hội Thánh trong vùng nam và bắc California cho đến ngày về với Chúa 13 tháng 2 năm 2006.

MỤC SƯ NGUYỄN BÁ QUANG

Mục Sư Nguyễn Bá Quang quê ở làng Thổ Ngọa, tỉnh Quảng Bình, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1935 tại làng Xương Huân, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa trong gia đình trung lưu. 
Năm 1955 cậu từ giã đời thường lên đường vào học Trường Kinh Thánh tại Ðà Nẵng. 
Lệnh gọi nhập ngũ năm 1962 đã đưa phóng viên Nguyễn Bá Quang của Việt Tấn Xã vào khoá 14 Sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức. Rồi với khả năng thông dịch và kinh nghiệm trong ngành truyền thông, ông được cử làm Sĩ Quan Báo Chí của phòng Tùy Viên Quân Sự, bên cạnh tòa Ðại Sứ Viêt Nam tại Manila, Phi-luật Tân từ năm 1964-1966. Sau khi được giải ngũ không lâu, lệnh tái ngũ lại đưa ông vào phục vụ trong Bộ Quốc Phòng, sau được thuyên chuyển về Nha Tuyên Úy Tin Lành. Năm 1970 ông được đặc cách du học tại Febias College of Bible, Phi-luật-tân, tốt nghiệp Cử Nhân Thần Học và Cao Học Khoa Học năm 1974. Vì từ 1968 Bà Nguyễn Bá Quang phụ trách chương trình Việt Ngữ của Ðài Viễn Ðông (FEBC) tại Manila.
Về nước năm 1974 Mục Sư Quang tiếp tục công tác tại Nha Tuyên Úy Tin Lành với chức vụ Trưởng Khối Giáo Vụ, kiêm chủ bút nguyệt san "Niềm Tin." Tháng 4, 1975 sau khi định cư tại Hoa Kỳ, Mục Sư và Bà Nguyễn Bá Quang tiếp tục công việc phát thanh và ông đã trở thành Trưởng Ban Việt Ngữ đầu tiên của Ðài Nguồn Sống tại thành phố La Mirada trong suốt 15 năm. Cuối năm 1990 ông được Chúa kêu gọi quản nhiệm Hội thánh Seattle, tiểu bang Washington. 
Mục Sư Nguyễn Bá Quang lâm trọng bệnh từ tháng 4, 2000. Sau mấy tháng xét nghiệm bác sĩ cho biết ông đã bị ung thư gan đến thời kỳ cuối cùng. Ông về với Chúa sau một kinh nghiệm thấy Chúa thật vinh quang phước hạnh vào sáng thứ bảy 12 tháng 8, 2000 tại bệnh viện Oasis of Hope tại Tijuana, Mexico.

Người phục vụ trong phạm trù Tuyên Úy của quân lực VNCH, không có trang bị vũ khí và không tham gia trong việc chiến đấu ngoài mặt trận, nên không bị ràng buộc vào qui chế tù binh chiến tranh.

Trong Hiệp Định Genève 1954 và Paris 1973 cũng không có điều khoản nào nói về số phận của Tuyên Úy, vì phía Bắc Việt không có loại quân nhân tôn giáo này phục vụ trong quân đội nhân dân. Nhưng cộng sản Bắc Việt cũng đã nhốt hết các vị sĩ quan Tuyên Úy vào trại cải tạo sau ngày 30.4.1975, đó là một cách đối xử thật man rợ của loài khỉ đít đỏ xuất thân từ hang Pắc Bó.

Là một người quân nhân còn sống sót sau cuộc chiến, tôi cảm thấy mình có trách nhiệm ghi lại một vài nét về ngành Tuyên Úy để góp một phần tài liệu cho quân sử và cho các hậu duệ VNCH hiểu rõ.


