Saturday, November 26, 2016

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975

 

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975

 




—  Việc sửa đổi cách viết, chữ viết, cách đặt dấu chữ viết của các bậc tiền bối, Việt cộng đang tìm mọi cách để chứng minh là những gì—tất cả những gì—mà các bậc tiền bối và cha anh các bậc tiền bối đã làm đều sai, đều dở, đều tệ hại và cần phải được bọn chúng Việt cộng sửa lại.

—  Họ thay đổi không chỉ vì họ muốn thay đổi, nguyên nhân sâu xa của cái ý muốn thay đổi mọi thứ của họ chẳng qua chỉ là sự kiêu ngạo, muốn được xã hội vinh danh là những người có những cải tạo lớn lao cho văn hóa nước nhà.

–  Khi mọi người đều sai, thì cái đúng sẽ bị đào thải. Cái đẹp, cái hay, và sự tiến bộ mà cha ông đã dày công xây dựng trước đó... sẽ lùi dần và suy thoái...


 

 

 

 

 




Đừng TỰ NÔ LỆ vào VĂN HÓA Việt Cộng


Từ khi bọn Việt Cộng cưỡng chiếm được Miền Nam, chúng đã ra sức tiêu hủy tất cả những gì gọi là Văn Hóa của Miền Nam Việt Nam. Chúng đã cấm dùng sách giáo khoa, đốt hết tất cả các sách báo, phim ảnh, tài liệu trong văn khố, và đặt ra những từ ngữ riêng của chúng để bắt chúng ta phải nghe, phải dùng.

Khi chúng ta dùng những danh từ, chữ dùng của cộng sản, chúng ta đã:

- TỰ NÔ LỆ VĂN HÓA VỚI VIỆT CỘNG.

- TỰ GIẾT CHẾT NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM CỘNG HÒA.

- MAI ĐÂY, THẾ HỆ SAU CÓ CÒN AI BIẾT TỚI VIỆT NAM CỘNG HÒA NỮA HAY KHÔNG?

Chúng ta đã chối bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, đã hy sinh mạng sống của mình để vượt biên tìm tự do, chúng ta phải hãnh diện về hành động này, phải luôn luôn tự hào chúng ta là con dân của một chế độ CỘNG HÒA, TỰ DO, DÂN CHỦ, chúng ta có văn hóa riêng và phải có nhiệm vụ gìn giữ nền văn hóa này.

Chúng ta phải có nhiệm vụ giữ gìn lại tất cả những gì còn lại, để chứng tỏ rằng, bọn Việt Cộng không thể tiêu diệt được nền Văn Hóa của chúng ta.

Nếu chúng ta không phản ứng, một ngày nào đó, Văn Hóa Việt Nam Cộng Hòa Sẽ Mất Đi.

Trần Văn Giang


 

 

 

 

 




    Chữ "Từ"


    Chữ "từ" đưọc dùng rộng rãi bây giờ không có trong tiếng Việt nguyên thủy. Ta không dùng chữ một cách cộc lốc và bừa bãi như vậy.

    Trong ngôn ngữ thuần túy Việt Nam thì khi chữ TỪ đứng một mình thì chỉ có nghĩa là:

    1. Tên gọi của một loại khoai: khoai từ.

    2. Chức vị của một người đàn ông đứng tuổi giữ việc lo nhang đèn, chăm sóc cho một ngôi miễu: ông từ.

    3. Trong văn phạm từ là giới từ.

    Ngoài ra tất cả chữ "từ" phải đi với một chữ khác, như: danh từ, tĩnh từ, động từ, từ ngữ, từ tốn, từ từ, từ đâu, từ đầu v. v... vì chữ "TỪ" là tiếng Hán-Việt nên phải đi theo với chữ khác, chứ không đúng một mình, và ta phải theo đúng quy luật của nó.

    Chữ TỪ trong Hán-Việt có nghĩa là: Chữ.
    Ngày trước, khi chưa bị thay đổi chính thể cộng sản trong nam, không ai dùng chữ "TỪ" để thay thế cho chữ "CHỮ" bao giờ.
    Thí dụ: Một quyển tự điển ở miền Nam trước 75 sẽ ghi: Bao gồm 100, 150 .v. v... ngàn "chữ" chứ không phải 100... "từ".

    Người Việt ngày trước cũng không ai biết đến cái "cụm từ" bao giờ.
    Các danh từ gồm hai chữ hoặc hơn vẫn là danh từ, hay danh từ kép, thí dụ: cái tên "Chxhcnvn" trứ danh của Việt cộng vẫn chỉ là một "danh từ riêng" cho tên gọi, mặc dù nó có dài lòng thòng.

    Còn lại các trường hợp khác thì cũng không gọi là "nhóm chữ", mà chỉ giản dị gọi là CÂU vì - câu là tập hợp của một số chữ để mang một ý nghĩa nào đó.

    Thí dụ: Câu nói, câu viết, câu văn... v. v...
    Việt cộng thay thế chữ “chữ” là chữ “từ”. là sai vì chữ 'từ' không bao giờ đi lẻ loi một mình và không có ý nghĩa gì cả, mà nó phải đi chung từ hai chữ mới có ý nghĩa. Thí dụ:

    - làm từ từ
    - từ đâu mà có
    - từ ngữ
    - từ chuyện nầy sang chuyện khác...
    - từ khi, từ khi nào...
    - trở lại từ đầu .v. v...

    Nguồn:
    http://www.quehuongngaymai.com/forums/forumdisplay.php?f=75


 

 

 




"Chữ Việt" và "Tiếng Việt"
là hai vấn đề


(█ ██)

Tiếng Việt chỉ có thể viết bằng chữ Việt.

Nhưng Chữ Việt ngoài việc dùng để viết Tiếng Việt, nó còn có thể viết được tất cả những thứ Tiếng thuộc hệ Latin khác. Chữ Việt có thể viết được Tiếng Pháp, Tiếng Anh, Tiếng Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức... Nhưng những Chữ Anh, Pháp, Ý, Đức... không thể viết được Tiếng Việt.

Đó là một ưu điểm độc đáo!

Nhưng sau 1975, Việt cộng cho cải cách chữ nghĩa, dân ta hoàn toàn đánh mất ưu điểm này (cũng như đánh mất các ưu điểm về văn hóa, văn minh, kinh tế, chính trị khác) chỉ vì sự đóng khung Chữ Việt vào trong vòng Tiếng Việt. Sự hạn hẹp Chữ vào trong vòng Tiếng là một sự tự hủy hoại.

"Ta" đã bỏ hẳn những chữ cái "ngoại lai" và bảo rằng có một Bảng Chữ Cái Tiếng Việt (lạ! Bảng "chữ cái" của "tiếng", sao không gọi là Bảng Chữ Cái Việt) gồm đầy đủ các âm (không phải chữ cái) chỉ dùng trong tiếng Việt, bảng này chỉ thiếu âm mang thanh (à, á, ả...) mà thôi. Những chữ cái "ngoại lai" vốn đã tồn tại trong văn bản Việt từ thế kỷ 17, đến thế kỷ 20 thì bỏ đi. Hành động này chỉ có thể giải thích bằng mục đích "tự tách mình ra khỏi cộng đồng của mình để nói lên dân tộc tính của mình", hóa ra là dân tộc tính "cận thị".

"Ta" cũng bỏ hẳn "cách dùng chữ ngoại lai", bảo rằng đó là "phụ âm ngoại lai" như trường hợp các chữ L đứng sau nguyên âm. "Ta" thay L bằng N: Albany bị viết thành An-ba-ni. Chung số phận với L là B, F, PH, V (bị thay bằng P), D (bị thay bằng T) , G, K, Q (bị thay bằng C), những chữ H ngay sau nguyên âm của người ta thì bị "ta" bỏ hẳn.

Lạ lùng là những chữ S, bị cưỡng hiếp thành nhiều quái thai, như có khi thành X, khi khác lại thành SỜ, lại có khi thành XÌ, mà bị đổi thành T mới quái đản hơn nữa.

Còn các tổ hợp phụ âm thì bị "ghép hộ", cứ giữa hai vợ chồng người ta thì "ta" nhét ngay một đứa lại cái vào giữa. dr thành đờ-r, tr thành tờ-r, bl thành bờ-l (hi-đờ-rô, ni-tờ-rô, bờ-lóc, bờ-lao...).

Đọc các văn bản của những kẻ chỉ đạo văn hóa, từ ông Hồ Chí Minh đến nay và từ chủ tịch nước đến vị giáo sư dạy mẫu giáo, thì hóa ra là viết như thế cho nó thuần Việt, và (theo họ) nhờ thuần Việt thì BẤT CỨ người Việt nào cũng đọc được.

Tất cả, vâng tất cả từ ông Hồ danh nhân văn hóa thế giới đến cô giáo mẫu giáo vừa dạy học vừa ăn vụng kia, kể cả các tu sĩ Công Giáo đã in ra cuốn Thánh Kinh theo đúng tiêu chuẩn "bỏ chữ và cách dùng chữ ngoại lai", đều quên một điều. Họ quên tự hỏi câu: "Những con chữ đã viết ra là viết CHO AI?"

Viết cho người mù chữ chăng, điên! Viết tên hóa chất cho trẻ lên tám lên chín đọc chăng, cũng điên! Hay viết để anh dân chài nào đó đọc "được" tên của một nhà bác học hay tên của một thành phố xa lắc nào đó ở Pháp, Mỹ gì chăng, để làm gì! Vì có đọc to lên được hay là chỉ thấy mấy cái tên đó như một đống lằng ngoằng các ký hiệu thì đối với anh dân chài đó cả hai đều như nhau. Anh chỉ biết đó là một chữ đã được viết ra.

Kể ra cũng có một số người tuy không đủ sức, nhưng cũng thích bàn chuyện này nọ, đôi khi họ muốn khoe rằng họ rành chuyện thế sự, thì cái cách "viết phiên âm" tiếng "ngoại quốc" cũng giúp họ có thể "phát ngôn" lại những gì họ đọc được. (Đây chính là biện pháp Việt Cộng dùng để tuyên truyền.) Thế nhưng ta có chắc không, rằng một khi ai đó đã không mù chữ, lại có chút quan tâm mà lại không thể phát âm được gần đúng cái chữ lạ mà anh ta đang đọc. Còn nếu muốn họ phát âm đúng thì dù có phiên âm cách nào đi nữa họ cũng không thể. Thí dụ chữ Wylson phiên thành "Uyn-sơn" thì ai có chút học vấn dám bảo rằng sẽ có người phát âm đúng tên vị tổng thống Mỹ đó.

Muốn nói trúng, phải nghe đã.

H. Đ.
Jul 26, 2011 (reply)




 

SĨ và SỸ

Nếu theo con đường học hành, chữ đầu tiên thường gặp là sĩ số trên bảng đen để điểm danh.

Bước vào cửa ải đầu tiên gọi là  sĩ tử, chịu khó phấn đấu sẽ thành thạc sĩ rồi lên tiến sĩ và tột đỉnh trong lãnh vực nghiên cứu là tiến sĩ khoa học.

Học thành tài mà đóng góp với đời bằng kiến thức thì xưa là  sĩ phu, còn nay là  nhân sĩ

Người có học thường được gọi là  kẻ sĩ. Được thế giới công nhận thì thành  viện sĩ.

Nếu theo đường binh nghiệp bước đầu là  chiến sĩ hay  binh sĩ.

Tiếp tục phấn đấu sẽ thành hạ sĩ quan từ hạ sĩ lên trung sĩ rồi thượng sĩ. Chịu khó phấn đấu tiếp sẽ thành sĩ quan.

Đánh giặc dũng cảm thì được gọi là dũng sĩ. Chẳng may chết trận sẽ nằm trong số tử sĩ. Nếu hy sinh một cách vinh quang sẽ được phong là liệt sĩ.

Đi theo con đường chính trị thì bước đầu chỉ là tay chân trên bàn cờ thế sự gọi là sĩ tốt.

Tiếp theo thành kẻ nấp sau lưng bầy mưu tính kế gọi là  mưu sĩ. Lên đến đỉnh trở thành nghị sĩ, cụ thể hơn là hạ nghị sĩ hoặc thượng nghị sĩ.

Còn theo ngành nghệ thuật thì người làm thơ gọi là thi sĩ, viết văn sẽ là văn sĩ (ưu ái phụ nữ nên có chữ nữ sĩ mà không có nam sĩ), người sáng tác nhạc gọi là nhạc sĩ còn hát (nhạc) thì được gọi là ca sĩ.

Chán đời xuất thế sẽ là ẩn sĩ, đi tu thì thành tu sĩ. Theo đạo của Lão tử sẽ là đạo sĩ  còn theo các đạo khác sẽ thành giáo sĩ.

Khi sức khỏe hơn người gọi là lực sĩ, ra ta cứu giúp người bị nạn hiếp đáp thì gọi là hiệp sĩ,còn chẳng may vào bệnh viện sẽ có các bác sĩ và y sĩ  “phục vụ”.

Ta được các nha sĩ chăm sóc nhiều hơn, vì các bộ phận trên thân thể người ta chỉ có từ một đến hai cái và hoạt động rất bền, ngoại trừ răng có tới 32 cái x 2; do đó, phải thay hết một lượt răng sữa nên răng phải được chăm sóc luôn.

Người ta nên có sĩ diện, nhưng không lo học và làm mà chỉ nghĩ mình hay sẽ là “đại sĩ”.



If you want to kill its nation, you kill its language first.










If you want to kill the history of the ARVN, South Vietnam, you kill its language also.









===================
Đọc thêm

CHIÊU HỒI NGÔN TỪ
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chieu-hoi-ngon-tu.html

 



Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs12082015vi.html

 

 

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/viet-cong-va-chu-viet-sau-1975.html

 

Chữ Nghĩa Việt Cộng
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chu-nghia-viet-cong.html

 

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/tieng-viet-va-tieng-vem-tieng-viet-va.html

 

Đánh Dấu Tiếng Việt trước và sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/anh-dau-tieng-viet-truoc-va-sau-1975_12.html

 

Tiếng Việt Trong Nước Hiện Nay Sai
https://caybut2.blogspot.com/2017/07/tieng-viet-trong-nuoc-hien-nay-sai.html

 

 

Friday, November 18, 2016

Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản

 





Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản


Thế hệ của những người xấp xỉ tám mươi ở Nam kỳ lục tỉnh thuộc địa trực trị của Pháp đều bị bó buộc phải học tiếng Pháp như chuyển ngữ (langue véhicule, vehicle language) ở trường công lập. Mãi khi chánh quyền được trao trả lại cho người Việt, lên đại học mới được học chương trình bằng tiếng Việt. Công lao của quí vị giáo sư tiền bối xuất thân từ trường Pháp giúp Việt Nam hóa nền giáo dục phổ thông và chuyên môn thật là vô lượng.

