Showing posts with label Người Lính VNCH. Show all posts
Showing posts with label Người Lính VNCH. Show all posts

Saturday, April 7, 2018

Thương Quá Anh Lính Nghĩa Quân

 

Thương Quá Anh Lính Nghĩa Quân

- Truyện ngắn của Phạm Đào Nguyên

Photo:

 

https://youtu.be/pifwLE0EG70

 



Thương Quá Anh Lính Nghĩa Quân

Phạm Ðào Nguyên

Chuyến xe về Trung chật ních, người chất như nêm, dưới cái nắng gay gắt của tháng năm, mọi người nhễ nhại mồ hôi. Ngày 28-4, năm 1975, Tùng cùng với một số đồng đội tới được cuối đường tự do, đó là Sài gòn, Thủ đô Miền Nam nước Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng sau cái lệnh đầu hàng 30-4, mọi người bỏ cuộc. Bây giờ anh không còn cách chọn lựa, hoặc bung lựu đạn chết như mấy người lính độc thân hồi ở Nha Trang, hay trở về cùng vợ con. Tất cả ba mươi triệu đồng bào, và khoảng hai triệu quân, cán chính, thì có nghiã lý gì một tên nghĩa quân quèn như anh, Tùng nghĩ.

Từ quốc lộ I vào nhà khoảng 10 phút nhưng anh thấy xa vô cùng, bước chân nhẹ như đi trong gió, lòng nghĩ ngợi miên man, gia đình có xảy ra chuyện gì không? Vợ anh sinh chỉ được một tuần thì anh đi. Thằng bé cứ đưa hai tay lên qúa đầu, nên vợ anh cười nói, thằng bé này tên Dũng mà không dũng tí nào, hình như nó có khuynh hướng đầu hàng. Nếu chia đất thì anh vào Nam, anh dẫn theo một đứa, để nó hít thở không khí tự do, còn em ở lại nuôi con chờ tìm cơ hội, em sẽ dẫn con vào Nam gặp lại anh. Bây giờ em không thể đi được. Tùng nghe như nghẹn lời, anh đi bỏ lại đàng sau biết bao nhớ thương, trách nhiệm, nghiã tình. Anh trách mình không làm tròn bổn phận, trách nhiệm giữ nhà, giữ làng nên mới có ngày này. Lỗi tại anh.

Anh nghĩ lại năm 1954 người miền Bắc bỏ vào Nam như anh bây giờ, cứ mong một ngày về giải phóng, gặp lại gia đình, nhưng anh đi có trở lại không? Lệnh rút quân thì liên tục từ đơn vị này tới đơn vị khác. Tiếng chó sủa ở đầu xóm, cắt đứt giòng tư tưởng của anh, anh đã đi vào giữa hai hàng tre che mát. Sắp đến nhà, vào ngõ, con chó Mực chạy ra sủa mừng ăng ẳng, liếm tay anh, rồi nhãy cỡn lên khỏi đầu. Tùng vỗ nhẹ lên đầu con Mực, bước vội vào sân, vợ anh ngồi chờ sẵn ở đà cửa. Nàng không mừng, không cười như anh nghĩ, nàng im lặng nhìn anh.

– Có gì không em ? Anh lo cho vợ sinh còn yếu, chứ phần anh, kiến trong miệng chén có bò đi đâu. Anh chấp nhận số phận. Vừa bước vào hiên, anh thấy hai hàng nứơc mắt của Liên, vợ anh, chảy dài xuống má.

– Sao vậy em? Nàng nói trong nước mắt.

-Tại sao anh lại về, anh nói vùng bốn dễ gì mất, có ông Hưng, ông Nam gì đó, chắc chắn giữ miền Nam đến cùng. Em ở lại nuôi con, chờ anh, nếu anh chết là cùng, tại sao lại trở về. Nếu không chết thì trốn biệt trong Nam, thay họ đổi tên tìm cách làm ăn. Năm, mười năm sau nhắn tin để gặp nhau, anh về thì chỉ còn có cách đi tù, và không biết bao giờ trở lại.

– Mẹ, con út, và hai đứa nhỏ đâu?