Trịnh Khánh Tuấn 6.12.2018


Tuyên Úy

Tuyên úy là chức vụ của các giáo sĩ thuộc các tôn giáo như Phật giáo, Kitô giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo được bổ nhiệm làm đại diện, hướng dẫn tâm linh cho một tổ chức, đoàn thể thế tục như bệnh viện, nhà tù, đơn vị quân sự, cảnh sát, lính cứu hỏa, trường đại học hoặc nhà nguyện tư nhân. Tuyên úy không có quyền quản trị như giáo sĩ giáo phẩm (ví dụ như các giám mục giáo phận hoặc linh mục giáo xứ trong Công giáo).

Mặc dù ban đầu, Tuyên úy là hệ phái đại diện cho đức tin Kitô giáo,[1][2] ngày nay, một vài tôn giáo khác cũng đã có thêm chức vụ tuyên úy như Kitô giáo. Ví dụ như trường hợp các tuyên úy đi nghĩa vụ lính tráng cho các lực lượng quân sự và ngày càng nhiều tuyên úy sinh sống tại các trường đại học Mỹ.[3] Trong thời gian gần đây, nhiều giáo dân đã được đào tạo chuyên nghiệp về nghề nghiệp tuyên úy và bây giờ được bổ nhiệm làm tuyên úy ở các trường học, bệnh viện, công ty, trường đại học, nhà tù và những nơi khác để làm việc cùng hoặc thay vào đó là các thành viên chính thức của tầng lớp tăng lữ.[4] Các khái niệm về tuyên úy đa sắc tộc, thế tục, chung chung và/hoặc nhân văn cũng đang được hỗ trợ ngày càng tăng, đặc biệt là trong các môi trường y tế và giáo dục.[5]

Các thể loại tuyên úy

[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên úy quân đội

[sửa | sửa mã nguồn]
Tuyên úy Thiên Chúa Giáo Hoa Kỳ đang làm lễ

Tuyên úy quân đội là một giáo sĩ hỗ trợ mục vụ và tinh thần cho các binh sĩ, thực hiện các nghi lễ tôn giáo tại khu vực đóng quân. Chức tuyên úy quân đội đã tồn tại từ lâu, các tuyên úy quân sự đầu tiên của Anh là các linh mục trên các ba tàu hải quân nguyên thủy trong thế kỷ thứ 8. Các nhà nguyện trên đất liền xuất hiện dưới triều đại Vua Edward I. Tổ chức hiện đại có từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Tuyên úy công giáo Hoa Kỳ đang giảng đạo cho lính hải quân đánh bộ Mĩ, thủy thủ Hoa Kỳ trong thành phố Tikrit ở Iraq

Lính tuyên úy được đề cử, bổ nhiệm, hoặc ủy nhiệm theo nhiều công thức khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Một tuyên úy quân đội có thể là một người lính được đào tạo trong quân đội với chương trình đào tạo bổ sung là nền tảng thần học vững chắc hoặc một người được phong chức bởi các cơ quan tôn giáo chỉ định trong quân đội. Ở Vương quốc Anh, Bộ Quốc phòng sử dụng các nhà nguyện nhưng thẩm quyền của họ đến từ giáo hội. Các giáo sĩ Hải quân Hoàng gia thực hiện một khóa huấn luyện đặc biệt trong thời gian là 16 tuần, bao gồm một khóa học ngắn hạn tại trường Cao đẳng Hải quân Hoàng gia Anh quốc và khóa huấn luyện hạm đội chuyên gia trên biển cùng với một tuyên úy có kinh nghiệm bề dày lâu năm. Các tuyên hải ý được kêu gọi phục vụ trong lực lượng Thủy quân lục chiến Hoàng gia cùng học và được huấn luyện đào tạo trong một khóa học Commando dài 5 tháng, và nếu thành công, sẽ đeo mũ Bê Rết Xanh Lá Cây. Tuyên ý quân sự Anh phải được đào tạo trong bảy tuần tại Trung tâm Vũ trang Lực lượng Vũ Amport House và Học viện Quân sự Hoàng gia Sandhurst. Hoàng gia không quân tuyên úy phải hoàn thành một khóa học chuyên nghiệp trong 12 tuần Entrant tại trường Cao đẳng RAF Cranwell và tiếp theo là khóa học mở đầu tuyên úy tại Trung tâm lực lượng vũ trang tuyên úy Amport House trong hơn hai tuần nữa. Hải quân Hoa Kỳ thường xuyên huấn luyện các tuyên úy cho các sinh viên theo trường phái thần học trong quân đội.[6] Ngoài ra, tuyên úy được ưu đại nhiều lợi ích cá nhân như được hỗ trợ cung cấp công ăn việc làm ngay lập tức với vai trò là một tuyên úy Hải quân khi sau khi đã được phong chức.[7] Ngoài ra, trong quân đội Hoa Kỳ, các tuyên úy phải được xác nhận có giấy tờ hợp pháp bởi sự liên kết tôn giáo của bản thân họ để được đặc quyền phục vụ trong bất kỳ khía cạnh nào của quân đội.[8][9]