Những danh từ luật học, triết học, khoa học, quân sự, hành chánh, chánh trị, kinh tế, v. v... căn bản dịch ra từ Pháp văn làm nền tảng cho chương trình giáo dục Việt Nam xuất hiện trong giai đoạn này thật phong phú và đa dạng. Đa số là do những giáo sư, học giả dịch từ Pháp văn mà ra; nên văn phạm và chánh tả tiếng Việt của người học chương trình thuộc địa Pháp trước đó có thể nói rất yếu vì chỉ học lóm chớ trường Việt thời Pháp hầu như không có dạy, mà có thì tiếng Việt bị coi là “sinh ngữ”, một tuần hai giờ là cao ở trung học.
Trong khi đó tiếng Pháp trong chương trình Đông Dương (DEPSI, Diplôme d' Etudes Primaires Supérieures Indochinoises như bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp chương trình Việt).

Học sinh nào viết nghị luận luân lý Pháp mà trật ba lỗi chánh tả, văn phạm thì bài bị loại, thầy không chấm bài nữa. Lên đệ nhị cấp chương trình Pháp, học hai năm Seconde và Première thi Bac 1 (Tú Tài 1) và một năm Termnale nữa thi Bac 2 (Tú Tài 2), ai mà bị ba lỗi khi viết luận văn học hay triết học thì cũng bị loại, coi như đợi thi kỳ hai hay năm sau thi lại.

Những người của thế hệ 80 bây giờ nhờ tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, đã nghe từ trong bụng mẹ, nhập tâm suốt cả đời và nhờ mấy năm học đại học tiếng Việt rồi ra làm việc đọc, viết công văn tiếng Việt, tự mò mẫm chánh tả, văn phạm Việt Nam, chánh yếu là tự học mà khá lên.

Qua Mỹ mấy chục năm sống với cộng đồng người Việt, đọc viết bằng tiếng Việt, nhờ anh em trong tòa soạn hiểu hoàn cảnh, thương tình nên sửa chánh tả, t hay c, v hay d, hỏi hay ngã, v. v... dùm.

Dù trình độ chánh tả, văn phạm tiếng Việt yếu do học lóm nhiều hơn học ở trường, thế mà người viết bài này cũng cảm thấy rất buồn cho tiếng Việt trong thời Việt cộng, có thể nói là tiếng Việt trong thời Việt cộng quá tệ. Vì nhiệm vụ của một người viết bình luận cho báo nên hàng ngày phải theo dõi tình hình trong nước, phải xem hình ảnh, nghe lời nói của đồng bào trong nước, thấy tiếng Việt trong 50 năm nằm trong gọng kềm cộng sản, sao tàn lụi không thể tưởng tượng nổi.

Sau 50 năm thời cộng sản, tiếng Việt vốn là con thuyền chuyên chở văn minh Việt, nguyên là cái tâm, cái hồn Việt, tiếng Việt còn thì người Việt còn, nay không còn nữa. Cách nói tiếng Việt thời cộng sản trong nước quen nói nhanh như muốn cướp lời người khác. Chữ Việt là đơn âm, chớ không phải đa âm, nên ông bà chúng ta ăn nói chậm rãi, chỗ, chữ quan trọng ngâm nga ra như ngâm thơ, lên bổng xuống trầm giọng điệu để nhấn mạnh, để diễn cảm nên người Pháp, người Mỹ thường nói tiếng Việt phát âm như một bài hát, với các dấu không, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Chữ Việt là đơn âm, một vần (monosylabic) chớ không phải đa âm nhiều vần như chữ Pháp, Anh; nên nếu nói nhanh thì chữ này gần như nuốt chữ kia, như người Tàu nói xí xô xí xào, lắng tai nghe, nín thở nghe mà vẫn không kịp.

Cách nói nhanh nuốt âm của Việt cộng ảnh hưởng cách nói của người Việt một phần do cái loa của xã ấp, khóm phường, mỗi ngày nhồi nhét cách nói dai, nói dài, nói nhanh nuốt chữ một ngày ba lần, một tuần bảy ngày, một năm 365 ngày, thành tiếng Việt mất thanh, sắc, chữ nghĩa của tiếng Việt.

Thêm vào đó CSVN chiếm được Miền Bắc trước Miền Nam cả hai chục năm, nên cán bộ, đảng viên, bộ đội gốc nông thôn tràn vô Hà Nội và các thành phố sau năm 1954.
Sau 1975 số ấy từ Miền Bắc tràn vào Miền Nam và chiếm hầu hết các vị trí then chốt khi “tiếp thu” (cưỡng chiếm) chánh quyền của Miền Nam từ Bến Hải xuống Cà Mau. Nên ảnh hưởng Việt cộng Bắc Việt gốc nông thôn phủ lắp cả Miền Bắc rồi Miền Nam. Chữ nghĩa địa phương, cách phát âm, cách nói chuyện của những người cộng sản Bắc Việt này theo cán bộ, đảng viên, bộ đội cũng tràn ra khắp nước từ chữ nói đến chữ viết.

Để bên cạnh những “chữ của Việt cộng” do Việt cộng lấy từ chữ Hán, chữ Tàu thay cho tiếng Việt đã có, đã dùng:

Để chứng tỏ Việt cộng là người cách mạng vô sản .

Để phân biệt người Việt Quốc Gia và người Việt cộng sản,

Để chữ của người Việt Quốc Gia trở thành tử ngữ .

Như chữ 'bảo đảm' đã có và đã dùng quá lâu, quá quen rồi trong tiếng Việt thì Việt cộng đổi thành chữ “đảm bảo”, 'đồng ý' thành “nhất trí”. Hay những chữ ăn cắp tiếng Tàu như:

- hồ hởi phấn khởi,
- sự cố,
- hoành tráng,
- bức xúc,
- chất lượng...

Việt cộng Bắc Việt đem vào không bao lâu sau kể cả người Việt cộng Miền Nam cũng không nói vì mắc cỡ miệng.

Còn một số chữ địa phương, hay thổ ngữ ở miền Bắc, đa số là miền thượng du Bắc Việt gần Tàu, theo chân của cán bộ, đảng viên, bộ đội Việt cộng vào Nam cai trị, thành những lỗi chánh tả, văn phạm, phát âm sai, biến tiếng Việt không còn là quốc ngữ chuẩn của Việt Nam nữa. Một vài thân hữu công tâm, không kỳ thị bắc nam gì cả, nêu ra một số phát âm sai những phụ âm đầu như:

— CH/TR (huân chương thành huân “trương”),

— L/N (Hà Nội thành Hà lội), R/GI (Rác / Giác!)

— X/S (Xảy /Sảy)...

là hoàn toàn của đồng bào bên kia kia vĩ tuyến 17 đem vào Nam trong cuộc di cư 1954.

Hai thời kỳ VNCH, và quân đội VNCH, trường học VNCH chuẩn hóa lại hết. Những thổ ngữ của người Miền Nam Miệt Vườn cũng được chuẩn hóa rất nhiều sau khi số đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam. Người Nam dân Miệt Vườn khoái ăn giá sống, mắm và rau như người viết bài nầy cũng bớt hay hết phát âm sai chữ “r” thành chữ “g” với câu chọc cười hồi nhỏ chơi cho “dui dẻ”: bắt con cá “gô” bỏ vô “gổ”, nó nhảy nghe “gột gột.”

Nhưng thời Việt cộng thì khác. Do phải tuân theo cách thức chỉ đạo thượng tôn của cộng sản Bắc Việt, mà những sai phạm địa phương không được chuẩn hóa, mà lại bành trướng, nằm chình ình tại những nơi chữ nghĩa lẽ phải hết sức đúng chuẫn mực quốc gia. Tiêu biểu như cái lỗi chính tả to tổ bố, nó lại nằm trần trụi ngay trên biểu ngữ của Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Trường đào tạo ra giáo chức để dạy chữ nghĩa cho lớp trẻ mà lại trương một biểu ngữ là Đại Học “Hà Lội”, chữ “chuyên ngành” viết thành chữ “chuyên nghành” (có chữ h giữa vần nga) trong lễ tốt nghiệp, trao bằng cho sinh viên. Trong một cuộc thi hoa hậu, quan trên trông xuống, người dân xem vào, tên Việt Nam lại viết thành “Việt Nem” trên dây băng đeo vắt ngang người đẹp.

Còn những bảng quảng cáo, bảng cấm thì quá nhiều chữ sai:

— Bán “bún chả” viết là “bún TRẢ”;

— "Vệ sinh chung” viết “vệ sinh TRUNG”;

— Trao “huân chương” viết “huân TRƯƠNG”;

— “Hạ giá” viết lại thành "hạ DÁ”;

— “Đổ rác” thành "đổ GIÁC”;

— “Xẩy ra” thành “SẨY ra”,

— “Trước nhà thành” “CHƯỚC nhà”.

Tất cả những sai chánh tả này do phát âm địa phương Miền Bắc vùng xa xôi hẻo lánh mà ra. Tất cả những thí dụ nêu trên đều có hình ảnh đăng lên làm tiêu biểu hoặc dẫn chứng. Có người làm thơ, phổ biến, gởi đọc cho “dui”, để cười ra nước mắt cho chữ nghĩa Việt Nam sau 50 năm cộng sản! /.

https://vietbao.com/a241473/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs

Vi Anh

12/08/2015



 

 





Không dùng ngôn ngữ của Việt cộng


Dù xa quê hương hơn 20 năm, và môi trường tôi đang sống không cần phải dùng tiếng Việt nhiều, nhưng tôi vẫn thường xuyên đọc sách báo tiếng Việt và nói tiếng Việt ở trong gia đình hàng ngày hay với bạn bè vào mỗi cuối tuần và đều đặn nghe đài phát thanh Việt ngữ địa phương.

Tôi nghĩ tiếng Việt của tôi chưa đến nỗi mất mát đi nhiều, nhưng giờ đây sau khi đọc nhiều bài viết, tin tức, thông báo, tài liệu đăng trên báo hay nghe trên đài phát thanh tiếng Việt, tôi cảm thấy rất khó chịu và phải nói là nghe chướng tai gai mắt. Tôi không tài nào hiểu nổi nhiều từ ngữ mới lạ. Bài viết trích sau đây là một ví dụ (xin lỗi là tôi không thể nêu rõ nguồn gốc hay xuất sứ của bài viết).

“Theo dõi những thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng của chúng ta những ngày tháng gần đây, chúng tôi thấy có một vài thông tin vào loại nhạy cảm, nhưng lại được đưa tin có vẻ trái chiều nhau hoặc đang có một sự thật xảy ra trong tác nghiệp của các cơ quan báo chí: cơ quan này đưa tin này nhằm mục đích ngấm ngầm cải chính thông tin mà cơ quan báo chí kia đưa nhằm cầu lợi cho khuynh hướng chính trị nào đó của mình. Đó là một sự thật, mặt trái, mặt sau đời sống của xã hội-thông tin- báo chí.

Khách hàng tiếp nhận thông tin luôn đòi hỏi được cung cấp sản phẩm nguyên chất, nguyên gốc, nguyên bản, tức là chính xác, khách quan…

Cũng giống như đời sống xã hội, xã hội thông tin cũng đòi hỏi sự phong phú đa chiều để khách hàng có quyền được chọn lựa và định đoạt việc mình sẽ chấp nhận thứ, loại hàng hóa thông tin nào?” Phải chăng tiếng Việt của chúng ta đã thay đổi quá nhiều, thay đổi nầy phát xuất từ đâu và từ lúc nào?

Sau 30 tháng 4 năm 1975, ngày Việt Cộng xâm chiếm miền Nam Việt Nam, họ đã mang theo hàng loạt những từ ngữ mới lạ thật khó nghe và chát tai. Điển hình như “đảm bảo” thay vì “bảo đảm”. Lạ làm sao là họ dùng cả hai “đảm bảo” và “bảo đảm” cùng một ý mới là lạ chứ! Nếu họ chỉ dùng “đảm bảo” không thì họ cho người miền Nam nói ngược cũng đành. Có lẽ VC hay ăn ngang nói ngược nên thích nói ngược hơn nói xuôi, hay nói ngược cũng được, nói xuôi cũng được – tùy lúc, tùy sự việc, tùy đối tượng, v.v… Hơn nữa, lúc đầu VC lại cố tránh dùng chữ Hán Việt để tuyên truyền là tranh đấu cho dân tôc Việt Nam được độc lập. Họ sáng chế ra những chữ không thể nào nghe được, như “xưởng đẻ”.

Gần đây Việt cộng tự lột mặt giả dối yêu nước và hiện rõ ra là nô lệ Trung cộng qua cách sính dùng chữ Hán Việt theo Trung Cộng và đẻ ra những từ ngữ mới, từ những câu bốn năm chữ. Họ bớt đi những chữ phụ, lấy một vài chữ chính, rồi ghép lại thành một chữ mới, thí dụ như:

– thụt lùi và lạc hậu thì gom lại thành "tụt hậu",

– điều tra và nghiên cứu thì gộp lài thành "điều nghiên",

– dùng chữ đại trà để thay vào chữ qui mô, rộng lớn v. v...

Những chữ như thế được tung lên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình TV, người ta nghe riết rồi cũng quen và trở nên phổ biến cho dù sai bét be.

Ví dụ danh từ “tham quan” nghĩa đúng là chỉ các quan chức Việt Cộng tham nhũng hay tham lam. Trong khi nhóm chữ “tham quan” dùng với nghĩa là “xem” dưới thời Việt Cộng thì là quái thai của câu: “thăm viếng quan sát”; thí dụ như phái đoàn nghệ sĩ đi thăm viếng hí viện và quan sát cách dựng cảnh kịch. “Đi tham quan” thật dài dòng, quan liêu, trịch thượng và sai so với nhóm chữ “đi xem” trước giờ người Việt không Việt Cộng vẫn dùng. Cũng trong lối nói cầu kỳ trịch thượng bắt chước Trung Cộng, Việt Cộng dùng chữ “báo cáo” và “khẩn trương” giữa bạn bè hay người thân với nhau thay vì chữ “nói” hay “thưa”, thí dụ:
Việt cộng ‘giai’ nói với Việt Cộng gái:

— “Anh khẩn trương báo cáo với em hôm nay anh ăn tiểu táo 2.”

Nghe muốn buồn nôn, tưởng Việt Cộng ‘giai’ khoe chuyện táo bón nặng với Việt Cộng gái, hóa ra là vội khoe được ăn nhiều (tiểu táo) đến nỗi táo bón.

