Tuesday, May 22, 2018

Nhìn lại nền Giáo dục VNCH: Sự tiếc nuối vô bờ bến

Sách giáo khoa thời VNCH

Sách giáo khoa thời VNCH

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.

Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.

1468720_354694488000497_1492264788_n

Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn (Internet)

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.

Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.

PKý lễ

Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên (công viên 30/4 hiện tại), nằm trên đường Boulevard Norodom – (Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà).

Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.

Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).

Cảnh giờ rước học sinh.

Cảnh giờ rước học sinh tan trường.

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.

Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.

750Thay_Co_truong_QGNT

Thầy cô giáo (Giáo sư) thời VNCH

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng (liberalic) ” được chính thức hóa ở hội nghị này.

Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).

vnch-giao-duc6

Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm.

1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.

Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.

Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

vnch-giao-duc1 (1)

2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.

Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964

Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964.

3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.

Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Mục tiêu giáo dục thời VNCH:

Bích chương của Bộ Y Tế VNCH

Bích chương của Sở Giáo Dục – Bộ Y Tế VNCH

1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.

Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.

Thanh nữ VNCH

Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa

2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.

Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974

Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974.

3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.

Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn (Số 3 Công Trường  chiến sĩ)

Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn (Số 3 Công Trường Chiến Sĩ)

Giáo dục tiểu học:

Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa.

Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961.

Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc). Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 400.865 8.191
1957 717.198[9]
1960 1.230.000[9]
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[10]
1970 2.556.000 44.104

Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.

Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).

Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa.

Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – (Lớp Bốn lớp Năm bây giờ).

Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.

Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dânĐức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.

Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).

Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản

Thẻ căn cước học sinh trường Võ Trường Toản

Giáo dục trung học:

Các vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn

Các vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn

Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).

Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…

Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học
trước 1971 sau 1971
lớp năm lớp một
lớp tư lớp hai
lớp ba lớp ba
lớp nhì lớp tư
lớp nhất lớp năm
Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp
lớp đệ thất lớp sáu
lớp đệ lục lớp bảy
lớp đệ ngũ lớp tám
lớp đệ tứ lớp chín
Tên các lớp trung học đệ nhị cấp
lớp đệ tam lớp mười
lớp đệ nhị lớp 11
lớp đệ nhất lớp 12
Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

Trung học đệ nhất cấp:

Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 72- 73

Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 năm 72- 73

Trung học đệ nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.

Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt” (hay “học kỳ”). Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, môn Công dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.

Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam (tức Việt Võ đạo) cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.

Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: viết và vấn đáp.

Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-67 thì Bộ Quốc gia Giáo dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.

Sân trường Marie Curie

Sân trường Marie Curie

Trung học đệ nhị cấp:

Nam sinh Võ Trường Toản

Nam sinh Võ Trường Toản

Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.

Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chương và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.

Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú tài I rồi thi Tú tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.

Số liệu giáo dục bậc trung học[8]
Niên học Số học sinh Số lớp học
1955 51.465 890
1960 160.500[9]
1963 264.866 4.831
1964 291.965[10]
1970 623.000 9.069

Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.

Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên), thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình”(14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20).

Thầy trò trường Gia Long

Thầy trò trường nữ Gia Long

Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh; và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh.

Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

Nữ sinh Lê Văn Duyệt

Nữ sinh Lê Văn Duyệt

Trung học tổng hợp:

Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là mộtchương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.

Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức (khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965) , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960

Bổ sung (theo góp ý của độc giả Nguyễn):

Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường
Trung-học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế (khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở).

Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung học Kiểu mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân khoa Sư phạm của Viện Đại học Cần Thơ.

Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975

Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975

Trung học kỹ thuật:

Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B'Lao

Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’Lao

Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh và tiếng Pháp.

Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng), Trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuật Don Bosco (do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM).

Hiệu trưởng Cao thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.

Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.

Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử

Các trường tư thục và Bồ đề:

Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974

Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974

Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.

Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.

Sân trường Bác ái (Collège Fraternité)

Sân trường Bác ái (Collège Fraternité)

Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.

Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.

Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.

Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới).

Le Collège Fraternité - Bac Ai datant de 1908, se situe 4 - rue Nguyên Trai, Cho Quan.

Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên Trai, Cho Quan.

Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:

Saigon 17 March 1971 - Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.

Saigon 17 March 1971 – Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành Thư viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.

Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.

Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục.

Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

Giáo dục đại học:

VienDaiHocVanHanh Saigon

Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.

Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.

Trong khuôn viên Học viện Quốc gia Hành chánh

Trong khuôn viên Học viện Quốc gia Hành chánh

Số liệu giáo dục bậc đại học:
Niên học Số sinh viên
1960-61 11.708[45]
1962 16.835[10]
1964 20.834[10]
1974-75 166.475[46]

Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng Kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao học hay Tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteurde troisième cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ).

Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.

Bổ sung của đọc giả Trần Thạnh (26.12.2013):

VNCH có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:

normale11

Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy.
Ecole Normale Supérieure
Ðánh dấu hoa* là ông Phạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là TT Pháp Georges Pompidou

Theo hệ thống của Pháp (ngày trước):

- Cử Nhân (Licencié), Cao học (DEA), Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp (Doctorat de 3è cycle), Tiến Sĩ Quốc Gia (Doctorat d’État).

Theo hệ thống của Hoa Kỳ:

- Cử Nhân (Bachelor), Master (trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này), Tiến Sĩ (PhD).