Tuyên úy Nauy Thiên Chúa giáo

Mỗi quốc gia có cách bổ nhiệm hoặc đề cử tuyên úy quân đội khác nhau. Một tuyên úy quân đội có thể là một binh sĩ tại ngũ đã được đào tạo về thần học hoặc một linh mục. Mặc dù Công ước Genève không nêu rõ việc tuyên úy có thể mang vũ khí hay không nhưng nó chỉ định rằng tuyên úy là người không tham chiến. Trong bất kỳ trường hợp nào, tuyên úy không bị coi là tù nhân chiến tranh và họ phải được trả về quốc gia của họ ngoại trừ giữ họ lại để làm công tác tôn giáo cho tù nhân chiến tranh.

Tuyên úy hải quân Mỹ đang đọc Kinh Thánh ở Trung Đông

Năm 2006, tài liệu đào tạo do cơ quan tình báo Mỹ thu thập cho thấy các tay súng bắn tỉa chiến đấu ở Iraq của phe địch được thủ lãnh phe địch chỉ huy các xạ thủ phải tách ra khỏi nhóm để ẩn nấp lén lút rình rập tấn công các kỹ sư, bác sĩ và tuyên úy, theo mặt lý thuyết thì chiến lược của địch này sẽ làm mất đi hoàn toàn tinh thần chiến đấu toàn bộ quân đội Mỹ.[10]

Tuyên úy gác ngục

Tuyên úy gác ngục có thể là một "van an toàn, thông qua việc lắng nghe và can thiệp tích cực cho xã hội" trong các tình huống có khả năng bùng nổ dư luận.[14] Họ cũng giảm thiểu khả tái phạm tù tội vi phạm luật pháp bằng cách liên kết người phạm tội với các nguồn động lực mang tính cộng đồng tích cực, và trong công việc của họ làm để giúp tù nhân thay đổi trái tim, tâm trí và phương hướng của phạm nhân.[14]

Tại Canada vào năm 2013, một hợp đồng trị giá 2 triệu đô la cho các nhà tù liên bang đã được trao cho Kairos Pneuma Chaplaincy Inc., một công ty mới được thành lập bởi năm nhà tù hiện tại và cựu tù nhân liên bang.[15][16] Khoảng 2.500 tình nguyện viên, nhiều người trong số họ là các tín hữu thiểu số, cũng sẽ tiếp tục cung cấp dịch vụ.[17]

Tuyên úy y tá

Nhiều bệnh viện, nhà điều dưỡng, cơ sở sinh hoạt tuyển dụng các tuyên úy để hỗ trợ các nhu cầu tâm linh, tôn giáo và tình cảm của bệnh nhân, gia đình và nhân viên. Các tuyên úy thường được tuyển dụng tại các cơ sở chăm sóc nội trú cho người già (RCFE) và các cơ sở điều dưỡng chuyên môn (SNF). Các buổi lễ chăm sóc cho mọi người thuộc mọi môn phái.