Những từ ngữ mới nầy hầu như được dùng khá phổ biến ở thế hệ trẻ trong nước và nay bắt đầu lan tràn sang hải ngoại trên báo chí, Internet và đài phát thanh. Một nếp sống và ăn nói rởm không thể chấp nhận được. Dưới đây là bài viết của tác giả Đào Văn Bình phân tách các chữ Việt Cộng dùng và các chữ thay thế. Và theo bài viết của Châu Đậu “Nỗi Buồn Tiếng Việt”, ông ta khuyên:

... "chúng ta nên dùng tiếng Việt cho Việt Nam một chút, chớ nên dùng tiếng Việt như Việt Cộng nghe buồn cười lắm. Nếu chúng ta tìm không được chữ ngoại quốc trong tiếng Việt, thì chúng ta có thể dùng tiếng ngoại quốc và hay Việt hóa nó cũng được."

Hiện nay chúng ta đang sống trong xã hội văn minh, cuộc sống của chúng ta nay ít nhiều đã gắn liền với xã hội Tây phương. Một xã hội mà những phát minh mới về khoa học kỹ thuật và điện tử hầu như hàng ngày. Song song với những phát minh đó, thì những từ ngữ mới cũng sinh ra. Nếu chúng ta chưa tìm ra chữ mới cho tiếng Việt để dịch cho đúng nghĩa, thì có thể tạm thời dùng chữ ngoại quốc cũng chẳng sao.

Chúng ta không nên miễn cưỡng dịch cho sát nghĩa từ ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nghe không hay mà lại kỳ cục nữa. Thí dụ: Quần bò (quần Jean ) Nón nồi (nón bê rê /beret) như những từ ngữ chúng ta đã dùng thời Pháp thuộc vậy và đến nay chúng ta vẫn còn dùng và Việt hóa nó, ví dụ: savon = xà bông, salon = ghế xa lông.

Không riêng gì Việt Nam, mà hầu hết các nước trên thế giới, họ cũng dùng từ ngữ ngoại quốc, còn hơn chúng ta cố gắng dịch sang tiếng Việt rồi ghép lại những từ ngữ như VC nghe không mấy văn chương chút nào. Câu hỏi ở đây là tại sao chúng ta không dùng những từ ngữ Việt Nam hay nói rõ hơn là từ Việt cộng chế ra? Câu trả lời là: Việt cộng thường hay thay đổi bất thường, tùy ý, tùy tiện muốn gì làm nấy, không cân nhắc, không có căn bản, không có luật lệ gì cả, hôm nay thì vậy, ngày mai thì kia.
Đây không chỉ nói về văn chương hay từ ngữ, mà ngay cả những luật lệ, chính sách của họ cũng vậy – tùy lúc, tùy thời, tùy tiện. Xuôi cũng được, ngược cũng xong. Đó là bản chất của Việt cộng. Như vậy thì làm sao chúng ta dùng từ ngữ của VC chế ra được!

Chúng ta nên kỹ lưỡng khi dịch những từ ngữ ngoại quốc sang tiếng Việt. Điều quan trọng là cần phải hiểu rõ và chính xác cái nghĩa gốc của nó trước khi dịch, không thì sẽ sai lệch đi cái ý chính của nó. Trong nhiều ngôn ngữ, một chữ thường có nhiều nghĩa, chưa nói đến nghĩa bóng và nghĩa đen. Do đó, chúng ta nên thận trọng khi dịch từ của một ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Ví dụ hai chữ Internet và www (World Wide Web) là hai chữ và ý khác nhau. Internet là hệ thống của những máy điện toán toàn cầu (Networks of networks connected world wide), trong khi đó www. gồm những máy điện toán lưu trữ những tài liệu, hình ảnh, thâu thanh, phim, v. v. dùng phương tiên Internet để chúng ta tìm kiếm những tài liệu cần thiết. Việt cộng gọi chung (Internet và www) là “mạng”, thật không chính xác khi chỉ cả hai.

Khi nói về điện chữ “positive” dịch là “dương tính”, còn chữ “negative” là “âm tính”. Nhưng khi nói đến một người bịnh khi thử bị “positive” một vi trùng gì, thì chúng ta không nên gọi là người đó có “dương tính” được, nhất là khi một cô gái bị ghi trong hồ sơ là có dương tính thì thật là dùng chữ nghĩa quái đản. Chúng ta nên nói là họ có triệu chứng, có bịnh, bị lây hay là nhiễm… dễ hiểu hơn hay khi thử một lực sĩ bị “positive” một loại thuốc cấm nào đó, thì chúng ta không thể nói - anh hay cô ấy có “dương tính…” được, mà chúng ta nên nói là - anh hay cô ta đã có triệu chứng có loại thuốc đó trong người.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất với ngôn ngữ là Việt Cộng dùng ngôn ngữ có mục đích tuyên truyền chính trị có lợi cho Việt Cộng và có hại cho người Quốc gia. Người Việt tỵ nạn Cộng Sản nên luôn cảnh giác không dùng các chữ theo lối Việt Cộng dùng. Thí dụ, người tỵ nạn Cộng Sản không thể nói “sau ngày giải phóng” khi nói đến sau ngày 30-4-1975, vì từ ngày đó người miền Nam tự do bị áp bức, kiềm chế, kiểm soát, theo dõi tại nhà, tại phường tại xóm, nghĩa là vào nhà tù nhỏ và nhà tù lớn của Việt Cộng chứ không được giải phóng gì cả.
Nếu người tỵ nạn nói: Sau 30-4-1975 là sau giải phóng thì họ không có lý do gì xin tỵ nạn ở ngoại quốc, vì họ đã công nhận Việt Cộng giải phóng họ cho họ tự do.

Người miền Nam tự do không nên dùng chữ Ngụy để nói về mình như trong các chữ lính Ngụy, dân Ngụy, ngay cả khi nói đùa; thí dụ như “Tụi mình là dân Ngụy với nhau” chữ Ngụy có nghĩa là gian dối, chữ nhà Ngụy của Tào Tháo. Dù có một số nhược điểm nào đó nhưng đa số dân chúng miền Nam thật thà và trung thực hơn Việt Cộng gian dối, lừa đảo, sống giả, sống hèn. Việt Cộng dùng chữ Ngụy để chỉ miền Nam là để tuyên truyền rằng Việt cộngcó chính nghĩa khi đi xâm chiếm một đất nước chúng cho là giả dối xấu xa. Người miền Nam tự do có tự trọng, không tự nhận và chấp nhận chữ 'Ngụy' cho chính mình, như thế, đảo ngược tư cách của mình. Chữ Ngụy phải dành cho chế độ Việt Cộng mới là nói đúng, viết đúng.

Trong chiều hướng mô tả thực tế chúng ta nên gọi chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xếp hàng cả ngày rất chính xác của người dân bình thường dùng. Xin đọc tác phẩm 1984 xuất bản năm 1949 để thấy văn hào George Orwell diễn tả cách Cộng Sản dùng ngôn ngữ đảo ngược với thực tế với mục đích để tuyên truyền tẩy não và nhồi sọ dân chúng, nói đen thành trắng.

Người viết chỉ mong đóng góp những ý kiến để xin mọi người lưu tâm luôn ý thức dùng tiếng Việt cẩn thận để diễn tả thực tế chính xác, gọn gàng, trong sáng và đơn giản. Sau đây là vài từ ngữ Việt cộng hay dùng mà người Quốc Gia không cộng sản nên cẩn thận dùng hay tránh. Kèm đó là những chữ tương đương tiếng Việt hay tiếng Anh.

VNCH

Việt cộng

0- 30-4-1975/
1- Quốc Hận (ngày)
2- Việt Nam Cộng Hòa
3- Đi tù
4- Chung
5- Thợ
6- Xin liên lạc (contact)
7- Bực mình, khó chịu
8- Xem, viếng
9- Thưa, trình, nói, kể
10- Phẩm chất
11- thỉnh thoảng
2- Giải quyết, đối phó
13- trang chính, trang nhà
14- khích lệ, khuyến khích
15- chính yếu
16- chữ
17- câu, câu chữ
18- ngữ vựng
19- văn phạm
20- tĩnh từ
21- phản ảnh
22- rất (rất đẹp, rất dễ, rất to)
23- nhiều, nhiều quá

0- 30-4-1975/
1- Giải phóng (ngày)
2- Ngụy
3- Đi học tập
4- chung chung
5- Nghệ nhân
6- Xin liên hệ (xin quan hệ)
7- Bức xúc
8- Tham quan
9- Báo cáo (report)
10- Chất lượng
11- Thi thoảng
12- Xử lý
13- trang chủ
14- động viên
15- chủ yếu
16- từ
17- cụm từ
18- từ vựng
19- ngữ pháp
20- tính từ
21- phản ánh
22- siêu (siêu đẹp, siêu dễ, siêu to)
23- vãi, vãi quá


1 Sính: Thích đến mức lạm dụng quá đáng, để tỏ ra hơn người khác.
2 tiểu táo: quy chế ăn uống của cán bộ cao cấp trong quân đội, phân biệt với trung táo, đại táo (Từ diển tiếng Việt nha xuất bản khoa học xã hội – Hà Nội 1994).

*

Source: http://lyhuong.net/viet/index.php?op…viet&Itemid=67

Người Tỵ Nạn (1982)

Úc Châu, tháng 7 năm 2009




Đọc thêm

Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs12082015vi.html

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/viet-cong-va-chu-viet-sau-1975-viec-sua.html

Chữ Nghĩa Việt Cộng
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chu-nghia-viet-cong.html

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/tieng-viet-va-tieng-vem-tieng-viet-va.html

Đánh Dấu Tiếng Việt trước và sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/anh-dau-tieng-viet.html





 

Chữ Nghĩa Việt Cộng

 




    Tiếng Việt và Chữ Vẹm
    Hay là Chữ Nghĩa Việt Cộng    




Chữ Vẹm cũng là chữ Việt, nhưng vì nó là chữ của tụi Vẹm đặt ra KHÔNG ĐÚNG CÁCH, KHÔNG THEO MỘT NGUYÊN TẮC hay QUY LUẬT NÀO CẢ, nhiều chữ đọc lên, nghe rất ngô nghê và tức cười, nên ta gọi nó là chữ Vẹm.

Tiếng Việt ta không biết có từ bao giờ. Có thể là bốn ngàn (4000) năm tức là kể từ khi chúng ta có văn hiến hay hơn nữa. Nhưng chữ Việt(1) thì chắc chỉ mới có khoảng hơn trăm (100) năm nay nghĩa là từ khi nước ta bị người Pháp đô hộ hoặc hơn một chút, từ khi có những ông Cố Đạo tới nước ta để truyền bá đạo Thiên Chúa.

Với trên một ngàn năm bị người Tầu đô hộ, dĩ nhiên văn hóa của chúng ta, nói chung, tiếng Việt của chúng ta, nói riêng, không thể không bị ảnh hưởng, mà trái lại còn bị ảnh hưởng rất sâu xa và nặng nề của chữ Hán. Ông Văn Tấn Trường trong bài “Một vài suy nghĩ về Hán Tự” đã viết: “Tiếng Hán Việt(2) chiếm 60 - 70 % trong ngôn ngữ Việt Nam, loại trừ tiếng Hán Việt để làm trong sáng tiếng Việt thì quả thật là một "mission impossible".

Tôi không tin tiếng Hán Việt nhiều đến thế, nhưng nếu có ai nhờ tôi viết một bài văn hay làm giùm một bài luận hoàn toàn bằng tiếng Việt thì quả thật tôi chịu thua. Tôi không thể làm nổi vì nhiều chữ, quả thật tôi không biết đó là chữ Hán, chữ Hán Việt, hay chữ Nôm.(3) Mà dù có biết chăng nữa, nhiều chữ nếu chuyển sang chữ Việt nó cũng ngô nghê, tức cười, nhiều khi còn khó hiển hơn là dùng chữ Hán Việt.

Trước năm 1975, hầu như không có tranh cãi gì nhiều về tiếng Việt, chữ Việt, ngoại trừ một vài tranh cãi nhỏ về chữ I và Y (Thanh Thúy hay Thanh Thúi, lí do hay lý do, quý vị hay quí vị v.v…) hoặc có G hay không có G (sáng lạng hay xán lạn). Nhưng từ khi bọn Cộng Sản Hà Nội cưỡng chiếm được miền Nam, thì tiếng Việt, Chữ Việt đã bị Ngụy Quyền Cộng Sản Việt Nam thay đổi rất nhiều.

Thực ra thì chữ Việt đã được thay đổi từ lâu, ngay từ khi thời bọn Cộng Sản còn ẩn núp dưới hai chữ Việt Minh tức là từ ngày 19/8/1945, ngày bọn chúng cướp được chính quyền từ chính phủ quốc gia Trần Trọng Kim. Chính vì thế mới có chữ Vẹm và tiếng Vẹm. Nhưng dưới sự cai trị độc đoán và tàn bạo của chúng, không ai dám lên tiếng sợ bị chụp mũ là phản động. Mãi tới khi người Việt tỵ nạn ở hải ngoại bắt đầu bắt đầu xuất bản sách báo và nhất là khi các quân nhân và công chức của chế độ Việt Nam Cộng Hòa phải đi “học tập cải tạo” được trở về và được ra đi định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO, vô tình mang theo một số tiếng Vẹm, thì vấn đề sử dụng tiếng Vẹm, chữ Vẹm đã được nêu lên và bàn luận rất nhiều.

Thế nào là Tiếng VẸM? Thế nào là chữ VẸM?

Thực ra thì tiếng Vẹm cũng là tiếng Việt, nhưng vì dùng chữ của Vẹm đặt ra để nói, nên được gọi là tiếng Vẹm. Cũng như tiếng Bắc, tiếng Trung, tiếng Nam cũng là tiếng Việt mà thôi. Nếu dùng chữ của miền Bắc mà nói thì ta bảo là nói tiếng Bắc, nếu dùng chữ của miền Trung để mà nói, thì ta bảo là nói tiếng Trung và nếu dùng chữ của miền Nam mà nói thì ta bảo là nói tiếng Nam. Thí dụ, ta hỏi: Đi mô? Chữ “mô” là chữ người miền Trung dùng. Ta nói “Đi mô” tức là ta đã nói tiếng Trung. Hoặc ta nói: “Tía nó chết rồi. Chữ “tía” là chữ miền Nam. Ta dùng chữ “tía” để nói, tức là ta đã nói tiếng Nam.

Chữ Vẹm cũng thế, cũng là chữ Việt. Nhưng vì nó là chữ của tụi Vẹm đặt ra KHÔNG ĐÚNG CÁCH, KHÔNG THEO MỘT NGUYÊN TẮC hay QUY LUẬT NÀO CẢ, nhiều chữ đọc lên, nghe rất ngô nghê và tức cười, nên ta gọi nó là chữ Vẹm.