Khó có thể so sánh MasterTiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau. (Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người).

Từ “ Thạc Sĩ ” trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp (agrégation). Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.

Luat Khoa Sai gon

Đại học Luật khoa Sài Gòn

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học:

Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).

Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặc Trường hay Trường Đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…).

Trong mỗi Phân khoa Đại học hay Trường Đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay).

Đại học sư phạm kỹ thuật Thủ Đức

Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật

Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.

Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồngviện đại học bách khoa.

Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.

Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam).

Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.

25-khach_vieng_truong_01

Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật

Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.

Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.

Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn

Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn

Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.

Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.

Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”.

Các viện đại học công lập:

Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.

Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.

Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.

Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục , Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên (tháng 3/1957-7/1957) Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm , bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965

Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục, Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên (tháng 3/1957-7/1957). Giữa Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm , bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965.

Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).

Các viện đại học tư thục:

Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.

Viện Đại học Đà lạt

Viện Đại học Đà lạt

Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.

Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973

Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973

Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.

Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.

Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn

Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn

Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài.

Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.

Các học viện và viện nghiên cứu:

Viện Pasteur Nha Trang

Viện Pasteur Nha Trang

Học Viện Quốc Gia Hành Chính: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận10, Sài Gòn.

Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.

Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.

Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.

Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.

Các trường đại học cộng đồng:

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.

Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.

Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:

Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật

Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật

Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tươngđương với cấp đại học.

Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.

Trường Cao đẳng Điện học

Trường Cao đẳng Điện học

Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.

Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia

Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia

Các trường nghệ thuật:

Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.

Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu Trần Thanh Tâm (đờn kìm) Phan Văn Nghị (đờn cò) Trương Văn Đệ (đờn tam) Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh)

Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).

Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.

Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).

Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60

Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60

Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954-1966).

Sinh viên du học ngoại quốc:

Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Trang trong sách Địa Lý lớp Ba

Trang trong sách Địa Lý lớp Ba

Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1967

Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]

Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba

Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba

Trang bìa cuối sách Địa Lý lớp Ba

Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.

Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.

KohoReader
Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức:

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.  Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères

Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.

Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt.

Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.

Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm). Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.

Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn

Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn

Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…


Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.

Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đời sống và tinh thần giáo chức:

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.

Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.

Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

Scan_Pic0046

Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm.

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

Chứng chỉ Tú Tài 1

Chứng chỉ Tú Tài 1

Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.

Chứng chỉ Tú tài 2

Chứng chỉ Tú Tài 2

Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:

Phan_Huy_Quat

Ông Phan Huy Quát

ĐÁNH GIÁ

hocba1950

Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950

Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:

Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.

Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” (Trích từ nguồn Blog Lý Toét )

Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 (tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]

Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:

Tôi là con của một cán bộ Việt Minh– tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc […] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…

Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:

Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách căn bản. Nhờ sự tự trị của đại học này, mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã tạo điều kiện miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.[107]

***

Saturday, April 7, 2018

Thương Quá Anh Lính Nghĩa Quân

 

Thương Quá Anh Lính Nghĩa Quân

- Truyện ngắn của Phạm Đào Nguyên

Photo:

 

https://youtu.be/pifwLE0EG70

 



Thương Quá Anh Lính Nghĩa Quân

Phạm Ðào Nguyên

Chuyến xe về Trung chật ních, người chất như nêm, dưới cái nắng gay gắt của tháng năm, mọi người nhễ nhại mồ hôi. Ngày 28-4, năm 1975, Tùng cùng với một số đồng đội tới được cuối đường tự do, đó là Sài gòn, Thủ đô Miền Nam nước Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng sau cái lệnh đầu hàng 30-4, mọi người bỏ cuộc. Bây giờ anh không còn cách chọn lựa, hoặc bung lựu đạn chết như mấy người lính độc thân hồi ở Nha Trang, hay trở về cùng vợ con. Tất cả ba mươi triệu đồng bào, và khoảng hai triệu quân, cán chính, thì có nghiã lý gì một tên nghĩa quân quèn như anh, Tùng nghĩ.

Từ quốc lộ I vào nhà khoảng 10 phút nhưng anh thấy xa vô cùng, bước chân nhẹ như đi trong gió, lòng nghĩ ngợi miên man, gia đình có xảy ra chuyện gì không? Vợ anh sinh chỉ được một tuần thì anh đi. Thằng bé cứ đưa hai tay lên qúa đầu, nên vợ anh cười nói, thằng bé này tên Dũng mà không dũng tí nào, hình như nó có khuynh hướng đầu hàng. Nếu chia đất thì anh vào Nam, anh dẫn theo một đứa, để nó hít thở không khí tự do, còn em ở lại nuôi con chờ tìm cơ hội, em sẽ dẫn con vào Nam gặp lại anh. Bây giờ em không thể đi được. Tùng nghe như nghẹn lời, anh đi bỏ lại đàng sau biết bao nhớ thương, trách nhiệm, nghiã tình. Anh trách mình không làm tròn bổn phận, trách nhiệm giữ nhà, giữ làng nên mới có ngày này. Lỗi tại anh.