Tại Hoa Kỳ, các tuyên úy chăm sóc sức khỏe được chứng nhận bởi hội đồng quản trị đã hoàn thành tối thiểu bốn đơn vị đào tạo giáo dục mục vụ lâm sàng thông qua Hiệp hội các cố vấn mục vụ Hoa Kỳ,[20] Hiệp hội Giáo dục mục vụ lâm sàng,[21] Bộ Hiệp hội tuyên úy y tá,[22] Viện đào tạo mục vụ lâm sàng,[23] hoặc Trường giám sát mục vụ và tâm lý trị liệu[24] và có thể được chứng nhận bởi một trong các tổ chức sau: Hiệp hội các cố vấn mục vụ người Mỹ,[20] Hiệp hội ban tuyên giáo chuyên nghiệp,[25] Hiệp hội Công giáo Quốc gia,[26] Neshama: Hiệp hội các tuyên úy người Do thái (trước đây là Hiệp hội quốc gia Do Thái),[27] Hiệp hội chứng nhận Kito tuyên úy,[23] hoặc Trường giám sát mục vụ và tâm lý trị liệu.[24] Chứng nhận thường đòi hỏi bằng Thạc sĩ Thần Thánh (hoặc tương đương), sự phong chức hoặc ủy thác nhóm đức tin, chứng thực nhóm đức tin và bốn đơn vị (1600 giờ) của Giáo dục mục vụ lâm sàng (Hiệp hội tuyên úy quân sự của Hoa Kỳ yêu cầu nhiều hơn, nhưng họ là một nhóm hỗ trợ quân sự theo luật dod2088 501c-3 được thành lập năm 1954 bởi các Cơ quan Quân sự).[28]

Tham khảo

  1. ^ "Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  2. ^ Legood, Giles (1999). Chaplaincy: the church's sector ministries. London: Cassell. ISBN 0304702951.
  3. ^ "Humanist Chaplaincies". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
  4. ^ Norman, J. (2004). At The Heart of Education: School Chaplaincy and Pastoral Care. Dublin: Veritas.
  5. ^ Hewson, Chris (ngày 1 tháng 3 năm 2012). "Multifaith Spaces: Management". University of Manchester. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
  6. ^ "Chaplain Training" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
  7. ^ "Chaplain Jobs".
  8. ^ "Requirements". goarmy.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
  9. ^ "Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2011.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  10. ^ Ponder, Jon (ngày 25 tháng 10 năm 2006). "Iraqi Insurgent Snipers Target U.S. Medics, Engineers and Chaplains". Pensito Review. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008.
  11. ^ "Chaplaincy Program Graduates" (PDF). Upaya Zen Center. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015.
  12. ^ "Killed on 9/11, Fire Chaplain Becomes Larger Than Life". ngày 27 tháng 9 năm 2002.
  13. ^ "Speaker's chaplain". UK Parliament.
  14. ^ a b Vance L. Drum (ngày 13 tháng 8 năm 2007). "Professional Correctional Chaplains: Fact and Fiction" (PDF). tr. 11.
  15. ^ Tobi Cohen, Postmedia News (ngày 11 tháng 11 năm 2013). "Federal government awards $2-million contract for prison religious counselling to private company". National Post. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2014.
  16. ^ Lloyd Bruce. "Sabbath Road".
  17. ^ Cohen 2013.
  18. ^ "Singing chaplain uses music to comfort ailing patients - Pacific School of Religion". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2014.
  19. ^ Jesse Paledofsky; và đồng nghiệp. "Song of the Soul: The Use of Live Music in Professional Chaplaincy" (PDf). Chaplaincy Today, vol. 28, no. 2, Autumn/Winter 2012, pp. 31–36.
  20. ^ a b "American Association of Pastoral Counselors - Home". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
  21. ^ Inc., Advanced Solutions International. "Home". www.acpe.edu. {{Chú thích web}}: |last= có tên chung (trợ giúp)
  22. ^ "Home".
  23. ^ a b "Association of Certified Christian Chaplains - Home". www.certifiedchaplains.org.
  24. ^ a b "CPSP Pastoral Report". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2021.
  25. ^ "Association of Professional Chaplains". www.professionalchaplains.org.
  26. ^ "Main Page".
  27. ^ "Our Mission".
  28. ^ "Website Disabled".
  29. ^ "Apostleship of the Sea Welcomes You - AoS". apostleshipofthesea.org.uk.
  30. ^ Cruises, P&O. "P&O Cruises: 2017, 2018 & 2019 Cruise Holidays". www.pocruises.com.
  31. ^ UK, Cunard. "Cruise Vacations". Cunard.
  32. ^ "Cruise Chaplaincy - AoS". apostleshipofthesea.org.uk.
  33. ^ "About Us". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2014.
  34. ^ The Economist (ngày 25 tháng 8 năm 2007, p 64).
  35. ^ "Workplace Chaplains Counseling Employee Wellness Program Corporate Chaplain".
  36. ^ "Corporate Chaplains of America - A nationwide network of full-time, trained chaplains bringing caring to the workplace".
  37. ^ "Corporate Chaplaincy Service Employee Wellness Program: Marketplace Chaplains". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2014.
  38. ^ "Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014. Trang này được sửa đổi lần cuối vào ngày 30 tháng 7 năm 2025, 10:22.