Cũng trong bài “Một vài suy nghĩ về Hán Tự”, ông Văn Tấn Trường cho rằng “Có một dạo ở đầu thập niên 80, nghe nói chính phủ Việt Nam (ý nói Cộng Sản Việt Nam) đưa ra phong trào làm trong sáng tiếng Việt bằng cách thoát ly tiếng Hán Việt”. Nếu quả thật đã có phong trào này và phong trào này đã được đưa ra thì chắc phải nhiều người biết. Vậy mà chẳng thấy ai nói tới. Không biết ông Trường nghe tin này ở đâu. Thiển nghĩ, một khi bọn chúng muốn đưa ra một phong trào nào, một chính sách gì, bao giờ chúng cũng có chủ trương, có mục đích. Phong trào này, nếu có, thì chủ trương, mục đích của chúng là gì? Với chủ trương để “Thoát ly tiếng Hán Việt”? Với mục đích để bài Trung Quốc? Nếu đúng như vậy thì dân tộc ta đã khá, nước ta đã không bị bọn chúng đem đất, đem biển dâng cho Tầu.

Trong bài “Nỗi Buồn Tiếng Việt…”, ông XYZ cũng nghĩ rằng “Với chủ trương nôm na hóa ngôn ngữ Việt, tập đoàn Cộng Sản (Việt Nam) nắm quyền đã lạm dụng chữ thuần Việt quá mức, trở thành thô tục như “xưởng đẻ” dùng cho “nhà bảo sanh”, “nhà ỉa” dùng cho nhà “vệ sinh”, hay “lính thủy đánh bộ” dùng cho “thủy quân lục chiến” v.v… và đặt ra nhiều chữ sai hẳn với nguyên nghĩa”.

Theo thiển ý, bọn Cộng Sản Việt Nam đã tạo ra một số chữ khác thường mà ta gọi là chữ Vẹm vì những lý do sau:

1- Muốn tiêu hủy tất cả những gì mà chúng gọi là “tàn dư của Mỹ Ngụy”

Thực vậy, ngay sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, việc đầu tiên mà chúng làm là bắt dân chúng phải tiêu hủy tất cả các văn hóa phẩm của miền Nam như sách báo, phim ảnh, băng nhạc v. v… Do đó, một số chữ của người Việt quốc gia dùng, dù hay ho, lịch sự tới đâu, chúng cũng muốn xóa bỏ. Thí dụ nơi để chúng ta bài tiết ra ngoài (tiểu tiện hoặc đại tiện), xưa ngưới Bắc gọi là nhà xí, người Nam gọi là nhà cầu. Hai tiếng này nghe không được lịch sự cho lắm nên đã được chúng ta đổi là nhà vệ sinh. Ấy vậy mà chỉ vì muốn khác người, bọn Cán ngố đã bỏ đi và thay thế bằng hai chữ nhà ỉa. Phải chăng đà tiến hóa theo chủ nghĩa xã hội của bọn Cộng Sản Việt Nam là như vậy? Chẳng trách dân Việt Nam được bọn chúng cai trị, được bọn chúng “giải phóng” đã mỗi ngày một khổ cực, mỗi ngày một ngu si, dốt nát.

2- Để dễ khám phá ra những thành phần mà chúng coi là “phản động hay đối nghịch”.

Bọn Cộng Sản Việt Nam, chúng chỉ muốn chữ chúng dùng phải khác người, hay nói cho đúng hơn, là khác chữ của người Việt quốc gia dùng mà thôi chứ không phải chúng muốn “thoát ly tiếng Hán Việt” như ông Văn Tấn Trường nói, hay “muốn nôm na hóa tiếng Việt” như ông XYZ đã nhận định. Điều này đối với bọn chúng rất quan trọng, nhất là trong thời chiến, vì giúp cho chúng dễ phân biệt người đang sống tại vùng chúng đang kiểm soát với những người đang sống ngoài vùng chúng kiểm soát để chúng dễ khám phá ra những thành phần mà chúng cho là đối nghịch, phản động.

Vì vậy, chữ chúng đặt ra hay dịch ra, chúng không cần biết là Hán hay Nôm, thanh hay tục, trong sáng hay tối tăm, xuôi hay ngược, đúng hay sai. Có chữ đang là chữ Hán Việt, chúng đổi sang chữ Nôm. Có chữ đang là chữ Nôm, chúng đổi sang chữ Hán Việt . Chúng chẳng theo một nguyên tắc hay quy luật nào cả. Thí dụ:

Chúng ta nói là “phát ngôn viên” thì chúng nói là: “người phát ngôn”.

Chúng ta nói là “thăm viếng” thì chúng nói là “tham quan”.

Chúng ta nói là “ghi danh” thì chúng nói là “đăng ký”.

Chúng ta nói là “đá bóng” thì chúng nói là “bóng đá”.

Chúng ta nói là “yếu điểm” thì chúng nói là “điểm yếu”.

Chúng ta nói là “trở ngại” thì chúng nói là “sự cố”.

Chúng ta nói là “xuất cảng” thì chúng nói là “xuất khẩu”.

Chúng ta nói là “liên lạc” thì chúng nói là “liên hệ”.

Chúng ta nói là “hiểu rõ” thì chúng nói là quán triệt”.

Chúng ta nói là “viên chức” thì chúng nói là “quan chức”.

Chúng ta nói là “chuyển âm” thi chúng nói là “lồng tiếng”.

Chúng ta nói là “dẫn giải” thì chúng nói là “thuyết minh”.

v.v…

Vì ngu dốt, nên khi chúng đảo ngược hay thay thế bằng một chữ khác mà chúng chẳng biết và cũng chẳng cần biết là đúng hay sai nữa hoặc lẫn lộn ý nghĩa của chữ này với ý nghĩa của chữ kia chúng cũng không rõ.

❖ Thí dụ 1:

Chữ “đơn giản” mà chúng đọc ngược lại là “giản đơn” hay “vui buồn” chúng cho đọc ngược lại là “buồn vui” tuy nghe có hơi lạ tai một chút, nhưng còn có thể chấp nhận được vì nghĩa của nó không khác nhau. Nhưng chữ “yếu điểm” mà sửa lại là “điểm yếu” thì không thể chấp nhận được vì nghĩa nó khác hẳn. Nhưng vì dốt nát, bọn chúng vẫn hiểu “điểm yếu” là “yếu điểm” và dùng chữ “điểm yếu” để thay thế cho chữ “yếu điểm”.

Chúng ta biết, về văn phạm, chữ Hán giống chữ Anh ở một điểm là tĩnh từ luôn luôn đứng trước danh từ, nên con ngựa trắng, người Anh gọi là white horse và người Tầu gọi là bạch mã. Chữ yếu điểm cũng vậy, yếu tĩnh từ và có nghĩa là quan trọng; "yếu điểm" là chữ Hán Việt, có nghĩa là điểm quan trọng. Nhưng vì ngu dốt, bọn Cộng Sản Việt Nam chỉ muốn nói khác với chúng ta nên nói ngược lại là "điểm yếu" và tưởng rằng chúng đã nôm hóa được chữ "yếu điểm" là chữ Hán Việt; hoặc "tối ưu" chẳng lẽ đổi thành "ưu tối"? Nên chúng thêm chữ "nhất" thành "tối ưu nhất". Thật lạ lùng! Đã "tối ưu" rồi đâu cần phải thêm chữ "nhất" vào làm gì?

Thế còn nhược điểm thì sao? Nếu nói ngược lại thì điểm nhược là điểm gì? Đúng là đã ngu lại hay nói chữ. Vậy mà ngày nay, nhiều nhà giáo Việt Cộng vẫn hiểu yếu điểm điểm yếu và dậy học trò như vậy.

❖ Thí dụ 2:

Chúng ta nói: “Xin các bạn cố gắng nhanh lên một chút vì tình trạng gấp rút/cấp bách lắm rồi”; thì chúng lại nói là “Xin các đồng chí tranh thủ/khẩn trương vì tình trạng khẩn trương rồi”.
Chúng ta dùng chữ cố gắng cho mệnh đề thứ nhất và chữ gấp rút cho mệnh đề thứ hai vì hai chữ này có ý nghĩa khác nhau. Nhưng đối với chúng thì ‘cố gắng’ cũng là ‘khẩn trương’ ‘gấp rút’ cũng là ‘khẩn trương’.


❖ Thí dụ 3:

Sau khi tham dự một buổi nói chuyện về một vấn đề văn học, nếu là chúng ta, chúng ta sẽ hỏi người tham dự:
“Xin anh cho biết cảm tưởng/cảm nghĩ của anh sau khi nghe xong buổi nói chuyện này”.

Nhưng nếu người hỏi là một tên Việt Cộng, thì chắc chắn hắn sẽ hỏi người tham dự:
“Xin đồng chí cho biết cảm giác của đồng chí sau khi nghe xong buổi nói chuyện này”.

Trời đất! Đây chỉ là buổi nói chuyện về một vấn đề văn học, đâu có phải là một buổi đấu tố ghê gớm gì mà hỏi cảm giác?

Nhiều khi chúng ghép hai ba chữ kép làm một khiến người đọc chẳng hiểu mô tê gì cả, như:

hùng vĩ hiểm trở, chúng ghép thành hùng hiểm

tương đương thích hợp ghép thành tương thích

sinh viên du học ghép thành du sinh

quyết định sách lược thành quyết sách.

Thực ra thì không phải trong chế độ Cộng Sản Việt Nam không có người khá, người giỏi. Nhưng hầu hết những người này lại chẳng có quyền hành gì, trong khi đó thì hầu hết bọn lãnh đạo lại ngu dốt, độc tài và ngoan cố, nên chúng muốn nói ngang, nói dọc gì, ai cũng phải nghe theo, chẳng ai dại gì mà phê phán hay cải sửa để mà mang họa vào thân. Bởi vì:

"AK mã tấu kè kè,
Nói quấy nói quá, chúng (dân chúng) nghe rầm rầm".


3/ Để dễ ăn cướp tài sản của nhân dân và bao che cho người của bọn chúng có tội.
Thí dụ, người của bọn chúng “đi đêm”, “móc ngoặc” với gian thương, nhà thầu bất chính để ăn hối lộ, chúng nói là có quan hệ xấu hoặc làm lơ cho những bọn này làm điều phi pháp để được lợi lộc, chúng gọi là có hành vi tiêu cựcđể dễ giảm hoặc tha tội.

Không những chúng thay đổi CHỮ, chúng còn thay đổi cả NGHĨA. Thí dụ:

— Để cướp đất đai của các điền chủ, chúng gọi là cải cách ruộng đất

— Muốn cướp tài sản của các thương gia, chúng gọi là đánh tư sản mại bản.

— Muốn cấm người dân buôn bán, chúng gọi là cải tạo thương nghiệp.

— Muốn bỏ tù quân nhân, công chức của chế độ cũ (Việt Nam Cộng Hòa) chúng gọi là cải tạo.

— Muốn bỏ tù người tranh đấu cho tự do, dân chủ, chúng gọi là phản động.(4)


— Mít tinh, biểu tình đả đảo bọn Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam để biểu lộ lòng yêu nước chúng nói là “có sai phạm về tư tưởng và nhận thức chính trị”, hoặc là “kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, là gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước anh em'’.


— Ra trát đòi một người nào đó để điều tra và có thể tống giam, chúng gọi là giấy mời.

Tóm lại, ngôn ngữ là phương cách để con người giao tiếp với nhau, thông tin cho nhau hay, hoặc diễn đạt tư tưởng của mình cho người khác biết. Ngôn ngữ gồm có tiếng nói và chữ viết. Ngôn ngữ cũng là một phần của văn hóa, là linh hồn của dân tộc.

Trải qua thời gian và không gian, ngôn ngữ không nhiều thì ít, đã thay đổi để cho phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh và đà tiến hóa của xã hội. Vì vậy, việc thay đổi chữ cũ vì thô tục, vì không trong sáng hay tạo lập những chữ mới để thay thế những chữ cũ không còn hợp thời hay không có, không những là một việc nên làm mà còn là một việc phải làm. Nhưng nếu chỉ vì mục đích chính trị hay tự cao, tự đại hơn người hoặc vì tự ty mặc cảm ngu dốt hay để bao che cho nhau hoặc để bỏ tù người vô tội mà thay đổi một cách nhố nhăng, vô tội vạ làm cho chữ Việt trở nên thô tục, kỳ cục hoặc tối tăm, sai lạc ý nghĩa, thì đó không những là một điều sai lầm mà còn có tội ác đối với dân tộc.

Để tưởng niệm ngày 30/4/75
________________
Chú thích:

(1) Xưa kia, tổ tiên ta cũng có một loại văn tự riêng để dùng gọi là chữ Khoa Đẩu, gồm các ký hiệu và các hình tượng tạo nên. Nhưng loại chữ này chưa được phát triển và phổ biến thì nước ta đã bị người Tầu đô hộ một thời gian quá dài (một ngàn năm); hơn nữa, người Tầu lại muốn đồng hóa người Việt nên bắt người Việt phải học chữ Hán và dùng chữ Hán mỗi khi giao tiếp với họ, làm cho chữ cổ xưa của ta mai một và biến mất.

(2) Tiếng Hán Việt là tiếng Hán đọc theo âm Việt. Chữ Hán Việt là chữ Hán viết theo chữ Việt.

Thí dụ bốn câu thơ dưới đây là tiếng Hán được viết bằng chữ Việt:

Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang vỹ.
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thủy.

Nếu chuyển bốn câu thơ trên sang tiếng Việt thuần túy thì được viết như sau:

Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương.
Nhớ nhau mà chẳng thấy,
Cùng uống nước sông Tương.

(3) Tiếng Nôm là tiếng Việt chỉ khác nhau ở cách viết. Chữ Việt thì dùng mẫu tự Latin, còn chữ Nôm thì dùng chữ Hán, tức viết theo kiểu hình tượng, nhưng có thêm thắt đôi chút để khi đọc lên thì âm là âm Việt chứ không phải là âm Hán.

Thí dụ:
Chữ TAM, chữ Hán viết như sau: 三 và đọc là XÁM,
chữ Nôm thêm phần chữ, viết thành và đọc là BA.

Chữ THIÊN, chữ Hán viết như sau: 天,
chữ Nôm có thêm chữ ở dưới chữ THIÊN, viết như sau và đọc là TRỜI.

(4) Xin xem bài “Bây giờ chúng tôi đã hiểu thế nào là bọn phản động” của Nguyễn Tiến Nam, một sinh viên trong nước, đăng trong Đặc San Chu Văn An Bắc Cali năm 2008, trang 241.