Anh nghĩ lại năm 1954 người miền Bắc bỏ vào Nam như anh bây giờ, cứ mong một ngày về giải phóng, gặp lại gia đình, nhưng anh đi có trở lại không? Lệnh rút quân thì liên tục từ đơn vị này tới đơn vị khác. Tiếng chó sủa ở đầu xóm, cắt đứt giòng tư tưởng của anh, anh đã đi vào giữa hai hàng tre che mát. Sắp đến nhà, vào ngõ, con chó Mực chạy ra sủa mừng ăng ẳng, liếm tay anh, rồi nhãy cỡn lên khỏi đầu. Tùng vỗ nhẹ lên đầu con Mực, bước vội vào sân, vợ anh ngồi chờ sẵn ở đà cửa. Nàng không mừng, không cười như anh nghĩ, nàng im lặng nhìn anh.

– Có gì không em ? Anh lo cho vợ sinh còn yếu, chứ phần anh, kiến trong miệng chén có bò đi đâu. Anh chấp nhận số phận. Vừa bước vào hiên, anh thấy hai hàng nứơc mắt của Liên, vợ anh, chảy dài xuống má.

– Sao vậy em? Nàng nói trong nước mắt.

-Tại sao anh lại về, anh nói vùng bốn dễ gì mất, có ông Hưng, ông Nam gì đó, chắc chắn giữ miền Nam đến cùng. Em ở lại nuôi con, chờ anh, nếu anh chết là cùng, tại sao lại trở về. Nếu không chết thì trốn biệt trong Nam, thay họ đổi tên tìm cách làm ăn. Năm, mười năm sau nhắn tin để gặp nhau, anh về thì chỉ còn có cách đi tù, và không biết bao giờ trở lại.

– Mẹ, con út, và hai đứa nhỏ đâu?

– Mẹ qua đồng, cô Út đi làm công tác thanh niên. Từ ngày đó đến giờ chúng nó bắt út đi làm công tác liên miên, còn hai đứa nhỏ ngủ. Hôm 29-3 đến 5-4, chúng nó cột ba bốn ông cán bộ xã, ấp, trung trưởng nghiã quân, vào một dây. Bốn năm lùa như vậy, dẫn đi ngoài quốc lộ, thấy thật nản lòng. Thà là nó bắn chết thì không thảm bằng cột dắt đi, súng dí trước dí sau thấy mà tủi mà hận. Miệng thì nó nói “Hoà hợp hoà giải,” nhưng chúng nó khủng bố tinh thần mọi người.

– Nếu anh biết mất hết miền Nam, thì tại sao anh không dừng quân ở đồn, đánh một trận cuối cùng cho hết đạn, rồi chết đi. Hai mươi năm sau, em sẽ hãnh diện mà nói với con rằng, cha con chết ở ngày cuối cùng khi cọng sản chiếm quê mình, Liên nghẹn ngào. Thằng bé ngủ yên trên tay mẹ, nước mắt mẹ chợt rớt trên má con, nóng hổi làm nó thức giấc. Tùng vịn vai vợ an ủi, “Cả ba chục triệu người chứ có phải một vài người đâu, mà em lo quá.”

– Em không lo làm sao được, vì trước sau gì anh cũng phải đi tù. Anh tưởng về nhà là ở nhà với vợ với con, hay lại làm cho mẹ, em, cả nhà phải sống phập phồng lo sợ. Con thì có mẹ và em với bé Mai lo nuôi nấng dạy dỗ. Nó chưa xử bắn ai, nhưng chúng nó đánh lén, giết lén ban đêm. Liên khóc làm anh nát cả lòng, anh an ủi,

– Không có gì đâu mà em lo nhiều như vậy, vì Bắc Nam đều người Việt chứ có phải Tàu Tây gì mà sợ chứ. Để anh đến nhà ông thôn trưởng báo cáo là anh đã về. Buổi cơm chiều, mẹ anh, cô út Mai đi làm công tác cũng về, tất cả im lặng nôn nao lo sợ. Con anh, Minh lên năm tuổi và Trí ba tuổi, chúng nó chưa biết gì nên vòi vĩnh với ba. Tiếng Liên gắt con làm anh se lòng, nàng chưa bao giờ la con lớn tiếng, dù nó làm nhỏ, hay khóc nhè. Có lẽ Liên sợ qúa cho anh đêm nay, nên hể có tiếng động là nàng thót ruột, nước mắt chảy. Anh làm tất cả công việc nhà với Mai, rôì dẫn con đi tắm, để Liên khỏi thấy mặt anh mà nghĩ ngợi. Đêm xuống anh bồng cu Dũng vào lòng, nhìn nó thật lâu, nó giống anh nhiều nhất trong ba đứa cọn

Bóng đêm buông xuống, phủ trùm lo sợ trong lòng mọi người, không ai dám mở lời. Một tối im lặng, đáng sợ. Sau tối đội du kích thôn đến hỏi anh, và rồi nữa khuya công an và du kích xã vào nhà cật vấn. Anh bình tỉnh, ôn tồn trả lời tất cả câu hỏi hắc búa, và cuối cùng chúng nó dặn, sáng ngày mai anh ra xã trình diện.