    Chaplain = Tuyên úy

    The Reverend Manasseh Cutler, American Revolutionary War chaplain who served in George Washington's Continental Army and co-founded Ohio University

    A chaplain is religious worker, either a cleric or a lay representative of a religious tradition, attached to a secular institution (such as a hospital, prison, military unit, intelligence agency, embassy, school, labor union, business, police department, fire department, university, sports club), or a private chapel. The term chaplaincy refers to the chapel, facility or department in which one or more chaplains carry out their role.

    Though the term chaplain originally referred to representatives of the Christian faith,[1][2] it is now also applied to people of other religions or philosophical traditions, as in the case of chaplains serving with military forces and an increasing number of chaplaincies at U.S. universities.[3] In recent times,[when?] many lay people have received professional training in chaplaincy and are now appointed as chaplains in schools, hospitals, companies, universities, prisons and elsewhere to work alongside, or instead of, official members of the clergy.[4] The concepts of a multi-faith team, secular, generic or humanist chaplaincy are also gaining increasing use, particularly within healthcare and educational settings.[5]

    In the Catholic tradition, a chaplain is also a traditional name for the auxiliary priest (priest assistant/cooperator) which is assigned to any parish and subordinate to its parson. This position is now officially called parochial vicar or assistant priest (some dioceses use officially the term chaplain). Side buildings of some parish houses (rectories) are traditionally called chaplain houses. This historic term originated from the fact that the chaplain was usually assigned to some filial church or any chapel. Until 1983, the 1917 Code of Canon Law (canons 471–476) distinguished 5 types of parochial vicars: vicarius actualis, vicarius oeconomus, vicarius substitutus, vicarius adiutor, and vicarius cooperator (who is traditionally called a chaplain). The 1983 Code of Canon Law doesn't distinguish such subtypes. The parochial vicar can take charge of some part of the parish, or some groups of parishioners (youth, students, seniors, elderly etc.), or some specific tasks.

    Military

    [edit]
    A Catholic chaplain ministers to American Marines and Sailors in Tikrit, Iraq

    The first chaplains were in the military during the Roman Empire after its Christianization.[6] Military chaplains provide pastoral, spiritual and emotional support for service personnel, including the conduct of religious services at sea, on bases or in the field. Military chaplains have a long history; the first English military-oriented chaplains, for instance, were priests on board proto-naval vessels during the 8th century. Land-based chaplains appeared during the reign of King Edward I. The current form of military chaplain dates from the era of the First World War.