Lê Duy Sang

Source: Phố Núi Pleiku



 

 

Đọc thêm

CHIÊU HỒI NGÔN TỪ
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chieu-hoi-ngon-tu.html

 



Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs12082015vi.html

 

 

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/viet-cong-va-chu-viet-sau-1975.html

 

Chữ Nghĩa Việt Cộng
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chu-nghia-viet-cong.html

 

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/tieng-viet-va-tieng-vem-tieng-viet-va.html

 

Đánh Dấu Tiếng Việt trước và sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/anh-dau-tieng-viet-truoc-va-sau-1975_12.html

 

Tiếng Việt Trong Nước Hiện Nay Sai
https://caybut2.blogspot.com/2017/07/tieng-viet-trong-nuoc-hien-nay-sai.html

 

Tuesday, November 15, 2016

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm

 





Tiếng Việt và Tiếng Vẹm


Ở đâu cũng vậy, mọi ngôn ngữ đang được dùng đều là sinh ngữ. Là sinh ngữ, nó sẽ phát triển và thay đổi. Nhưng nó sẽ phát triển và thay đổi theo chiều hướng chính xác hơn, đơn giản hơn, và nhất là hợp lý hơn (vì con người là sinh vật có trí khôn, tuyệt đối không phải chỉ là động vật hai chân thuộc giống vượn người) chứ không phải phát triển hay thay đổi theo kiểu bạ đâu dùng đấy, vay mượn vô tội vạ. Một điều đáng lo hơn là đáng buồn cho tương lai dân tộc.

Từ ngữ sử dụng bừa bãi thì hệ lụy sẽ là thanh niên phát âm lộn xộn. Ý nghĩa ngôn từ đã trở nên mờ nhạt và tiếp theo sẽ là ngọng cả lũ. Đó là hiện tượng thoái hóa của sinh ngữ, nó sẽ không trở nên tử ngữ như chữ Latin, nhưng nó sẽ trở thành "tiếng Mọi".


Tiếng Việt và tiếng Vẹm

Con rắn Hổ Đất và Hổ Hành giống nhau về hình dạng, màu sắc, nhưng khác là Hổ Hành có mùi thơm như hành hương, thịt mềm hơn nên dân nhậu rượu đế vùng quê miền Nam thích đánh chén; nhưng cũng phải cẩn thận với loại rắn Hổ Lông cũng giống y như Hổ Đất và Hổ Hành, phải tinh ý và có kinh nghiệm miệt vườn, khi nhìn thấy những lông đen mọc xen kẽ những vẫy ở đầu là không nên ăn, nếu không biết, ăn vào bị trúng độc, lăn đùng ra chết không kịp ngáp, ở vùng nông thôn, có một số gia đình bị chết cả nhà chỉ vì ăn phải thịt nó. Con Trăn và Nưa giống nhau như “hai giọt nước”, nhưng Nưa cắn chết và Trăn thì không có nọc độc, một số người không biết, bắt con Nưa về nuôi, có khi bị chết vì nó.

Người tỵ nạn chính trị và kinh tế giống nhau: “đều bỏ nước ra đi” nhưng:

- Người tỵ nạn chính trị (Political refugee) với những lý do như xung đột tư tưởng, bất đồng chánh kiến, tôn giáo... bị bắt buộc phải ra đi, nếu không thì tánh mạng nguy hiểm, và sau khi ra đi, không thể trở về, do nhà cầm quyền vẫn còn cai trị, có thể bắt bớ, tù đày, ám hại bất cứ lúc nào.

- Người tỵ nạn kinh tế (Asylum seeker) là muốn ra đi ở nơi khác, như câu của Hồng Y Phạm Minh Mẫn thấy một số người Việt hải ngoại trở về mà quơ đũa cả nắm: “tha hương cầu thực”, những người nầy mong có được đời sống khá hơn và họ có thể quay về nơi mà mình bỏ đi mà không hề hấn gì.

- Chính những kẻ tỵ nạn kinh tế nầy đã làm tổn hại trường kỳ đến hàng ngũ những người tỵ nạn chính trị. Trong chiến tranh chống giặc Cộng thì họ không có mặt nhưng khi vượt biển là họ đi trước, khi Việt Cộng mở cửa, họ là những người tiên phong đóng vai áo gấm về làng về trước, nên sau nầy chính phủ các nước Dân Chủ không còn chào đón, khi đến nước họ đều bị nhốt trong các trại tạm giam, bị coi là tỵ nạn kinh tế, cá mè một lứa, sau chờ thanh lọc mới biết thật giả...

- Thành phần tỵ nạn kinh tế đã trở mặt, buôn bán, làm ăn với Việt Cộng, trở về theo diện TAM DU: “du lịch, du dâm, và du hý” và cũng chính họ đã và đang mang những “hạt giống đỏ” sang theo diện bảo lãnh hôn phối, ăn tiền, nên đây là những kẻ: “rước giặc Cộng vào nhà”, ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản, núp bóng tỵ nạn kết bạn với Cộng Sản.

Chùa Phật, Tiệm Phật hay Nhà Thờ và Cửa Hàng Chúa đều giống nhau về hình thức, cũng có tượng Phật, Chúa, đọc kinh, tu sĩ... nhưng khác nhau là những người hành đạo, khiến cho nhiều tín đồ Tam Tạng thời đại, con chiên mù quáng đến đóng góp, nuôi dưỡng nhũng kẻ “mượn đạo tạo tiền” làm hại uy tín đạo không nhỏ.

Tiếng Việt và tiếng Vẹm cũng giống nhau là có cùng mẫu tự La Tinh, 24 chữ cái, ghép vần, phát âm... nhưng khác nhau, nếu không phân biệt rõ ràng thì lầm tiếng Vẹm là tiếng Việt.

Tiếng Việt trở thành quốc ngữ là do một linh mục Công Giáo, Alexander Rhode, trong lúc sang truyền bá đạo giáo, phiên âm từ tiếng Nôm thành vần, viết theo mẫu tự La Tinh để cho các tín đồ hiểu thánh kinh và từ đó phổ biến trong dân chúng, do lối viết dễ, học.

Nếu không có sự đóng góp nầy, thì dù Hàn Thuyên có chữ viết khác với Trung Hoa, với bài thơ nôm “thần kỳ” đuổi được cá sấu ở sông Hồng, nhưng cũng không tránh khỏi ảnh hưởng nét viết, tượng hình rập khuôn theo chữ viết của giặc Tàu xâm lăng đô hộ, mang sang với mục đích đồng hóa...

Tiếng Việt là nét độc đáo của dân Việt, thế mà Trường Chinh, tên Cộng Sản dã man, đã muốn cho dân Việt bỏ tiếng quốc ngữ, và dùng tiếng Tàu làm ngôn ngữ, đúng là tên vong bản. Nhờ những người khai phá tiếng Việt như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Ðạo, Nhất Linh, Khái Hưng... nên tiếng Việt càng phong phú.

Tại miền Nam sau 1954, với chính quyền quốc gia, tiếng Việt được phát triển như những loài hoa được trồng nơi phong thổ thích hợp, phân, nước đầy đủ với các trường đại học văn khoa ở Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... nhiều giáo sư đại học có kiến thức, khả năng, những bộ tự điển tiếng Việt, làm cho nền văn hóa càng thăng tiến; tiếng Việt trở thành linh hồn của dân tộc, là tiếng được bập bẹ ngay trên đầu môi trẻ thơ, trong trường từ mẫu giáo đến đại học và ngày nay, dù cho đất nước bị giặc Cộng “cướp chính quyền”, nhưng người Việt tha hương vẫn cố gắng duy trì tiếng nói, viết ở các quốc gia tạm dung.

Trái lại ở miền Bắc sau 1954, dưới chế độ cai trị tàn độc của băng đảng siêu cướp Cộng Sản Việt Nam, do tên đại Việt gian Hồ Chí Minh lãnh đạo, áp dụng nền văn hóa ngoại lai, chế độ cai trị rập khuôn quan thầy Nga Tàu, nên chữ nghĩa cũng bị thay đổi từ ý nghĩa đến cách dùng chữ, trong chế độ Cộng Sản, cái gì cũng phải gắng liền với cái đuôi khỉ “xã hội chủ nghĩa” nên tiếng nói cũng phải phù hợp với chế độ, cũng giống như phụ tùng xe từng loại được lấp ráp, nếu không đúng, thì xe bị trở ngại máy móc, và các thứ khác. Ngoài Bắc, tiếng Việt thuần túy, văn hóa, văn chương.... bị thay thế dần bởi tiếng Vẹm, là ngôn ngữ dành riêng cho chế độ Cộng Sản, do đảng Cộng Sản đưa vào.
Cũng giống như các ngành, nghề chuyên môn, mỗi giới thợ thầy đều có những ngôn từ chuyên môn để gọi, viết, nên mới có những quyển tự điển như “khoa học, kỹ thuật, y khoa...”

Ngay cả trong giới anh chị giang hồ, xã hội đen, cũng có ngôn từ riêng, để đồng bọn dùng trong những việc bất chánh, đó là tiếng lóng, hay mã tự.... đảng Cộng Sản là băng đảng cướp, cướp có chính sách, có bài bản, có hệ thống, có luận lý dạy ăn cướp , nên bọn bất lương nầy cũng có tiếng nói riêng, hệ thống hóa thành thứ ngôn ngữ Cộng Sản.

Khi ngôn ngữ của giới ăn cướp quốc tế Cộng Sản có chính sách chiêu bài chuyền sang Việt Nam, trở thành tiếng Vẹm, được dựa theo trong kinh điển vô thần của Karl Marx, trích ra từ ba bộ “tà kinh”: Duy vật biện chứng, duy vật sử quan và tư bản luận.

Những ngôn từ Vẹm được áp dụng trong mục đích yêu cầu là làm cách nào để cướp của, giết người có bài bản: “cướp nhanh, giết mạnh, vét sạch, quơ hết...” nên đây là thứ “ngôn từ khủng bố” của băng đảng cướp, lũ bất lương, mà những kẻ dốt nát nát hay ít học, sau khi được nhồi sọ nằm lòng, rồi phát ra thành tiếng, không cần phải hiểu ý nghĩa, được đảng Cộng Sản chỉ đạo, thêm quyền hành, quyền lợi, trở thành “robot” giết người, cướp của hàng loạt, giống như những môn sinh phái võ “thần quyền”, bình thường không biết võ, nhưng sau khi đọc thần chú, thì bỗng biến thành “cao thủ võ lâm”, múa quyền y như võ sư vậy.

Những tiếng Vẹm được rút ra từ kinh điển Karl Marx như: cách mạng, vô sản chuyên chính, giai cấp tiên tiến, giai cấp tiến bộ, cao trào cách mạng, thoái trào cách mạng, hạ tầng cơ sở, thượng tầng kiến trúc, trung ương đảng, bộ chính trị, tổng bí thư, nhà nước, đấu tranh giai cấp, nhà nước vô sản chuyên chính, xã hội chủ nghĩa, thiên đàng Cộng Sản... được “bổ sung” (bổ túc) với những từ ngữ có “nghiệp chuyên” (chuyên nghiệp) dùng để kích động hận thù giữa con người trong xã hội, đấu tố, tịch thu tài sản, bắt dân làm nô lệ; những chữ mà Vẹm được nhồi nhét từ học đường, xã hội, trong tổ chức bộ đội, công an, xí nghiệp quốc doanh, nông trường, lâm trường... đâu đâu cũng có những “học tập chính trị”, phổ biến chính sách, thảo luận theo kiểu Cộng Sản với lý luận một chiều thường trực, bằng tiếng Vẹm, lối cấu trúc câu của vẹm và ý nghĩa cũng theo chính sách Vẹm, là cách mà đảng Cộng Sản Việt Nam thực thi đúng theo lời sư phụ Lenin: “tuyên truyền là nói láo, nói láo và tiếp tục nói dối”; khác với truyền thông trung thực: “nói thật, nói hết và nói có sách mách có chứng” nên các cơ quan truyền thông Tây Phương thường được tín nhiệm.

Do đó, người dân sống dưới chế độ Cộng Sản, hay những người có tiếp xúc, liên quan tới người Cộng Sản, về du lịch, gia đình có thân nhân, du học, bị ảnh hưởng tới, tiêm nhiễm thứ tiếng Vẹm phổ biến như: động viên, xử lý, chế độ, thời thượng, tình huống, phát hiện, sự cố, cơ sở, cơ bản, cự ly, phản động, phản cách mạng, dân chủ nhân dân, dân chủ tập trung, tư bản phản động, tư duy, chất lượng*... nói đúng hơn là tiếng Vẹm, chữ Vẹm, cách dùng câu nói của Vẹm, ý nghĩa chữ Vẹm... là thứ làm “ô nhiễm tiếng Việt”, không khác gì loại khí độc “Dioxine” làm dơ bầu khí quyển, mà các nhà bảo vệ môi sinh lưu tâm đặc biệt trong việc bảo vệ khí thải nhà kính, nhằm ngăn chận trái đất bị hâm nóng dần; nên việc bảo vệ tiếng Việt, chống lại ô nhiễm do tiếng Vẹm, là công tác hàng đầu của tất cả những người Việt Nam nào còn tấm lòng: “tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời...”

Người Cộng Sản vốn là băng đảng cướp, nên tiếng Vẹm được coi là “chất xúc tác” mở đường cho những hành vi bạo ác, gian manh; từ ngữ chính là “lực lượng đặc công văn hóa” mở đường cho những chính sách tuyên truyền của đảng Cộng Sản nhắm vào các đối tượng trong và ngoài nước, được coi là mục tiêu phải lôi cuốn, thuyết phục, hù dọa, khủng bố. Khi những nông dân dốt, bọn đầu trộm đuôi cướp thất học, được học thuộc lòng ngôn ngữ Vẹm, trở thành những con vẹt, nói năng ào ào mà không hiểu gì cả, rồi từ đó, ra tay giết người, cướp của, không chừa một ai kể cả gia đình, cha mẹ... tác động từ tiếng Vẹm thật kinh hoàng.

A.K, mã tấu kè kè.

Nói quấy nói quá, chúng nghe hà rầm.

Người Cộng Sản tự hào ngôn ngữ đặc thù của băng đảng, họ cho tiếng Việt mà dân Việt đang dùng, nhất là ở hải ngoại, lếu láo là “tiếng Việt cổ, tiếng Việt chết”, còn tiếng của đảng cướp là hiện đại, phổ biến, ăn nói ngược ngạo là bản chất của người Cộng Sản.

Tiếng Vẹm là ngôn từ riêng của những kẻ bất lương sử dụng với mục đích bất chánh.