– Mẹ qua đồng, cô Út đi làm công tác thanh niên. Từ ngày đó đến giờ chúng nó bắt út đi làm công tác liên miên, còn hai đứa nhỏ ngủ. Hôm 29-3 đến 5-4, chúng nó cột ba bốn ông cán bộ xã, ấp, trung trưởng nghiã quân, vào một dây. Bốn năm lùa như vậy, dẫn đi ngoài quốc lộ, thấy thật nản lòng. Thà là nó bắn chết thì không thảm bằng cột dắt đi, súng dí trước dí sau thấy mà tủi mà hận. Miệng thì nó nói “Hoà hợp hoà giải,” nhưng chúng nó khủng bố tinh thần mọi người.

– Nếu anh biết mất hết miền Nam, thì tại sao anh không dừng quân ở đồn, đánh một trận cuối cùng cho hết đạn, rồi chết đi. Hai mươi năm sau, em sẽ hãnh diện mà nói với con rằng, cha con chết ở ngày cuối cùng khi cọng sản chiếm quê mình, Liên nghẹn ngào. Thằng bé ngủ yên trên tay mẹ, nước mắt mẹ chợt rớt trên má con, nóng hổi làm nó thức giấc. Tùng vịn vai vợ an ủi, “Cả ba chục triệu người chứ có phải một vài người đâu, mà em lo quá.”

– Em không lo làm sao được, vì trước sau gì anh cũng phải đi tù. Anh tưởng về nhà là ở nhà với vợ với con, hay lại làm cho mẹ, em, cả nhà phải sống phập phồng lo sợ. Con thì có mẹ và em với bé Mai lo nuôi nấng dạy dỗ. Nó chưa xử bắn ai, nhưng chúng nó đánh lén, giết lén ban đêm. Liên khóc làm anh nát cả lòng, anh an ủi,

– Không có gì đâu mà em lo nhiều như vậy, vì Bắc Nam đều người Việt chứ có phải Tàu Tây gì mà sợ chứ. Để anh đến nhà ông thôn trưởng báo cáo là anh đã về. Buổi cơm chiều, mẹ anh, cô út Mai đi làm công tác cũng về, tất cả im lặng nôn nao lo sợ. Con anh, Minh lên năm tuổi và Trí ba tuổi, chúng nó chưa biết gì nên vòi vĩnh với ba. Tiếng Liên gắt con làm anh se lòng, nàng chưa bao giờ la con lớn tiếng, dù nó làm nhỏ, hay khóc nhè. Có lẽ Liên sợ qúa cho anh đêm nay, nên hể có tiếng động là nàng thót ruột, nước mắt chảy. Anh làm tất cả công việc nhà với Mai, rôì dẫn con đi tắm, để Liên khỏi thấy mặt anh mà nghĩ ngợi. Đêm xuống anh bồng cu Dũng vào lòng, nhìn nó thật lâu, nó giống anh nhiều nhất trong ba đứa cọn

Bóng đêm buông xuống, phủ trùm lo sợ trong lòng mọi người, không ai dám mở lời. Một tối im lặng, đáng sợ. Sau tối đội du kích thôn đến hỏi anh, và rồi nữa khuya công an và du kích xã vào nhà cật vấn. Anh bình tỉnh, ôn tồn trả lời tất cả câu hỏi hắc búa, và cuối cùng chúng nó dặn, sáng ngày mai anh ra xã trình diện.

Cả đêm anh buồn lo, đúng như vợ nghĩ, tại sao mình không trốn ở Cà mau, Đồng tháp mà sinh sống? Đêm thật dài với anh, anh nghĩ ngợi vu vơ, Liên nói đúng, anh vụng về trở về rồi biết tính sao đây? Về nhìn lại ba đưá con và mẹ già, rồi ra sao thì ra, bây giờ nước mất, thì nhà tan. Trăm mối tơ vò, ở Sài gòn anh không hề nghĩ tới ngày này. Khi đối diện với sự thật, cứ nghĩ có họ cùng mình, không lẽ nó giết hết hai triệu người sao? Nên anh về. Bây giờ ra đi, thì nó hành tội cả nhà, nó truy lùng khắp nơi thì gia đình khó khăn, và anh cũng khó trốn thoát được. Cứ lo nghĩ miên man cả đêm, mệt qúa anh liều, nên gần sáng anh cũng thiếp đi trong giấc ngủ muộn.