Cả đêm anh buồn lo, đúng như vợ nghĩ, tại sao mình không trốn ở Cà mau, Đồng tháp mà sinh sống? Đêm thật dài với anh, anh nghĩ ngợi vu vơ, Liên nói đúng, anh vụng về trở về rồi biết tính sao đây? Về nhìn lại ba đưá con và mẹ già, rồi ra sao thì ra, bây giờ nước mất, thì nhà tan. Trăm mối tơ vò, ở Sài gòn anh không hề nghĩ tới ngày này. Khi đối diện với sự thật, cứ nghĩ có họ cùng mình, không lẽ nó giết hết hai triệu người sao? Nên anh về. Bây giờ ra đi, thì nó hành tội cả nhà, nó truy lùng khắp nơi thì gia đình khó khăn, và anh cũng khó trốn thoát được. Cứ lo nghĩ miên man cả đêm, mệt qúa anh liều, nên gần sáng anh cũng thiếp đi trong giấc ngủ muộn.

Tùng mới học xong tiểu học, anh phải ở nhà làm ruộng giúp mẹ nuôi hai em. Khi cha anh chết mẹ có bầu con út. Cha anh bị Việt cộng bắt ban đêm, đi mất không về lại, và không có một nấm mồ. Nhớ ngày bị bắt đi, làm ngày giỗ, mẹ anh vất vả nuôi con, nên anh tình nguyện ở nhà giúp mẹ nuôi em. Anh có nhìêu biệt tài, mà ăn khách nhất là nói chuyện rất có duyên. Nhất là cái miệng khi cười, hàm răng đều như bắp. Trúc, em kế học xong lớp 12, có tú đôi, đi lính Đà lạt, ra trường chọn binh chủng dù, mới gần hai năm sau ngày ra trường, anh thăng trung úy. Về làng, ai cũng khen anh trung úy trẻ đẹp trai, và hào hùng. Anh chưa có người tình, nhưng có lắm người thương. Anh chết ở Lào trận Lam sơn 719, không còn xác, không có một nấm mồ như cha anh. Mẹ anh khóc thảm thiết, và những người con gái quen biết anh, đều nhớ thương anh.

Còn Tùng đi lính giữ làng, để có cơ hội ở gần mẹ, gần vợ con. Anh cưới vợ trước khi đi lính. Mấy tháng sau anh lên tiểu đội trưởng, anh yêu làng quê của anh, anh đi làm lính đúng như câu giết giặc giữ nhà. Trung đội anh giữ đồn, hằng ngày cứ khoảng 10:00 giờ sáng, thì họ sắp xếp chia phiên nhau một toán ở lại giữ đồn, toán khác về nhà giúp gia đình và làm việc đồng án. Lương lính nghiã quân chỉ đủ một bữa tiệc. Chiều chiều vào khoảng 3:00-4:00 giờ anh lại chuẩn bị vào đồn. Thỉnh thoảng trung đội anh phối hợp với Địa phương quân trong vùng, đi hành quân có khi trong ngày hay lâu hơn vài ngày thì về. Một năm sau anh lên trung đội trưởng, lính của anh là anh em trong làng có ai xa lạ đâu, nên tính mạng cua anh là tính mạng của họ. Họ thương anh còn hơn ruột thịt. Với chiến lược, chiến thuật hành quân, từ lúc còn là tiểu đội trưởng, lính anh an toàn và luôn gặp may, họ giết giặc và lấy nhiều chiến lợi phẩm hơn ai hết.

Tuy ít học nhưng anh thích đọc sách, nhờ mớ sách của Trúc, thường thì sách Việt văn. Anh mê quyển Việt Nam Thi Văn Giảng Luận của Hà như Chi, anh mê Tam quốc Lã quan Trung, tiểu thuyết của Duyên Anh, kiếm hiệp Kim Dung. Năm 67 Mỹ đóng đồn ở núi Việt, anh đặt bài vè lục bát, dân trong làng ai cũng thuộc hát như một bài đồng giao:

Từ ngày Mỹ đến Phan Rang,
Chín hòn núi Việt Mỹ sang đóng đồn.
Để mà bình định nông thôn,
Mở vòng đai đến tiền đồn nỗng Mây.
Hầm rác Mỹ đổ tại đây,
Hằng ngày xe chở củi cây ván thùng
Đồ ăn của Mỹ dư dùng….

Tuy anh không được liệt kê trong danh sách các hổ tướng như những trung đội trưởng già : Nhất Qúy, nhì Nhân, tam Tân, tứ Phòng..v.v. giàu kinh nghiệm, khét tiếng làm cho cộng sản vỡ mật khi nghe danh, nhưng anh và cùng những người lính trẻ can cường, trung đội anh cũng làm cộng quân mất vía. Họ gan lì, can đảm chiến đấu, đúng với phương châm, ‘‘Chúng ta giết giặc giữ nhà, giữ làng.’’ Ngoài ra anh còn có tài ca hát, nên nhiều cô gái, dân làng thích anh mê anh qua giọng ca, tiếng hát nhất là cải lương. Mỗi lần anh trong đồn xuống giọng một câu là các cô im lặng để nghe, ngay cả bọn nằm vùng.

Chị Liên nhỏ hơn anh 5 tuổi, cũng xong lớp năm, chị có nước da trắng như dân Âu châu, không ai biết từ đâu vì gia đình chị đều da vàng. Chị mê anh Tùng hồi chị còn nhỏ, qua mấy câu vọng cổ. Chị giỏi giang hơn người. Từ ngày về làm dâu bác Thạnh, chị nhờ anh làm thêm mấy cái chái nuôi heo nái. Trên giàn chuồng heo chị nuôi thêm mấy bầy gà mái đẻ, còn nuôi thêm 10 con vịt để lấy trứng, hằng ngày vịt ra sông và chiều về. Ít nhất mỗi ngày chúng đẻ được 5, 6 trứng. Mảnh vườn hai sào phía sau nhà, được trồng rau lang nuôi heo, chị còn trồng dặm thêm cải, có khi đậu xanh. Một hàng chuối lùn quanh vườn sây trái, rũ cả cây. Phân heo bón trồng gì cũng tốt. Nhìn thấy vườn chị ai cũng khen.