Và còn tiếng Việt thể hiện nền văn hóa, phục vụ con người, nhân bản, là chất xúc tác văn học, khoa học, đưa đất nước tiến lên. Tuy nhiên, tiếng Vẹm núp bóng tiếng Việt, cũng như đảng cướp Cộng Sản núp bóng Việt Minh, các nhà “Phật giáo, Thiên Chúa Giáo” từ các tiệm Phật, cửa hàng Chúa, núp bóng chùa, nhà thờ để làm giàu, thu tiền, phục vụ cho bè cánh, nhất là các công an, cán bộ đội lớp tu sĩ nhiều đẳng cay của các tôn giáo ngày nay. Tiếng Vẹm núp bóng từ tiếng Việt mà lại muốn khống chế, biến tiếng Việt thành công cụ, phục vụ tiếng Vẹm, quả là tai hại lâu dài cho ngôn ngữ quốc gia.

Tiếng Vẹm du nhập từ tà kinh Cộng Sản và ảnh hưởng các nước Cộng Sản đàn anh nên mục đích của thứ ngôn ngữ Vẹm cũng nhằm phục vụ cho một băng đảng, đây không phải là thứ ngôn ngữ phục vụ con người, dân tộc, văn hóa.

Tại Việt Nam, sau khi Mao Trạch Ðông giúp, chỉ đạo cho Cộng Sản Việt Nam đánh thắng trận Ðiện Biên Phủ, thì tình hữu nghị ban đầu trở nên khắng khít như “răng với môi”, nên Hồ Chí Minh và đồng bọn cộng sản không ngần ngại dùng tiếng Vẹm được phiên dịch từ tiếng Tàu, để làm dịu tình hình, đổi tên Ải Nam Quan thành Hữu Nghị Quan, do đó ngay cả y phục, phổ biến là bộ đồ “đại cán” của bọn đểu cán Trung Cộng, thế là từ Hồ Chủ tặc đến trung ương, hạ tầng cơ sở, cán ngố, cán dốt... thi đua may mặc loại y phục “đặc trưng” của loài vượn thành người; ngày nay bộ trang phục "đại cán" vẫn còn được cán ngố, cán ngáo, cán đần, cán ác... yêu chuộng.

Tiếng Vẹm cũng phải “chuyên chở tình hữu nghị răng môi” mới “đời đời bền vững”. Rồi vì thấy quan thầy Liên Xô hùng mạnh, nên Hồ lơ là với Trung Cộng, từ tình “hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững, môi hở ranh lạnh” được kinh qua sang thời kỳ “quá độ”: “tình hữu nghị Việt Trung như dùi đục chấm nuớc mắm”. Hồ Chí Minh ra lịnh toàn đảng học tập sáng tạo ra tiếng Vẹm “đặc thù” của bọn “đặc đầu bùn”, nhằm tạo cho đảng cướp tiếng nói riêng. Thời đó xuất hiện những tiếng lạ như: Bộ đội trai, bộ đôi gái, kịch nói, múa rối...

Tuy nhiên tiếng Vẹm chưa phát huy đúng mức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nên chưa gọi “lính đực, lính cái” là rất hợp với “duy vật biện chứng” của tổ sư Karl Marx.

- Thủy Quân Lục Chiến là tiếng của “phản động” được đổi thành “NÍNH Thủy đánh bộ”
- Máy bay trực thăng
“Máy bay NÊN thẳng”,
- Hàng không mẫu hạm
thành “TÀU MẸ CHỞ TÀU CON” hoặc "tàu sân bay"
- Cà phê phin
thì gọi là CÁI NỒI NGỒI TRÊN CÁI CỐC
- Nghệ sĩ
thành nghệ nhân
- Văn sĩ
thành nhà văn
- Thi sĩ
thành nhà thơ
-
còn Họa sĩ chưa có "chế độ thay đổi" thành “nhà vẽ” cũng là thiếu sót lớn.
- Ca sĩ chưa được Vẹm hóa thành NGƯỜI HÁT
- Nhạc sĩ
NGƯỜI VIẾT NHẠC, NGƯỜI ÐỜN...

Trong tiến trình xây dựng và phát triển tiếng Vẹm “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh chỉ thị cho gã môi vẩu Phạm Văn Ðồng, là “thủ tướng không người lái”, nặn óc khỉ viết ra quyển sách tựa đề: “Hãy giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt”; đúng ra là tiếng Vẹm, vì tên Ðồng Vẩu muốn núp bóng tiếng Việt để làm bình phong “giải phóng” tiếng Việt thành tiếng Vẹm, mượn tiếng Việt để phát triển tiếng Vẹm, song hành với việc tiêu diệt tiếng Việt, thật là thâm độc; không khác gì đảng vô thần đã và đang sử dụng đám tu sĩ quốc doanh, tiếm danh, về nguồn qua việc thành lập các giáo hội thân nhà nước để tiêu diệt các tôn giáo trong và ngoài nước.

Nhưng chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì đảng Cộng Sản Việt Nam chưa Vẹm hóa rập khuôn theo tiếng Tàu là: “ngụy quân thật là bậy bạ, không theo đúng chính sách nhất là “tư tưởng Hồ Chí Minh dạy đĩ”.

Ngay cả tên gian ác như Hồ Chí Minh, khi nhắc đến quân lực VNCH là rét, kính trọng, không dám kêu “ngụy quân”, chính hắn nói với đàn em, cùng các đồng chí cật ruột rằng: “Mỹ thua về Mỹ, anh em binh sĩ về đâu?”, chớ nào dám kêu ngụy như đám đàn em, đệ tử sau nầy.

Thế mà sau nầy, khi cướp chính quyền miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, đàn em của Hồ lại hỗn láo, dám kêu là “ngụy quân”, tức là không “nàm theo nời Bác dạy”, vậy mà còn lếu láo hô hào học tập cái gọi là: “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ngày nay, đảng Cộng Sản cử một số lính mọp gốc công an, sang các cộng đồng Công Giáo hải ngoại để thu tiền bằng các chiêu bài như: từ thiện, xây nhà thờ, dựng thánh giá, làm tượng Chúa... đã bị bể mánh khi gọi những con chiên đóng tiền là “Ngụy”, như vậy là các lính mọp nầy chưa “quán triệt tư tưởng và lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh” để làm công tác tôn giáo vận.
Dù một số từ ngữ “bành trướng Bắc Kinh” được Vẹm hóa, nhưng các “đỉnh cao trí tệ nòi người” vẫn còn giữ một số tinh hoa của quan thầy:
Người Việt nói cái nhà, thì tiếng Vẹm gọi là HỘ, CĂN HỘ, từ đó có HỘ KHẨU là lý do mà công an, cán bộ địa phương vin vào đó để đòi vàng, tiền, nếu muốn có hộ khẩu hợp lệ; khi sinh đẻ gọi là HỘ SẢN, nhưng bịnh viện bảo sanh gọi là XƯỞNG ÐẺ, khi ai muốn đi ra nước ngoài có hộ chiếu...

Tiếng Vẹm ngoài những” đỉnh cao trí tệ” ngôn từ, còn có lối diễn đạt ý nghĩa, đúng như bản chất của thứ tiếng dành riêng cho bọn cướp:

- Đi ăn chực gọi là ÐOÀN KẾT

- Tịch thu tài sản người dân gọi là HIẾN


- Giết người cướp đất gọi là CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT


- Ăn cướp gọi là làm CÁCH MẠNG


- Người giàu gọi là TƯ SẢN, nên từ đó mới có chiến dịch ăn cướp ở thành thị, gọi là ÐÁNH TƯ SẢN


- Nhà tù gọi là CẢI TẠO


- Biểu tình gọi là PHẢN ÐỐI TẬP THỂ


- Phạm tội tham ô bị đưa làm vật tế thần để bao che gọi là VI PHẠM HÀNH CHÁNH, LỢI DỤNG CHỨC VỤ (như vụ chìm xuồng PUM18 và mới đây vụ PCI)


- Cướp tiền gọi là XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


- Kích động hận thù trong xã hội cho là ÐẤU TRANH GIAI CẤP


- Đi ăn cắp là CẢI HOẠT


- Chôm chỉa là CẢI THIỆN


- Tham nhũng gọi là QUAN HỆ XẤU...

Còn rất nhiều tiếng Vẹm khác, như:
radio là ÐÀI, cái bao đựng Radio là VÕ ÐÀI (từng làm nhiều người dân miền Nam không hiểu khi những cán ngố mới từ rừng núi vào). Ở các trại tù, cán ngố quản giáo lần đầu vào Nam làm việc, khi nhìn thấy tù thăm nuôi, có lạp xưởng, thì “nấy nàm lạ nắm” hỏi: “con gì đỏ choét, không đầu không đuôi?”.

Khi nhìn thấy phim tình cảm có màn “thương nhau lắm, cắn lưỡi nhau lâu”, được những nhà “văn hóa tiếng Vẹm” gọi là “BÚ MỒM” cũng giống như trẻ bú vú, heo bò con bú vú mẹ...

Ngày nay, tiếng Vẹm đang bước sang giai đoạn “tạp nhạp 80, tức là những nhà “đỉnh cao cháy rụi” văn hóa, thuộc hàng: “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” trong đội ngũ “tiến sĩ Cầu Muối” hay là “khoa bảng bến xe, kỹ thuật chuyên gia bến tàu” và các “nhà báo tiên tiến của hơn 600 tờ báo” với công thức: “nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo, nói láo để lập công”, đã và đang biến chế thành Vẹm từ mới. Như động thái, đặc tình, đạo cụ, lao cải, giao hợp, điều kinh, điều phối, cơ chế... khiến cho tiếng Vẹm càng khó hiểu, nên những người từng học tiếng Việt, khi nghe tiếng Vẹm, cũng cần phải có “thông ngôn” kế bên để nắm vững; chớ tiếng Vẹm có nhiều “cạm bẫy” nên cũng gạt được nhiều người ngây thơ.

Tiếng Vẹm là “đỉnh cao trí tệ” nên chỉ có giới bất lương, đầu trộm đuôi cướp xài, dần dà lan ra dân chúng, làm “ung thối” một số tiếng Việt.

Một số người tỵ nạn, tình cờ hay cố ý (gián tiếp) mang theo hành trang tha hương những thứ tiếng Vẹm và một số cơ quan truyền thông do người Việt tỵ nạn chủ trương, cũng quảng bá tiếng Vẹm một cách rộng rãi trong các bài báo, đài phát thanh, truyền hình... ngay trong sinh hoạt, những người về du lịch, du học sinh, gia đình thăm viếng... đã và đang nói tiếng Vẹm, là thứ nọc độc cần phải bỏ càng sớm càng tốt, để tiếng Việt được bảo tồn.

Gần mực thì đen, nói tiếng Vẹm dễ bị ảnh hưởng thành “con vật” (animal), nên các cơ quan truyền thông nên bỏ loại ngôn từ có “nghiệp chuyên” (chuyên nghiệp) lừa đảo, khủng bố, hầu cho tiếng Việt được sạch sẽ, để mai nầy mang về rửa loại tiếng Vẹm, làm cho xã hội rối loạn, ung thối nền tảng đạo lý.

Phạm Quỳnh nói một câu chí lý: “Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, thi ngày nay: “đảng cướp Việt Cộng còn là còn tiếng Vẹm”.

Nguyễn Văn Vĩnh cho là: “An Nam ta cái gì cũng cười, hay cũng hì, dở cũng hì...” và tiếng Vẹm cũng có sự kiện: “Tiếng Vẹm cái gì cũng CHẾ ÐỘ, chính trị cũng chế độ, ăn uống cũng chế độ, giá biểu hàng hóa cũng chế độ...” đây là thứ CHẾ ÐỘ lạm phát trong một chế độ phi nhân.

Tiếng Vẹm là thứ ngôn ngữ của băng đảng bất lương, có “nghiệp chuyên” cướp của, giết người, kích động thù hận, chém giết nhau... nên tốt nhất là đừng nên đọc bất cứ sách báo nào xuất bản tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nghe, xem truyền hình Việt Cộng và các cơ quan truyền thông tỵ nạn hãy cố gắng gạn lọc những “cặn bã” của tiếng Vẹm trước khi phổ biến với quần chúng, là một trong những cách để bảo tồn văn hóa dân tộc, ngăn chận nọc độc ngôn ngữ Vẹm.

Nếu các cơ quan nào vẫn cố tình dùng tiếng Vẹm thay tiếng Vẹm trong công tác truyền thông, thì rõ ràng đây là “cơ sở” của Vẹm được cài sang hải ngoại để làm công tác đầu độc ngôn ngữ, hầu dọn đường cho tiếng Vẹm nhuộm đỏ cộng đồng, làm hư tiếng Việt trong sáng truyền thống.

Từ ngữ là chất xúc tác, đưa đường dẫn lối cho các hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế... nói tóm lại, ngôn ngữ chính là cái chìa khóa mở cửa cho nền văn minh nhân loại.

Băng đảng cướp Cộng Sản có thứ tiếng riêng, là “núp bóng” các ngôn ngữ, nơi mà họ “cướp chính quyền” và dần đà biến ngôn ngữ đó thành tiếng Cộng Sản. Nên tiếng Việt đã và đang bị Tiếng Vẹm làm ô nhiễm bằng những “áng mây mù từ ngữ”, lan tràn sang hải ngoại, là điều làm cho nhiều người quan tâm và lo ngại, sợ tiếng Vẹm làm hư tiếng Việt nếu không biết ngăn chận và thanh lọc “ô nhiễm ngôn ngữ Vẹm” ra khỏi tiếng Việt.

CÁI HỘ khẩu bày, CỐ HẠI dân.
HỘ KHẨU từ nay HẬU KHỔ dần.
HỠI HỒ chủ tặc, khi HỒ HỞI.
ÐỘNG CƠ bốc lột ÐỢ CÔNG nhân.
CÁN MẠCH nhân quyền, nào CÁCH MẠNG.
CHỈ TRÙ dân tộc, CHỦ TRÌ bàn.
THƯỢNG THỜI bán nước, ngay THỜI THƯỢNG.
CHẤT LƯỢNG bạo quyền, CHƯỚNG LẬT gian.

==================

Và đây, mình mới vừa đọc được một câu:

"Chúc các bạn một tuần thật hoành tráng nhá!"

Nếu không bảo là bừa bãi vô tội vạ thì bảo là gì. Từ "hoành tráng" vốn chỉ đi với không gian và phối trí nay đã bỏ "chồng" để đánh đĩ với thời gian và sự kiện rồi sao?