Tùng mới học xong tiểu học, anh phải ở nhà làm ruộng giúp mẹ nuôi hai em. Khi cha anh chết mẹ có bầu con út. Cha anh bị Việt cộng bắt ban đêm, đi mất không về lại, và không có một nấm mồ. Nhớ ngày bị bắt đi, làm ngày giỗ, mẹ anh vất vả nuôi con, nên anh tình nguyện ở nhà giúp mẹ nuôi em. Anh có nhìêu biệt tài, mà ăn khách nhất là nói chuyện rất có duyên. Nhất là cái miệng khi cười, hàm răng đều như bắp. Trúc, em kế học xong lớp 12, có tú đôi, đi lính Đà lạt, ra trường chọn binh chủng dù, mới gần hai năm sau ngày ra trường, anh thăng trung úy. Về làng, ai cũng khen anh trung úy trẻ đẹp trai, và hào hùng. Anh chưa có người tình, nhưng có lắm người thương. Anh chết ở Lào trận Lam sơn 719, không còn xác, không có một nấm mồ như cha anh. Mẹ anh khóc thảm thiết, và những người con gái quen biết anh, đều nhớ thương anh.

Còn Tùng đi lính giữ làng, để có cơ hội ở gần mẹ, gần vợ con. Anh cưới vợ trước khi đi lính. Mấy tháng sau anh lên tiểu đội trưởng, anh yêu làng quê của anh, anh đi làm lính đúng như câu giết giặc giữ nhà. Trung đội anh giữ đồn, hằng ngày cứ khoảng 10:00 giờ sáng, thì họ sắp xếp chia phiên nhau một toán ở lại giữ đồn, toán khác về nhà giúp gia đình và làm việc đồng án. Lương lính nghiã quân chỉ đủ một bữa tiệc. Chiều chiều vào khoảng 3:00-4:00 giờ anh lại chuẩn bị vào đồn. Thỉnh thoảng trung đội anh phối hợp với Địa phương quân trong vùng, đi hành quân có khi trong ngày hay lâu hơn vài ngày thì về. Một năm sau anh lên trung đội trưởng, lính của anh là anh em trong làng có ai xa lạ đâu, nên tính mạng cua anh là tính mạng của họ. Họ thương anh còn hơn ruột thịt. Với chiến lược, chiến thuật hành quân, từ lúc còn là tiểu đội trưởng, lính anh an toàn và luôn gặp may, họ giết giặc và lấy nhiều chiến lợi phẩm hơn ai hết.

Tuy ít học nhưng anh thích đọc sách, nhờ mớ sách của Trúc, thường thì sách Việt văn. Anh mê quyển Việt Nam Thi Văn Giảng Luận của Hà như Chi, anh mê Tam quốc Lã quan Trung, tiểu thuyết của Duyên Anh, kiếm hiệp Kim Dung. Năm 67 Mỹ đóng đồn ở núi Việt, anh đặt bài vè lục bát, dân trong làng ai cũng thuộc hát như một bài đồng giao:

Từ ngày Mỹ đến Phan Rang,
Chín hòn núi Việt Mỹ sang đóng đồn.
Để mà bình định nông thôn,
Mở vòng đai đến tiền đồn nỗng Mây.
Hầm rác Mỹ đổ tại đây,
Hằng ngày xe chở củi cây ván thùng
Đồ ăn của Mỹ dư dùng….

Tuy anh không được liệt kê trong danh sách các hổ tướng như những trung đội trưởng già : Nhất Qúy, nhì Nhân, tam Tân, tứ Phòng..v.v. giàu kinh nghiệm, khét tiếng làm cho cộng sản vỡ mật khi nghe danh, nhưng anh và cùng những người lính trẻ can cường, trung đội anh cũng làm cộng quân mất vía. Họ gan lì, can đảm chiến đấu, đúng với phương châm, ‘‘Chúng ta giết giặc giữ nhà, giữ làng.’’ Ngoài ra anh còn có tài ca hát, nên nhiều cô gái, dân làng thích anh mê anh qua giọng ca, tiếng hát nhất là cải lương. Mỗi lần anh trong đồn xuống giọng một câu là các cô im lặng để nghe, ngay cả bọn nằm vùng.