    Chaplains are nominated, appointed, or commissioned in different ways in different countries. A military chaplain can be an army-trained soldier with additional theological training or an ordained person nominated to the army by religious authorities. In the United Kingdom the Ministry of Defence employs chaplains but their authority comes from their sending church. Royal Navy chaplains undertake a 16-week bespoke induction and training course including a short course at Britannia Royal Naval College and specialist fleet time at sea alongside a more experienced chaplain. Naval chaplains called to service with the Royal Marines undertake a grueling five-month-long Commando Course and, if successful, wear the commandos' Green Beret. British Army chaplains undertake seven weeks training at the Armed Forces Chaplaincy Centre Beckett House and the Royal Military Academy Sandhurst. Royal Air Force chaplains must complete a 12-week Specialist Entrant course at the RAF College Cranwell followed by the Chaplains' Induction Course at the Armed Forces Chaplaincy Centre Beckett House of a further two weeks. The United States Navy will often give chaplain training to cadets seeking a theological route in the military.[7] Additionally, they are granted instant employment as a Navy chaplain once ordained.[8] Additionally, in the United States military, chaplains must be endorsed by their religious affiliation in order to serve in any facet of the military.[9][10] In some cases, like that of the U.S. Navy, a Religious Program Specialist may be appointed to help alleviate some of the duties bestowed upon Naval chaplains.[11]

    French soldiers of the UNIFIL attending a Catholic Mass in Lebanon
    Jewish chaplain Rabbi Arnold Resnicoff wears a kippah/yarmulke made from a piece of a Catholic chaplain's camouflage uniform after his own head covering had become bloodied when it was used to wipe the face of a wounded marine during the 1983 Beirut barracks bombing.

    Military chaplains are normally accorded officer status, although Sierra Leone had a Naval Lance Corporal chaplain in 2001. In most navies, their badges and insignia do not differentiate their levels of responsibility and status. By contrast, in air forces and armies, they typically carry ranks and are differentiated by crosses or other equivalent religious insignia. However, United States military chaplains in every branch carry both rank and Chaplain Corps insignia.

    Though the Geneva Conventions does not state whether chaplains may bear arms, they specify (Protocol I, June 8, 1977, Art 43.2) that chaplains are non-combatants. In recent times both the UK and US have required chaplains, but not medical personnel, to be unarmed. Other nations, notably Norway, Denmark and Sweden, make it an issue of individual conscience. Captured chaplains are not considered Prisoners of War (Third Convention, August 12, 1949, Chapter IV Art 33) and must be returned to their home nation unless retained to minister to prisoners of war.

    A U.S. Navy chaplain in Iraq studies his Bible for an upcoming service.
    ........................

    Inevitably, a significant number of serving chaplains have died in action. 100 chaplains of the U.S. Army and the U.S. Marine Corps were killed in action during World War II: a casualty rate greater "than any other branch of the services except the infantry and the Army Air Corps" (Crosby, 1994, p. 23). Many have been decorated for bravery in action (five have won Britain's highest award for gallantry, the Victoria Cross). The Chaplain's Medal for Heroism is a special U.S. military decoration given to military chaplains who have been killed in the line of duty, although it has to date only been awarded to the famous Four Chaplains, all of whom died in the Dorchester sinking in 1943 after giving up their lifejackets to others. In addition to these, five other U.S. chaplains have been awarded the Medal of Honor: Chaplain (LCDR) Joseph T. O'Callahan, USN (World War II); Chaplain (CPT) Emil Kapaun, USA (Posthumous, Korean War); Chaplain (LT) Vincent R. Capodanno, USN (Posthumous, Vietnam War); Chaplain (MAJ) Charles J. Watters, USA (Posthumous, Vietnam War); and Chaplain (CPT) Angelo J. Liteky, USA (Vietnam). (Later in life, Liteky changed his name to Charles, left the Catholic priesthood, became an anti-war activist, and renounced his Medal of Honor). Chaplain Fellowship Ministries military chaplains are nondenominational. To be considered for appointment to serve as a military chaplain, candidates must first be ordained and have an ecclesiastical endorsement by a valid religious faith group recognized by the Department of Defense. Candidates must meet all DOD requirements. The Chaplain Fellowship had military chaplains serving in Iraq and now in Afghanistan.