Ghi chú: Cộng Sản Việt Nam là hiện thân của Việt Minh. Việt Minh là một mặt trận liên minh được Hồ Chí Minh và đàn em, được thành lập với ý đồ lừa đảo để tước đoạt sức mạnh của các phong trào và mặt trận kháng Pháp thời trước. Việt Minh được viết tắt là VM đọc là Vê Em, vê em vem (cũng như vờ em vem) thêm dấu vào, dấu nặng là hay nhất, thành "Vẹm".

Hồng Đức
California, 2008




 





Tiếng Việt và Tiếng Vẹm


Ở đâu cũng vậy, mọi ngôn ngữ đang được dùng đều là sinh ngữ. Là sinh ngữ, nó sẽ phát triển và thay đổi. Nhưng nó sẽ phát triển và thay đổi theo chiều hướng chính xác hơn, đơn giản hơn, và nhất là hợp lý hơn (vì con người là sinh vật có trí khôn, tuyệt đối không phải chỉ là động vật hai chân thuộc giống vượn người) chứ không phải phát triển hay thay đổi theo kiểu bạ đâu dùng đấy, vay mượn vô tội vạ. Một điều đáng lo hơn là đáng buồn cho tương lai dân tộc.

Từ ngữ sử dụng bừa bãi thì hệ lụy sẽ là thanh niên phát âm lộn xộn. Ý nghĩa ngôn từ đã trở nên mờ nhạt và tiếp theo sẽ là ngọng cả lũ. Đó là hiện tượng thoái hóa của sinh ngữ, nó sẽ không trở nên tử ngữ như chữ Latin, nhưng nó sẽ trở thành "tiếng Mọi".


Tiếng Việt và tiếng Vẹm

Con rắn Hổ Đất và Hổ Hành giống nhau về hình dạng, màu sắc, nhưng khác là Hổ Hành có mùi thơm như hành hương, thịt mềm hơn nên dân nhậu rượu đế vùng quê miền Nam thích đánh chén; nhưng cũng phải cẩn thận với loại rắn Hổ Lông cũng giống y như Hổ Đất và Hổ Hành, phải tinh ý và có kinh nghiệm miệt vườn, khi nhìn thấy những lông đen mọc xen kẽ những vẫy ở đầu là không nên ăn, nếu không biết, ăn vào bị trúng độc, lăn đùng ra chết không kịp ngáp, ở vùng nông thôn, có một số gia đình bị chết cả nhà chỉ vì ăn phải thịt nó. Con Trăn và Nưa giống nhau như “hai giọt nước”, nhưng Nưa cắn chết và Trăn thì không có nọc độc, một số người không biết, bắt con Nưa về nuôi, có khi bị chết vì nó.

Người tỵ nạn chính trị và kinh tế giống nhau: “đều bỏ nước ra đi” nhưng:

- Người tỵ nạn chính trị (Political refugee) với những lý do như xung đột tư tưởng, bất đồng chánh kiến, tôn giáo... bị bắt buộc phải ra đi, nếu không thì tánh mạng nguy hiểm, và sau khi ra đi, không thể trở về, do nhà cầm quyền vẫn còn cai trị, có thể bắt bớ, tù đày, ám hại bất cứ lúc nào.

- Người tỵ nạn kinh tế (Asylum seeker) là muốn ra đi ở nơi khác, như câu của Hồng Y Phạm Minh Mẫn thấy một số người Việt hải ngoại trở về mà quơ đũa cả nắm: “tha hương cầu thực”, những người nầy mong có được đời sống khá hơn và họ có thể quay về nơi mà mình bỏ đi mà không hề hấn gì.

- Chính những kẻ tỵ nạn kinh tế nầy đã làm tổn hại trường kỳ đến hàng ngũ những người tỵ nạn chính trị. Trong chiến tranh chống giặc Cộng thì họ không có mặt nhưng khi vượt biển là họ đi trước, khi Việt Cộng mở cửa, họ là những người tiên phong đóng vai áo gấm về làng về trước, nên sau nầy chính phủ các nước Dân Chủ không còn chào đón, khi đến nước họ đều bị nhốt trong các trại tạm giam, bị coi là tỵ nạn kinh tế, cá mè một lứa, sau chờ thanh lọc mới biết thật giả...

- Thành phần tỵ nạn kinh tế đã trở mặt, buôn bán, làm ăn với Việt Cộng, trở về theo diện TAM DU: “du lịch, du dâm, và du hý” và cũng chính họ đã và đang mang những “hạt giống đỏ” sang theo diện bảo lãnh hôn phối, ăn tiền, nên đây là những kẻ: “rước giặc Cộng vào nhà”, ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản, núp bóng tỵ nạn kết bạn với Cộng Sản.

Chùa Phật, Tiệm Phật hay Nhà Thờ và Cửa Hàng Chúa đều giống nhau về hình thức, cũng có tượng Phật, Chúa, đọc kinh, tu sĩ... nhưng khác nhau là những người hành đạo, khiến cho nhiều tín đồ Tam Tạng thời đại, con chiên mù quáng đến đóng góp, nuôi dưỡng nhũng kẻ “mượn đạo tạo tiền” làm hại uy tín đạo không nhỏ.

Tiếng Việt và tiếng Vẹm cũng giống nhau là có cùng mẫu tự La Tinh, 24 chữ cái, ghép vần, phát âm... nhưng khác nhau, nếu không phân biệt rõ ràng thì lầm tiếng Vẹm là tiếng Việt.

Tiếng Việt trở thành quốc ngữ là do một linh mục Công Giáo, Alexander Rhode, trong lúc sang truyền bá đạo giáo, phiên âm từ tiếng Nôm thành vần, viết theo mẫu tự La Tinh để cho các tín đồ hiểu thánh kinh và từ đó phổ biến trong dân chúng, do lối viết dễ, học.

Nếu không có sự đóng góp nầy, thì dù Hàn Thuyên có chữ viết khác với Trung Hoa, với bài thơ nôm “thần kỳ” đuổi được cá sấu ở sông Hồng, nhưng cũng không tránh khỏi ảnh hưởng nét viết, tượng hình rập khuôn theo chữ viết của giặc Tàu xâm lăng đô hộ, mang sang với mục đích đồng hóa...

Tiếng Việt là nét độc đáo của dân Việt, thế mà Trường Chinh, tên Cộng Sản dã man, đã muốn cho dân Việt bỏ tiếng quốc ngữ, và dùng tiếng Tàu làm ngôn ngữ, đúng là tên vong bản. Nhờ những người khai phá tiếng Việt như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Ðạo, Nhất Linh, Khái Hưng... nên tiếng Việt càng phong phú.

Tại miền Nam sau 1954, với chính quyền quốc gia, tiếng Việt được phát triển như những loài hoa được trồng nơi phong thổ thích hợp, phân, nước đầy đủ với các trường đại học văn khoa ở Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... nhiều giáo sư đại học có kiến thức, khả năng, những bộ tự điển tiếng Việt, làm cho nền văn hóa càng thăng tiến; tiếng Việt trở thành linh hồn của dân tộc, là tiếng được bập bẹ ngay trên đầu môi trẻ thơ, trong trường từ mẫu giáo đến đại học và ngày nay, dù cho đất nước bị giặc Cộng “cướp chính quyền”, nhưng người Việt tha hương vẫn cố gắng duy trì tiếng nói, viết ở các quốc gia tạm dung.

Trái lại ở miền Bắc sau 1954, dưới chế độ cai trị tàn độc của băng đảng siêu cướp Cộng Sản Việt Nam, do tên đại Việt gian Hồ Chí Minh lãnh đạo, áp dụng nền văn hóa ngoại lai, chế độ cai trị rập khuôn quan thầy Nga Tàu, nên chữ nghĩa cũng bị thay đổi từ ý nghĩa đến cách dùng chữ, trong chế độ Cộng Sản, cái gì cũng phải gắng liền với cái đuôi khỉ “xã hội chủ nghĩa” nên tiếng nói cũng phải phù hợp với chế độ, cũng giống như phụ tùng xe từng loại được lấp ráp, nếu không đúng, thì xe bị trở ngại máy móc, và các thứ khác. Ngoài Bắc, tiếng Việt thuần túy, văn hóa, văn chương.... bị thay thế dần bởi tiếng Vẹm, là ngôn ngữ dành riêng cho chế độ Cộng Sản, do đảng Cộng Sản đưa vào.
Cũng giống như các ngành, nghề chuyên môn, mỗi giới thợ thầy đều có những ngôn từ chuyên môn để gọi, viết, nên mới có những quyển tự điển như “khoa học, kỹ thuật, y khoa...”

Ngay cả trong giới anh chị giang hồ, xã hội đen, cũng có ngôn từ riêng, để đồng bọn dùng trong những việc bất chánh, đó là tiếng lóng, hay mã tự.... đảng Cộng Sản là băng đảng cướp, cướp có chính sách, có bài bản, có hệ thống, có luận lý dạy ăn cướp , nên bọn bất lương nầy cũng có tiếng nói riêng, hệ thống hóa thành thứ ngôn ngữ Cộng Sản.

Khi ngôn ngữ của giới ăn cướp quốc tế Cộng Sản có chính sách chiêu bài chuyền sang Việt Nam, trở thành tiếng Vẹm, được dựa theo trong kinh điển vô thần của Karl Marx, trích ra từ ba bộ “tà kinh”: Duy vật biện chứng, duy vật sử quan và tư bản luận.

Những ngôn từ Vẹm được áp dụng trong mục đích yêu cầu là làm cách nào để cướp của, giết người có bài bản: “cướp nhanh, giết mạnh, vét sạch, quơ hết...” nên đây là thứ “ngôn từ khủng bố” của băng đảng cướp, lũ bất lương, mà những kẻ dốt nát nát hay ít học, sau khi được nhồi sọ nằm lòng, rồi phát ra thành tiếng, không cần phải hiểu ý nghĩa, được đảng Cộng Sản chỉ đạo, thêm quyền hành, quyền lợi, trở thành “robot” giết người, cướp của hàng loạt, giống như những môn sinh phái võ “thần quyền”, bình thường không biết võ, nhưng sau khi đọc thần chú, thì bỗng biến thành “cao thủ võ lâm”, múa quyền y như võ sư vậy.

Những tiếng Vẹm được rút ra từ kinh điển Karl Marx như: cách mạng, vô sản chuyên chính, giai cấp tiên tiến, giai cấp tiến bộ, cao trào cách mạng, thoái trào cách mạng, hạ tầng cơ sở, thượng tầng kiến trúc, trung ương đảng, bộ chính trị, tổng bí thư, nhà nước, đấu tranh giai cấp, nhà nước vô sản chuyên chính, xã hội chủ nghĩa, thiên đàng Cộng Sản... được “bổ sung” (bổ túc) với những từ ngữ có “nghiệp chuyên” (chuyên nghiệp) dùng để kích động hận thù giữa con người trong xã hội, đấu tố, tịch thu tài sản, bắt dân làm nô lệ; những chữ mà Vẹm được nhồi nhét từ học đường, xã hội, trong tổ chức bộ đội, công an, xí nghiệp quốc doanh, nông trường, lâm trường... đâu đâu cũng có những “học tập chính trị”, phổ biến chính sách, thảo luận theo kiểu Cộng Sản với lý luận một chiều thường trực, bằng tiếng Vẹm, lối cấu trúc câu của vẹm và ý nghĩa cũng theo chính sách Vẹm, là cách mà đảng Cộng Sản Việt Nam thực thi đúng theo lời sư phụ Lenin: “tuyên truyền là nói láo, nói láo và tiếp tục nói dối”; khác với truyền thông trung thực: “nói thật, nói hết và nói có sách mách có chứng” nên các cơ quan truyền thông Tây Phương thường được tín nhiệm.

Do đó, người dân sống dưới chế độ Cộng Sản, hay những người có tiếp xúc, liên quan tới người Cộng Sản, về du lịch, gia đình có thân nhân, du học, bị ảnh hưởng tới, tiêm nhiễm thứ tiếng Vẹm phổ biến như: động viên, xử lý, chế độ, thời thượng, tình huống, phát hiện, sự cố, cơ sở, cơ bản, cự ly, phản động, phản cách mạng, dân chủ nhân dân, dân chủ tập trung, tư bản phản động, tư duy, chất lượng*... nói đúng hơn là tiếng Vẹm, chữ Vẹm, cách dùng câu nói của Vẹm, ý nghĩa chữ Vẹm... là thứ làm “ô nhiễm tiếng Việt”, không khác gì loại khí độc “Dioxine” làm dơ bầu khí quyển, mà các nhà bảo vệ môi sinh lưu tâm đặc biệt trong việc bảo vệ khí thải nhà kính, nhằm ngăn chận trái đất bị hâm nóng dần; nên việc bảo vệ tiếng Việt, chống lại ô nhiễm do tiếng Vẹm, là công tác hàng đầu của tất cả những người Việt Nam nào còn tấm lòng: “tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời...”

Người Cộng Sản vốn là băng đảng cướp, nên tiếng Vẹm được coi là “chất xúc tác” mở đường cho những hành vi bạo ác, gian manh; từ ngữ chính là “lực lượng đặc công văn hóa” mở đường cho những chính sách tuyên truyền của đảng Cộng Sản nhắm vào các đối tượng trong và ngoài nước, được coi là mục tiêu phải lôi cuốn, thuyết phục, hù dọa, khủng bố. Khi những nông dân dốt, bọn đầu trộm đuôi cướp thất học, được học thuộc lòng ngôn ngữ Vẹm, trở thành những con vẹt, nói năng ào ào mà không hiểu gì cả, rồi từ đó, ra tay giết người, cướp của, không chừa một ai kể cả gia đình, cha mẹ... tác động từ tiếng Vẹm thật kinh hoàng.

A.K, mã tấu kè kè.

Nói quấy nói quá, chúng nghe hà rầm.

Người Cộng Sản tự hào ngôn ngữ đặc thù của băng đảng, họ cho tiếng Việt mà dân Việt đang dùng, nhất là ở hải ngoại, lếu láo là “tiếng Việt cổ, tiếng Việt chết”, còn tiếng của đảng cướp là hiện đại, phổ biến, ăn nói ngược ngạo là bản chất của người Cộng Sản.

Tiếng Vẹm là ngôn từ riêng của những kẻ bất lương sử dụng với mục đích bất chánh.

Và còn tiếng Việt thể hiện nền văn hóa, phục vụ con người, nhân bản, là chất xúc tác văn học, khoa học, đưa đất nước tiến lên. Tuy nhiên, tiếng Vẹm núp bóng tiếng Việt, cũng như đảng cướp Cộng Sản núp bóng Việt Minh, các nhà “Phật giáo, Thiên Chúa Giáo” từ các tiệm Phật, cửa hàng Chúa, núp bóng chùa, nhà thờ để làm giàu, thu tiền, phục vụ cho bè cánh, nhất là các công an, cán bộ đội lớp tu sĩ nhiều đẳng cay của các tôn giáo ngày nay. Tiếng Vẹm núp bóng từ tiếng Việt mà lại muốn khống chế, biến tiếng Việt thành công cụ, phục vụ tiếng Vẹm, quả là tai hại lâu dài cho ngôn ngữ quốc gia.