Chị Liên nhỏ hơn anh 5 tuổi, cũng xong lớp năm, chị có nước da trắng như dân Âu châu, không ai biết từ đâu vì gia đình chị đều da vàng. Chị mê anh Tùng hồi chị còn nhỏ, qua mấy câu vọng cổ. Chị giỏi giang hơn người. Từ ngày về làm dâu bác Thạnh, chị nhờ anh làm thêm mấy cái chái nuôi heo nái. Trên giàn chuồng heo chị nuôi thêm mấy bầy gà mái đẻ, còn nuôi thêm 10 con vịt để lấy trứng, hằng ngày vịt ra sông và chiều về. Ít nhất mỗi ngày chúng đẻ được 5, 6 trứng. Mảnh vườn hai sào phía sau nhà, được trồng rau lang nuôi heo, chị còn trồng dặm thêm cải, có khi đậu xanh. Một hàng chuối lùn quanh vườn sây trái, rũ cả cây. Phân heo bón trồng gì cũng tốt. Nhìn thấy vườn chị ai cũng khen.

Còn anh đi làm lính, anh làm tròn bổn phận của mình, chưa một lần thất trận, trận nào anh và trung đội anh luôn chiến đấu hào hùng. Đã bao lần chúng đánh đồn anh, chúng đều thất bại. Nhớ những cái tết năm 68, 72, là lần tụi Việt cộng chết bỏ xác lại rất nhiều. Tết 72, hôm ấy đồn chỉ có anh cùng mười người ở lại, anh chia một số anh em về cúng tổ tiên. Chiều xuống anh cho lính đặt mìm tự động, mìn bấm, và gài lựu đạn chung quanh đồn. Đến 12:00 giao thừa, chúng mò vào, chúng chết lủ khủ. Mặt mày thân hình đều bôi đen như hắc, còn tám tên không kéo được, vì xác vắt chặt trong bờ rào, máu me lai láng khắp nơi. Anh và mười người lính nằm yên chờ giặc, họ cầm chặt những quả lựu đạn chờ đợi. Những loạt súng máy xuyên qua lỗ chu mai tóe lửa, chập chờn như những làn sao xoẹt phất phơ trong trời đêm.

Nhờ có tài ca hát, nói chuyện có duyên nên không những nhiều cô gái mê anh, mà người lớn cũng thích anh, thương anh. Anh đứng đắn, vui tính, mọi người trong làng đều là họ hàng bà con xa gần năm bảy đời dính dấp. Anh vui vẻ, họ thương anh nên khi có Cộng về, thì thế nào sáng sớm các cô, các bà giả bộ đi chợ ghé ngang đồn, báo anh biết bằng ký hiệu, như tằng hắng, hay dở cái nón, làm dấu, rớt miếng trầu dặn dò anh.

Hằng năm Tết đến, trung đội anh thường tổ chức ca hát, có sự góp mặt các thanh thiếu niên trong làng, có cả những gia đình liên hệ với cộng sản. Văn nghệ và cúng tết do các anh tổ chức, bà con không những trong làng mà dân các nơi cũng đến coi rất đông. Có rất nhiều mạnh thường quân cho tiền trung đội anh ăn tết, mua sắm. Nhất là những màn kịch được bà con vừa coi, vừa khóc, vừa cho tiền làm phước. Năm nào trung đội anh cũng vui với dân chiến đấu, và họ đã thành công mỹ mãn.