Còn anh đi làm lính, anh làm tròn bổn phận của mình, chưa một lần thất trận, trận nào anh và trung đội anh luôn chiến đấu hào hùng. Đã bao lần chúng đánh đồn anh, chúng đều thất bại. Nhớ những cái tết năm 68, 72, là lần tụi Việt cộng chết bỏ xác lại rất nhiều. Tết 72, hôm ấy đồn chỉ có anh cùng mười người ở lại, anh chia một số anh em về cúng tổ tiên. Chiều xuống anh cho lính đặt mìm tự động, mìn bấm, và gài lựu đạn chung quanh đồn. Đến 12:00 giao thừa, chúng mò vào, chúng chết lủ khủ. Mặt mày thân hình đều bôi đen như hắc, còn tám tên không kéo được, vì xác vắt chặt trong bờ rào, máu me lai láng khắp nơi. Anh và mười người lính nằm yên chờ giặc, họ cầm chặt những quả lựu đạn chờ đợi. Những loạt súng máy xuyên qua lỗ chu mai tóe lửa, chập chờn như những làn sao xoẹt phất phơ trong trời đêm.

Nhờ có tài ca hát, nói chuyện có duyên nên không những nhiều cô gái mê anh, mà người lớn cũng thích anh, thương anh. Anh đứng đắn, vui tính, mọi người trong làng đều là họ hàng bà con xa gần năm bảy đời dính dấp. Anh vui vẻ, họ thương anh nên khi có Cộng về, thì thế nào sáng sớm các cô, các bà giả bộ đi chợ ghé ngang đồn, báo anh biết bằng ký hiệu, như tằng hắng, hay dở cái nón, làm dấu, rớt miếng trầu dặn dò anh.

Hằng năm Tết đến, trung đội anh thường tổ chức ca hát, có sự góp mặt các thanh thiếu niên trong làng, có cả những gia đình liên hệ với cộng sản. Văn nghệ và cúng tết do các anh tổ chức, bà con không những trong làng mà dân các nơi cũng đến coi rất đông. Có rất nhiều mạnh thường quân cho tiền trung đội anh ăn tết, mua sắm. Nhất là những màn kịch được bà con vừa coi, vừa khóc, vừa cho tiền làm phước. Năm nào trung đội anh cũng vui với dân chiến đấu, và họ đã thành công mỹ mãn.

Một trận đánh để đời của anh, và anh bị cật vấn, khủng bố liên tục cả tuần sau khi ở Sài gòn về. Khoảng cuối tháng giêng năm 75, đồn anh đóng chỉ có hai tiểu đội, một tiểu kia phải đi đóng chốt. Phận sự trung đội anh là chận trục giao liên của giặc cả vùng lớn, trước đây chỗ này nó đánh tiêu cả đại đội chủ lực. Thế mà giao cho anh, đã bị đánh nhiều lần, nhưng lần này chúng điều động cả tiểu đoàn muốn tiêu diệt toàn bộ, san bằng trung đội anh. Nhờ địa thế hiểm trở, nằm ngay giữa dốc, phía trên là bải cát trống rộng bao la, phía dưới là một ngôi làng nhỏ. Anh cũng đã có nhận tin từ nhân dân, và của tình báo nên anh phòng bị rất kỹ. Cứ đến tối là anh cho cài mìn dày mấy vòng từ xa đến gần. Anh luyện lính bắn 60 cải tiến, đợt này anh thành công lớn. Anh còn xin thêm lựu đạn về dự trữ, nếu chúng đông quá xông vào, thì anh em chỉ dùng lựu đạn tử chiến, và tử thủ.

Anh là một đàn anh gương mẫu và gan dạ, nên mấy chú lính trẻ khoái anh lắm. Họ vui vẻ kiên nhẫn chờ giặc đến. Và chúng nó đã đến. Những vòng đai lựu đạn, mìn tự động, mìn bấm liên tục nổ rền như khúc nhạc quân hành đang vang dậy cả một góc trời. Anh kêu pháo binh và máy bay chiến đấu đến yểm trợ. Hai chiếc chiến đấu cơ vần vũ trên bầu trời đen, vừa thả trái sáng, vừa bắn trên đồi cát trống, khi giặc cộng rút chạy. Anh kêu pháo binh bắn sát vòng đai hàng rào, anh đã chuẩn bị tọa độ sẵn sàng chờ dập địch. Trận chiến xãy ra từ mười hai giờ mười lăm phút (12:15) đến sáng. Tên nào bò vào thì lựu đạn đón chờ, chỉ có lựu đạn trị chúng là hữu hiệu mà thôi, thằng nào chạy ra thì có pháo binh và phi cơ oanh tạc. Chúng tiêu cả một tiểu đoàn bỏ xác tại trận có đến trăm tên.