Tiếng Vẹm du nhập từ tà kinh Cộng Sản và ảnh hưởng các nước Cộng Sản đàn anh nên mục đích của thứ ngôn ngữ Vẹm cũng nhằm phục vụ cho một băng đảng, đây không phải là thứ ngôn ngữ phục vụ con người, dân tộc, văn hóa.

Tại Việt Nam, sau khi Mao Trạch Ðông giúp, chỉ đạo cho Cộng Sản Việt Nam đánh thắng trận Ðiện Biên Phủ, thì tình hữu nghị ban đầu trở nên khắng khít như “răng với môi”, nên Hồ Chí Minh và đồng bọn cộng sản không ngần ngại dùng tiếng Vẹm được phiên dịch từ tiếng Tàu, để làm dịu tình hình, đổi tên Ải Nam Quan thành Hữu Nghị Quan, do đó ngay cả y phục, phổ biến là bộ đồ “đại cán” của bọn đểu cán Trung Cộng, thế là từ Hồ Chủ tặc đến trung ương, hạ tầng cơ sở, cán ngố, cán dốt... thi đua may mặc loại y phục “đặc trưng” của loài vượn thành người; ngày nay bộ trang phục "đại cán" vẫn còn được cán ngố, cán ngáo, cán đần, cán ác... yêu chuộng.

Tiếng Vẹm cũng phải “chuyên chở tình hữu nghị răng môi” mới “đời đời bền vững”. Rồi vì thấy quan thầy Liên Xô hùng mạnh, nên Hồ lơ là với Trung Cộng, từ tình “hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững, môi hở ranh lạnh” được kinh qua sang thời kỳ “quá độ”: “tình hữu nghị Việt Trung như dùi đục chấm nuớc mắm”. Hồ Chí Minh ra lịnh toàn đảng học tập sáng tạo ra tiếng Vẹm “đặc thù” của bọn “đặc đầu bùn”, nhằm tạo cho đảng cướp tiếng nói riêng. Thời đó xuất hiện những tiếng lạ như: Bộ đội trai, bộ đôi gái, kịch nói, múa rối...

Tuy nhiên tiếng Vẹm chưa phát huy đúng mức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nên chưa gọi “lính đực, lính cái” là rất hợp với “duy vật biện chứng” của tổ sư Karl Marx.

- Thủy Quân Lục Chiến là tiếng của “phản động” được đổi thành “NÍNH Thủy đánh bộ”
- Máy bay trực thăng
“Máy bay NÊN thẳng”,
- Hàng không mẫu hạm
thành “TÀU MẸ CHỞ TÀU CON” hoặc "tàu sân bay"
- Cà phê phin
thì gọi là CÁI NỒI NGỒI TRÊN CÁI CỐC
- Nghệ sĩ
thành nghệ nhân
- Văn sĩ
thành nhà văn
- Thi sĩ
thành nhà thơ
-
còn Họa sĩ chưa có "chế độ thay đổi" thành “nhà vẽ” cũng là thiếu sót lớn.
- Ca sĩ chưa được Vẹm hóa thành NGƯỜI HÁT
- Nhạc sĩ
NGƯỜI VIẾT NHẠC, NGƯỜI ÐỜN...

Trong tiến trình xây dựng và phát triển tiếng Vẹm “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh chỉ thị cho gã môi vẩu Phạm Văn Ðồng, là “thủ tướng không người lái”, nặn óc khỉ viết ra quyển sách tựa đề: “Hãy giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt”; đúng ra là tiếng Vẹm, vì tên Ðồng Vẩu muốn núp bóng tiếng Việt để làm bình phong “giải phóng” tiếng Việt thành tiếng Vẹm, mượn tiếng Việt để phát triển tiếng Vẹm, song hành với việc tiêu diệt tiếng Việt, thật là thâm độc; không khác gì đảng vô thần đã và đang sử dụng đám tu sĩ quốc doanh, tiếm danh, về nguồn qua việc thành lập các giáo hội thân nhà nước để tiêu diệt các tôn giáo trong và ngoài nước.

Nhưng chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì đảng Cộng Sản Việt Nam chưa Vẹm hóa rập khuôn theo tiếng Tàu là: “ngụy quân thật là bậy bạ, không theo đúng chính sách nhất là “tư tưởng Hồ Chí Minh dạy đĩ”.

Ngay cả tên gian ác như Hồ Chí Minh, khi nhắc đến quân lực VNCH là rét, kính trọng, không dám kêu “ngụy quân”, chính hắn nói với đàn em, cùng các đồng chí cật ruột rằng: “Mỹ thua về Mỹ, anh em binh sĩ về đâu?”, chớ nào dám kêu ngụy như đám đàn em, đệ tử sau nầy.

Thế mà sau nầy, khi cướp chính quyền miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, đàn em của Hồ lại hỗn láo, dám kêu là “ngụy quân”, tức là không “nàm theo nời Bác dạy”, vậy mà còn lếu láo hô hào học tập cái gọi là: “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ngày nay, đảng Cộng Sản cử một số lính mọp gốc công an, sang các cộng đồng Công Giáo hải ngoại để thu tiền bằng các chiêu bài như: từ thiện, xây nhà thờ, dựng thánh giá, làm tượng Chúa... đã bị bể mánh khi gọi những con chiên đóng tiền là “Ngụy”, như vậy là các lính mọp nầy chưa “quán triệt tư tưởng và lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh” để làm công tác tôn giáo vận.
Dù một số từ ngữ “bành trướng Bắc Kinh” được Vẹm hóa, nhưng các “đỉnh cao trí tệ nòi người” vẫn còn giữ một số tinh hoa của quan thầy:
Người Việt nói cái nhà, thì tiếng Vẹm gọi là HỘ, CĂN HỘ, từ đó có HỘ KHẨU là lý do mà công an, cán bộ địa phương vin vào đó để đòi vàng, tiền, nếu muốn có hộ khẩu hợp lệ; khi sinh đẻ gọi là HỘ SẢN, nhưng bịnh viện bảo sanh gọi là XƯỞNG ÐẺ, khi ai muốn đi ra nước ngoài có hộ chiếu...

Tiếng Vẹm ngoài những” đỉnh cao trí tệ” ngôn từ, còn có lối diễn đạt ý nghĩa, đúng như bản chất của thứ tiếng dành riêng cho bọn cướp:

- Đi ăn chực gọi là ÐOÀN KẾT

- Tịch thu tài sản người dân gọi là HIẾN


- Giết người cướp đất gọi là CẢI CÁCH RUỘNG ÐẤT


- Ăn cướp gọi là làm CÁCH MẠNG


- Người giàu gọi là TƯ SẢN, nên từ đó mới có chiến dịch ăn cướp ở thành thị, gọi là ÐÁNH TƯ SẢN


- Nhà tù gọi là CẢI TẠO


- Biểu tình gọi là PHẢN ÐỐI TẬP THỂ


- Phạm tội tham ô bị đưa làm vật tế thần để bao che gọi là VI PHẠM HÀNH CHÁNH, LỢI DỤNG CHỨC VỤ (như vụ chìm xuồng PUM18 và mới đây vụ PCI)


- Cướp tiền gọi là XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


- Kích động hận thù trong xã hội cho là ÐẤU TRANH GIAI CẤP


- Đi ăn cắp là CẢI HOẠT


- Chôm chỉa là CẢI THIỆN


- Tham nhũng gọi là QUAN HỆ XẤU...

Còn rất nhiều tiếng Vẹm khác, như:
radio là ÐÀI, cái bao đựng Radio là VÕ ÐÀI (từng làm nhiều người dân miền Nam không hiểu khi những cán ngố mới từ rừng núi vào). Ở các trại tù, cán ngố quản giáo lần đầu vào Nam làm việc, khi nhìn thấy tù thăm nuôi, có lạp xưởng, thì “nấy nàm lạ nắm” hỏi: “con gì đỏ choét, không đầu không đuôi?”.

Khi nhìn thấy phim tình cảm có màn “thương nhau lắm, cắn lưỡi nhau lâu”, được những nhà “văn hóa tiếng Vẹm” gọi là “BÚ MỒM” cũng giống như trẻ bú vú, heo bò con bú vú mẹ...

Ngày nay, tiếng Vẹm đang bước sang giai đoạn “tạp nhạp 80, tức là những nhà “đỉnh cao cháy rụi” văn hóa, thuộc hàng: “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” trong đội ngũ “tiến sĩ Cầu Muối” hay là “khoa bảng bến xe, kỹ thuật chuyên gia bến tàu” và các “nhà báo tiên tiến của hơn 600 tờ báo” với công thức: “nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo, nói láo để lập công”, đã và đang biến chế thành Vẹm từ mới. Như động thái, đặc tình, đạo cụ, lao cải, giao hợp, điều kinh, điều phối, cơ chế... khiến cho tiếng Vẹm càng khó hiểu, nên những người từng học tiếng Việt, khi nghe tiếng Vẹm, cũng cần phải có “thông ngôn” kế bên để nắm vững; chớ tiếng Vẹm có nhiều “cạm bẫy” nên cũng gạt được nhiều người ngây thơ.

Tiếng Vẹm là “đỉnh cao trí tệ” nên chỉ có giới bất lương, đầu trộm đuôi cướp xài, dần dà lan ra dân chúng, làm “ung thối” một số tiếng Việt.

Một số người tỵ nạn, tình cờ hay cố ý (gián tiếp) mang theo hành trang tha hương những thứ tiếng Vẹm và một số cơ quan truyền thông do người Việt tỵ nạn chủ trương, cũng quảng bá tiếng Vẹm một cách rộng rãi trong các bài báo, đài phát thanh, truyền hình... ngay trong sinh hoạt, những người về du lịch, du học sinh, gia đình thăm viếng... đã và đang nói tiếng Vẹm, là thứ nọc độc cần phải bỏ càng sớm càng tốt, để tiếng Việt được bảo tồn.

Gần mực thì đen, nói tiếng Vẹm dễ bị ảnh hưởng thành “con vật” (animal), nên các cơ quan truyền thông nên bỏ loại ngôn từ có “nghiệp chuyên” (chuyên nghiệp) lừa đảo, khủng bố, hầu cho tiếng Việt được sạch sẽ, để mai nầy mang về rửa loại tiếng Vẹm, làm cho xã hội rối loạn, ung thối nền tảng đạo lý.

Phạm Quỳnh nói một câu chí lý: “Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn”, thi ngày nay: “đảng cướp Việt Cộng còn là còn tiếng Vẹm”.

Nguyễn Văn Vĩnh cho là: “An Nam ta cái gì cũng cười, hay cũng hì, dở cũng hì...” và tiếng Vẹm cũng có sự kiện: “Tiếng Vẹm cái gì cũng CHẾ ÐỘ, chính trị cũng chế độ, ăn uống cũng chế độ, giá biểu hàng hóa cũng chế độ...” đây là thứ CHẾ ÐỘ lạm phát trong một chế độ phi nhân.

Tiếng Vẹm là thứ ngôn ngữ của băng đảng bất lương, có “nghiệp chuyên” cướp của, giết người, kích động thù hận, chém giết nhau... nên tốt nhất là đừng nên đọc bất cứ sách báo nào xuất bản tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nghe, xem truyền hình Việt Cộng và các cơ quan truyền thông tỵ nạn hãy cố gắng gạn lọc những “cặn bã” của tiếng Vẹm trước khi phổ biến với quần chúng, là một trong những cách để bảo tồn văn hóa dân tộc, ngăn chận nọc độc ngôn ngữ Vẹm.

Nếu các cơ quan nào vẫn cố tình dùng tiếng Vẹm thay tiếng Vẹm trong công tác truyền thông, thì rõ ràng đây là “cơ sở” của Vẹm được cài sang hải ngoại để làm công tác đầu độc ngôn ngữ, hầu dọn đường cho tiếng Vẹm nhuộm đỏ cộng đồng, làm hư tiếng Việt trong sáng truyền thống.

Từ ngữ là chất xúc tác, đưa đường dẫn lối cho các hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế... nói tóm lại, ngôn ngữ chính là cái chìa khóa mở cửa cho nền văn minh nhân loại.

Băng đảng cướp Cộng Sản có thứ tiếng riêng, là “núp bóng” các ngôn ngữ, nơi mà họ “cướp chính quyền” và dần đà biến ngôn ngữ đó thành tiếng Cộng Sản. Nên tiếng Việt đã và đang bị Tiếng Vẹm làm ô nhiễm bằng những “áng mây mù từ ngữ”, lan tràn sang hải ngoại, là điều làm cho nhiều người quan tâm và lo ngại, sợ tiếng Vẹm làm hư tiếng Việt nếu không biết ngăn chận và thanh lọc “ô nhiễm ngôn ngữ Vẹm” ra khỏi tiếng Việt.

CÁI HỘ khẩu bày, CỐ HẠI dân.
HỘ KHẨU từ nay HẬU KHỔ dần.
HỠI HỒ chủ tặc, khi HỒ HỞI.
ÐỘNG CƠ bốc lột ÐỢ CÔNG nhân.
CÁN MẠCH nhân quyền, nào CÁCH MẠNG.
CHỈ TRÙ dân tộc, CHỦ TRÌ bàn.
THƯỢNG THỜI bán nước, ngay THỜI THƯỢNG.
CHẤT LƯỢNG bạo quyền, CHƯỚNG LẬT gian.

==================

Và đây, mình mới vừa đọc được một câu:

"Chúc các bạn một tuần thật hoành tráng nhá!"

Nếu không bảo là bừa bãi vô tội vạ thì bảo là gì. Từ "hoành tráng" vốn chỉ đi với không gian và phối trí nay đã bỏ "chồng" để đánh đĩ với thời gian và sự kiện rồi sao?

Ghi chú: Cộng Sản Việt Nam là hiện thân của Việt Minh. Việt Minh là một mặt trận liên minh được Hồ Chí Minh và đàn em, được thành lập với ý đồ lừa đảo để tước đoạt sức mạnh của các phong trào và mặt trận kháng Pháp thời trước. Việt Minh được viết tắt là VM đọc là Vê Em, vê em vem (cũng như vờ em vem) thêm dấu vào, dấu nặng là hay nhất, thành "Vẹm".

Hồng Đức
California, 2008



 

 

Đọc thêm

Đánh Dấu Tiếng Việt trước và sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/anh-dau-tieng-viet.html