Một trận đánh để đời của anh, và anh bị cật vấn, khủng bố liên tục cả tuần sau khi ở Sài gòn về. Khoảng cuối tháng giêng năm 75, đồn anh đóng chỉ có hai tiểu đội, một tiểu kia phải đi đóng chốt. Phận sự trung đội anh là chận trục giao liên của giặc cả vùng lớn, trước đây chỗ này nó đánh tiêu cả đại đội chủ lực. Thế mà giao cho anh, đã bị đánh nhiều lần, nhưng lần này chúng điều động cả tiểu đoàn muốn tiêu diệt toàn bộ, san bằng trung đội anh. Nhờ địa thế hiểm trở, nằm ngay giữa dốc, phía trên là bải cát trống rộng bao la, phía dưới là một ngôi làng nhỏ. Anh cũng đã có nhận tin từ nhân dân, và của tình báo nên anh phòng bị rất kỹ. Cứ đến tối là anh cho cài mìn dày mấy vòng từ xa đến gần. Anh luyện lính bắn 60 cải tiến, đợt này anh thành công lớn. Anh còn xin thêm lựu đạn về dự trữ, nếu chúng đông quá xông vào, thì anh em chỉ dùng lựu đạn tử chiến, và tử thủ.

Anh là một đàn anh gương mẫu và gan dạ, nên mấy chú lính trẻ khoái anh lắm. Họ vui vẻ kiên nhẫn chờ giặc đến. Và chúng nó đã đến. Những vòng đai lựu đạn, mìn tự động, mìn bấm liên tục nổ rền như khúc nhạc quân hành đang vang dậy cả một góc trời. Anh kêu pháo binh và máy bay chiến đấu đến yểm trợ. Hai chiếc chiến đấu cơ vần vũ trên bầu trời đen, vừa thả trái sáng, vừa bắn trên đồi cát trống, khi giặc cộng rút chạy. Anh kêu pháo binh bắn sát vòng đai hàng rào, anh đã chuẩn bị tọa độ sẵn sàng chờ dập địch. Trận chiến xãy ra từ mười hai giờ mười lăm phút (12:15) đến sáng. Tên nào bò vào thì lựu đạn đón chờ, chỉ có lựu đạn trị chúng là hữu hiệu mà thôi, thằng nào chạy ra thì có pháo binh và phi cơ oanh tạc. Chúng tiêu cả một tiểu đoàn bỏ xác tại trận có đến trăm tên.

Vừa bảy giờ sáng, ông Tỉnh trưởng đáp máy bay đến thị sát ngay tại mặt trận. Anh và lính không bị thương hay thiệt hại nặng, vài anh bị thương nhẹ như ù tai, tức ngực vì bom nổ gần, còn súng lớn súng nhỏ nằm la liệt. Ông Tỉnh trưởng làm lễ khen thưởng ngay tại mặt trận và gắn huy chương cho các chiến sĩ Nghĩa quân anh hùng. Tùng được huy chương và là chiến sĩ xuất sắc. Thôi thì dân, xã, ấp, quận đem cho heo, gà, tiền bạc khao quân linh đình, rộn ràng. Các trường trung tiểu học khắp nơi trong quận đến ủy lạo chiến sĩ. Những bài vè, bài ca chiến thắng, được dân đặt ra ca hát vang. Họ ca ngợi những chiến sĩ nghiã quân can trường, với những chiến công oanh liêt. Người dân ca tụng lan truyền từ làng trên xóm dưới. Mới mấy tháng trước đây, ôi tình nghiã, khí thế oai phong lẫm liệt, đơn vị nhỏ của anh nay còn đâu.

Sáng hôm sau, anh chưa đi ra xã thì có ngay một tên chính trị viên tiểu đoàn bại trận tới hỏi. Nó quần quật kết tội anh đã giết hàng mấy trăm chiến sĩ cách mạng trong nghề đánh giặc mướn của anh. Anh không chấp nhận tội giết người, anh tự vệ. Anh đóng đồn, làm người lính anh không thể để mất đồn, mất đồn chỉ có chết, cho nên muốn sống còn, anh và đồng đội chiến đấu hết mình để bảo vệ phần đất anh trách nhiệm. Anh không có tội. Thằng Trí khi nghe hai bên to tiếng thì khóc thét, nên chị Liên sai Mai dẫn về gởi bên nhà ngoại. Cho dù nó có giết anh, thì cũng còn mấy đứa con, chị nghĩ vậy.