    Không thể tránh khỏi, một số lượng đáng kể các mục sư đang phục vụ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. 100 mục sư của Quân đội Hoa KỳThủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai: tỷ lệ thương vong cao hơn "bất kỳ nhánh nào khác của các lực lượng trừ bộ binh và Lực lượng Không quân Quân đội" (Crosby, 1994, tr. 23). Nhiều người đã được trao tặng huy chương vì dũng cảm trong chiến đấu (năm người đã giành được giải thưởng cao nhất của Anh cho sự dũng cảm, Victoria Cross). Huy chương Dũng cảm của Mục sư là một giải thưởng đặc biệt của quân đội Hoa Kỳ quân đội">Phần thưởng quân sự của Mỹ được trao cho các linh mục quân đội đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, mặc dù cho đến nay chỉ có bốn linh mục nổi tiếng Four Chaplains được trao, tất cả họ đều đã mất trong vụ chìm Dorchester năm 1943 sau khi nhường áo phao của mình cho người khác. Ngoài ra, có năm linh mục khác của Mỹ đã được trao Huân chương Danh dự: Linh mục (LCDR) Joseph T. O'Callahan, Hải quân Mỹ (Chiến tranh Thế giới thứ hai); Linh mục (CPT) Emil Kapaun, Hoa Kỳ (truy tặng, Chiến tranh Triều Tiên); Tuyên úy (LT) Vincent R. Capodanno, USN (truy tặng, Chiến tranh Việt Nam); Tuyên úy (MAJ) Charles J. Watters, Hoa Kỳ (Truy tặng, Chiến tranh Việt Nam); và Chaplain (CPT) Angelo J. Liteky, USA (Việt Nam). (Sau này trong cuộc đời, Liteky đổi tên thành Charles, rời khỏi chức linh mục Công giáo, trở thành một người chống chiến tranhr nhà hoạt động, và đã từ bỏ Huân chương Danh dự của mình). Các mục sư quân đội thuộc Tổ chức Chaplain Fellowship Ministries không thuộc giáo phái nào. Để được xem xét bổ nhiệm làm mục sư quân đội, các ứng viên phải được phong chức mục sư trước và có sự chứng nhận giáo hội từ một nhóm tôn giáo hợp pháp được Bộ Quốc phòng công nhận. Các ứng viên phải đáp ứng tất cả các yêu cầu của DOD. Chaplain Fellowship có các mục sư quân đội phục vụ ở Iraq và hiện tại ở Afghanistan.
    Tuy nhiên, một trong những vấn đề lớn ảnh hưởng đến chức vụ linh mục và quân nhân là chấn thương đạo đức phát sinh do các xung đột quốc tế và khủng bố.

    .....................................

    In 2006, training materials obtained by U.S. intelligence showed that insurgent snipers fighting in Iraq were urged to single out and attack engineers, medics, and chaplains on the theory that those casualties would demoralize entire enemy units.[12] The United States European Command has co-sponsored an annual International Military Chiefs of Chaplains Conference every year since 1991 to consider the various issues affecting chaplaincy ministry and other military personnel. At times, the existence of military chaplains has been challenged in countries that have a separation of Church and State.[13][14] However one of the major issues affecting chaplaincy and military personnel is that of moral injury arising as a result of international conflicts and terrorism.