Vừa bảy giờ sáng, ông Tỉnh trưởng đáp máy bay đến thị sát ngay tại mặt trận. Anh và lính không bị thương hay thiệt hại nặng, vài anh bị thương nhẹ như ù tai, tức ngực vì bom nổ gần, còn súng lớn súng nhỏ nằm la liệt. Ông Tỉnh trưởng làm lễ khen thưởng ngay tại mặt trận và gắn huy chương cho các chiến sĩ Nghĩa quân anh hùng. Tùng được huy chương và là chiến sĩ xuất sắc. Thôi thì dân, xã, ấp, quận đem cho heo, gà, tiền bạc khao quân linh đình, rộn ràng. Các trường trung tiểu học khắp nơi trong quận đến ủy lạo chiến sĩ. Những bài vè, bài ca chiến thắng, được dân đặt ra ca hát vang. Họ ca ngợi những chiến sĩ nghiã quân can trường, với những chiến công oanh liêt. Người dân ca tụng lan truyền từ làng trên xóm dưới. Mới mấy tháng trước đây, ôi tình nghiã, khí thế oai phong lẫm liệt, đơn vị nhỏ của anh nay còn đâu.

Sáng hôm sau, anh chưa đi ra xã thì có ngay một tên chính trị viên tiểu đoàn bại trận tới hỏi. Nó quần quật kết tội anh đã giết hàng mấy trăm chiến sĩ cách mạng trong nghề đánh giặc mướn của anh. Anh không chấp nhận tội giết người, anh tự vệ. Anh đóng đồn, làm người lính anh không thể để mất đồn, mất đồn chỉ có chết, cho nên muốn sống còn, anh và đồng đội chiến đấu hết mình để bảo vệ phần đất anh trách nhiệm. Anh không có tội. Thằng Trí khi nghe hai bên to tiếng thì khóc thét, nên chị Liên sai Mai dẫn về gởi bên nhà ngoại. Cho dù nó có giết anh, thì cũng còn mấy đứa con, chị nghĩ vậy.

Hơn 12 giờ trưa, càng nói tên chính trị viên nóng máu, anh cũng chẳng vừa, thì chị Liên tới mời ông cán bộ cùng dùng bưa cơm trưa với gia đình vì đã đến bữa. Chị ôn tồn chào mời cốt là giải vây những ức của chồng, vì ông ta và Tùng to tiếng. Tên chính trị viên từ chối, nó đi rồi, anh thở ra mệt mỏi bảo vợ, em và gia đình ăn cơm đi, anh thấy mệt. Anh ra võng nằm mà nghĩ, nếu bức lắm thì chết thôi, chỉ thương cho vợ con khổ sở. Cơn gió thoảng làm anh mát lòng, anh thiu thiu ngủ thì tên chính trị viên trở lại. Nó quần vũ anh mãi tới chiều. Anh mệt ngầm cảm thấy đắng miệng, anh nói:

– “Chúng tôi thắng là nhờ phi cơ và pháo binh yểm trợ kịp thời, còn thật ra chúng tôi chỉ nằm yên cố thủ giữ đồn mà thôi.”

Anh nói tiếp

– Hôm nay tôi cảm thấy mệt hơn trận đánh hôm đó, mặc dầu hôm đó tôi đương đầu với cái chết. Ra chiến trường, tôi không giết anh thì anh giết tôi, không ai chối chạy điều đó được, và anh cũng vậy. Tôi sinh ra và lớn lên ở đây, tự nhiên tôi phải làm sứ mạng của tôi, là đi lính giữ làng. Còn anh từ đâu tới tìm tôi để giết, thì tôi phải đánh, rồi ai chết mặc ai?

Những bài hát đồng giao lan truyền trong dân gian, ca ngợi chiến công lẫy lừng của anh, càng làm anh thêm nặng tội. Năm ngày liên tục, ngày nào cũng có hết người này tới người nọ tới khủng bố, mệt mỏi, ban đêm anh phải đi ngủ ở những nhà quen. Ngày thứ năm người cán bộ chính trị lại đến nữa, anh dõng dạt tuyên bố,

– “Tôi sống ở miền Nam, tôi phục vụ chính nghĩa tự do, tôi có trách nhiệm với tôi, gia đình tôi và lý tưởng của tôi, cũng như các anh phục vụ lý tưởng của anh. Hôm nay tôi là người chiến bại, nếu các anh cho là tôi có tội, thì hãy đem ra sân bắn, để gia đình vợ con tôi chôn, còn không, các anh hãy để yên cho tôi sống với gia đình ít ngày rồi tôi đi tù. Tôi mệt mỏi lắm rồi, không muốn tranh luận ai được ai thua, ai có tội hay không có tội nữa”.

Anh ở nhà được một tuần thì đi tù. Sau 8 năm tù, tháng ba năm 83 anh được tha. Ở nhà vợ và mẹ anh đã làm thêm căn nhà ngang bằng ngói, vật liệu anh sắm sẳn từ trước. Hai phòng lồi cho Trí Dũng, Mai và Minh. Hai phòng trong, một cho Liên và một cho mẹ anh, nhưng mẹ thường ngủ nhà trên bên bàn thờ cha. Anh về, ngày đầu anh ngỡ ngàng, con anh cũng ngỡ ngàng. Thằng cu Dũng lúc đầu nó ôm anh, thương anh, quấn quít, nhưng đến chiều vài người hàng xóm, chọc ghẹo nó rằng:

– Tên này vừa đen, vưà ốm, vừa già mày coi trong hình có giống ba mày không? Hay là tên CS vào dụ dỗ mẹ mày để kiếm cơm đó. Thằng bé đâm ra nghi ngờ, tới bữa ăn nó nhìn anh chằm chặp, anh bỏ thức ăn vào chén, nó gắp bỏ ra. Anh hỏi:

-Sao con không ăn?

– Ông không phải ba tôi, ông đến dụ dỗ mẹ tôi thôi. Ban đêm anh vào buồng, thì nó kéo anh ra, rôì khóc thét lên, la lớn là, “Ông đến dỗ mẹ tôi.” Nó đem hình ba nó ngày xưa và ông bây giờ ra so, không giống. Nó khóc, anh ôm nó vào lòng khóc theo, nó vùng vẫy. Anh thương nó, thương anh vô cùng, con không nhìn được cha, tủi cho anh, buồn cho con. Anh thương anh, thương con vô vàn. Thấy anh khóc, Minh, Trí la em, nhưng cu Dũng nói,

– Bác Ba nói, “Ông ấy” tức Tùng cho bánh, cho kẹo anh chị, nên anh chị nhìn ông là ba, chứ thật ra ông không phải ba mình đâu.

Bà nội bảo là ba nó đấy, nó cũng không chịu tin, nó vẫn còn khóc nên anh ra ngoài phãn ngủ một mình. Nó nhất định ngủ bên mẹ, giữ mẹ không cho ông ấy vào buồng. Anh nghĩ ngợi cả đêm, làm sao anh có thể nói hết với con. Nó nào biết anh đi tù, chỉ có mình bé Minh biết vì lúc đó nó đã năm tuổi, và đã vài lần theo mẹ thăm anh. Ngay cả cu Trí cũng không biết anh đi đâu, phong phanh nghe mẹ kể ba đi tù, vì ngày xưa ba là lính Ngụy. Nó không hề biết Ngụy là gì, nhưng nó không hỏi. Nó yên lặng chứ không hung hăng như Dũng. Từ đó anh làm việc và yên lặng không tỏ thân mật với vợ trước mặt con.

Nói với nó thế nào? Giải thích làm sao? Anh đã đi đâu 8 năm bây giờ mới xuất hiện, anh buồn vô cùng. Đêm hôm sau, mẹ anh dụ cu Dũng ngủ với nội nhà trên, bà cho bánh nó, nhưng khi sực nhớ tới mẹ nó và ông khách lạ, nó vùng dậy chạy phăng phăng đi giữ mẹ. Ai nghe qua, hay nhìn cảnh ấy thì cười, nhưng riêng anh thì rất buồn, người xót xa nhứt là anh. Anh nghe lòng quặn đau. Ai hiểu nỗi lòng anh bây giờ, anh thương mình, thương con vô cùng vì con không nhận được cha. Một đoạn lịch sử làm đau lòng đứa bé, làm nó hồ nghi?

Anh nghĩ, từ sau năm 54, miền Nam giàu có, trù phú, có chính phủ với lực lượng quân đội hùng mạnh, nếu mọi người dân từ đàn bà đàn ông đều có trách nhiệm với bản thân mình, với tổ quốc mình, và với tự do mình có được, thì làm sao ta mất nước. Anh là một tên lính chỉ biết chiến đấu, tuân lịnh nhưng rốt cuộc đàn anh đâu, người chỉ huy anh đâu? Họ làm gì, họ có đáng để cho anh tuân lịnh không? Anh cứ nghĩ gia đình anh vẫn sống một đời thanh bạch bên ruộng lúa nương khoai. Dù ngay cả khi Mỹ đến đóng quân gần nhà. Gia đình anh sống hiền hoà với nếp sống cũ, có ai chết đói đâu? Từ năm 1954 trở về sau, đời sống người dân đi lên, từ khá lên giàu… nhưng bây giờ tang tóc, trở về tận cùng của nghèo khó.

Ý nghĩ anh rất đơn giản, nếu mọi người công dân đều có trách nhiệm với tổ quốc thì làm sao mất nước. Tại sao Đài Loan, Đại Hàn họ giữ được phần đất nhỏ của họ, được tự do hạnh phúc. Có lần anh được đi Đài Loan ba tháng, người dân ở đó họ tự trọng, kỹ luật anh thấy mà mê. Ước gì quê mình mọi người ý thức được như vậy! Tiếc thay cơ cấu chính quyền tham ô, bản thân cấp lãnh đạo thì thân không tu, gia không tề, mà cứ lo tính chuyện trị quốc bình thiên hạ, nên cớ sự mới thế nầy. Đảo chánh, tranh dành lãnh đạo, mà bản thân lại không đủ khả năng lãnh đạo mới làm khổ 30 triệu dân. Vừa tủi thân anh, thẹn với mình, với con, với đất nước, với những người đã chết, đã hy sinh, anh vẫn nhớ những chiến sĩ Nghĩa quân ở trong trại tù, vẫn anh dũng, vẫn khí tiết trước quân thù. Như anh Phan Dế, Ðồng Phước Hoàng, Phạm Mau, Vũ thái Quỳnh, Phan Hữu Trai, đã hào hùng khí khái chống đối. Tôi hãnh diện được làm bạn với các anh, cùng được chung binh chủng Nghiã quân anh hùng với các anh. Xin nghiêng mình kính cẩn chào vĩnh biệt các anh!

Dù quên tên anh nhưng hình ảnh hào hùng của anh vẫn hiện ra thật rõ, nhớ buổi trưa hôm đó, anh đã khí khái chỉ tay vào mặt tên gác cổng, la lớn, “ Mày, tên cộng sản làm gì mà đứng đó, mày xuống mau không, tao không tha cho mày đâu, quân khát máu.” Bạn bè thương mến anh, ôm anh, đồng đội chạy theo anh thật đông, nên nó không bắn được anh. Anh đã hiên ngang can trường, không dễ gì có được so với hạng người thiếu tư cách, quy lụy ngay cả là kẻ không ở trong tù. Có người cho anh là thất phu, võ biền, nhưng với tôi, anh là một anh hùng, không cần sống trong nô lệ, xiềng cùm. Các anh chống cộng không vì miếng đỉnh chung, vì lòng yêu nước các anh có thừa, và lòng tự trọng của anh rất cao. Một chắp tay, một cái cúi đầu ngưỡng mộ, và xin được chia sớt phần hãnh diện với các anh. Những anh hùng vô danh cho tự do, dân chủ.

Tùng thương mình, thương vợ, thương con vô cùng. Người đàn bà quê mùa mộc mạc ấy, đã đi bên cạnh anh và đã hy sinh cho anh bao tháng năm dài. Nàng nuôi nấng dạy dỗ con cái, chờ đợi héo hon để lo cho anh trong tù, không một lời than oán. Dần dà cu Dũng cũng nhận anh là cha, vì từ nó đi học về, thấy bên nội bên ngoại mang quà bánh tới mừng cho ba nó. Ngày nào anh cũng có khách đến thăm, bà con bạn bè cũ, rồi nó nhìn thấy anh phải đi trình diện công an. Chiều đến anh dẫn anh em Trí, Dũng đi đá banh, đi tắm, tối coi bài cho con học, anh kể chuyện kiếm hiệp cho con nghe. Anh hát cải lương, kể chuyện cổ tích, rồi nó mê anh, và chấp nhận anh. Hôm nay anh ôm hai con vào lòng mà hôn, mà thương. Anh nằm giữa, hai đứa bé nằm hai bên anh nghe anh kể chuyện tù, những cơ cực thảm thương của người dân mất nước, mất tự do. Dũng ôm anh hôn, anh hạnh phúc tràn trề, vì anh còn có một gia đình, anh mãn nguyện vô cùng.

Với con, anh là một người cha có bản lĩnh đem tình thương để cảm hóa, và chinh phục con cái, dẫn dắt con vào bờ yêu thương, với vợ anh là người chồng gương mẫu để vợ kính yêu, và với mẹ, anh là người con chí hiếu. Anh là một người đàn ông có khả năng, có bản lĩnh lèo lái một gia đình trong lúc ngả nghiêng, tan tóc, dù anh chỉ xong bậc tiểu học. Với gia đình, tổ quốc anh không thẹn với lòng.

Gần hơn tháng nay, bây giờ chờ cho con ngủ xong, anh vào với vợ, anh ôm vợ vào lòng mà khóc, mà thương. Anh biết nỗi lòng chờ đợi của vợ anh gần chín năm dài. Ngày xưa vợ chồng chung chăn thì vui, bây giờ anh lại khóc. Ân tình của vợ anh đơn thuần, giản dị quá, nhưng đủ thương yêu trọng tình nghiã vợ chồng. Chị vừa thương, vừa mê và qúy trọng chồng.

– Mẹ chồng, nàng dâu, em chồng như ruột thịt, trong ấm ngoài êm, anh cảm ơn em. Ngoài chút tình thương yêu em, anh còn biết ơn em nhiều lắm, Liên ơi. Tên em là Liên, em một đóa sen qúy nhất trong lòng anh, mà anh đã yêu thương tự thuở nào.

Sau hơn tám năm không gối chăn, không vợ chồng, anh ôm vợ vào lòng mà hôn. Rồi tiếng rên khe khẻ của vợ, và tiếng anh thiết tha gọi vợ, nho nhỏ hai tiếng “mình ơi.” Ngoài kia, gió xuân nhẹ hôn lên cành lá, như chúng đang thì thầm chuyện ái ân của vợ chồng anh. Anh nói khẻ vào tai vợ anh mượn câu thơ của cụ Tản Đà nói với bóng để tặng em đêm nay, “mình với ta tuy hai mà một ta với mình tuy một mà hai.: Anh thương anh và thương em vô cùng, chúng ta là nạn nhân của một cơ chế khủng bố mà chẳng ai dám nói.

– Quảng đời còn lại anh sẽ dành tình thương yêu và chung vai gánh vác với em, chúng mình bên nhau để lo lắng cho con. Nhìn lại, anh còn hạnh phúc hơn nhiều người, anh còn có một gia đình ấm êm. Và cũng từ đó anh gọi vợ bằng ‘Mình.’ ‘Mình ơi,’ dù hai tiếng mình ơi đã xa xưa thuộc về cổ ngữ nhưng nó êm đềm và ấm áp làm sao, phải không em... phải không Liên?


Phạm Ðào Nguyên