Hơn 12 giờ trưa, càng nói tên chính trị viên nóng máu, anh cũng chẳng vừa, thì chị Liên tới mời ông cán bộ cùng dùng bưa cơm trưa với gia đình vì đã đến bữa. Chị ôn tồn chào mời cốt là giải vây những ức của chồng, vì ông ta và Tùng to tiếng. Tên chính trị viên từ chối, nó đi rồi, anh thở ra mệt mỏi bảo vợ, em và gia đình ăn cơm đi, anh thấy mệt. Anh ra võng nằm mà nghĩ, nếu bức lắm thì chết thôi, chỉ thương cho vợ con khổ sở. Cơn gió thoảng làm anh mát lòng, anh thiu thiu ngủ thì tên chính trị viên trở lại. Nó quần vũ anh mãi tới chiều. Anh mệt ngầm cảm thấy đắng miệng, anh nói:

– “Chúng tôi thắng là nhờ phi cơ và pháo binh yểm trợ kịp thời, còn thật ra chúng tôi chỉ nằm yên cố thủ giữ đồn mà thôi.”

Anh nói tiếp

– Hôm nay tôi cảm thấy mệt hơn trận đánh hôm đó, mặc dầu hôm đó tôi đương đầu với cái chết. Ra chiến trường, tôi không giết anh thì anh giết tôi, không ai chối chạy điều đó được, và anh cũng vậy. Tôi sinh ra và lớn lên ở đây, tự nhiên tôi phải làm sứ mạng của tôi, là đi lính giữ làng. Còn anh từ đâu tới tìm tôi để giết, thì tôi phải đánh, rồi ai chết mặc ai?

Những bài hát đồng giao lan truyền trong dân gian, ca ngợi chiến công lẫy lừng của anh, càng làm anh thêm nặng tội. Năm ngày liên tục, ngày nào cũng có hết người này tới người nọ tới khủng bố, mệt mỏi, ban đêm anh phải đi ngủ ở những nhà quen. Ngày thứ năm người cán bộ chính trị lại đến nữa, anh dõng dạt tuyên bố,

– “Tôi sống ở miền Nam, tôi phục vụ chính nghĩa tự do, tôi có trách nhiệm với tôi, gia đình tôi và lý tưởng của tôi, cũng như các anh phục vụ lý tưởng của anh. Hôm nay tôi là người chiến bại, nếu các anh cho là tôi có tội, thì hãy đem ra sân bắn, để gia đình vợ con tôi chôn, còn không, các anh hãy để yên cho tôi sống với gia đình ít ngày rồi tôi đi tù. Tôi mệt mỏi lắm rồi, không muốn tranh luận ai được ai thua, ai có tội hay không có tội nữa”.

Anh ở nhà được một tuần thì đi tù. Sau 8 năm tù, tháng ba năm 83 anh được tha. Ở nhà vợ và mẹ anh đã làm thêm căn nhà ngang bằng ngói, vật liệu anh sắm sẳn từ trước. Hai phòng lồi cho Trí Dũng, Mai và Minh. Hai phòng trong, một cho Liên và một cho mẹ anh, nhưng mẹ thường ngủ nhà trên bên bàn thờ cha. Anh về, ngày đầu anh ngỡ ngàng, con anh cũng ngỡ ngàng. Thằng cu Dũng lúc đầu nó ôm anh, thương anh, quấn quít, nhưng đến chiều vài người hàng xóm, chọc ghẹo nó rằng:

– Tên này vừa đen, vưà ốm, vừa già mày coi trong hình có giống ba mày không? Hay là tên CS vào dụ dỗ mẹ mày để kiếm cơm đó. Thằng bé đâm ra nghi ngờ, tới bữa ăn nó nhìn anh chằm chặp, anh bỏ thức ăn vào chén, nó gắp bỏ ra. Anh hỏi:

-Sao con không ăn?

– Ông không phải ba tôi, ông đến dụ dỗ mẹ tôi thôi. Ban đêm anh vào buồng, thì nó kéo anh ra, rôì khóc thét lên, la lớn là, “Ông đến dỗ mẹ tôi.” Nó đem hình ba nó ngày xưa và ông bây giờ ra so, không giống. Nó khóc, anh ôm nó vào lòng khóc theo, nó vùng vẫy. Anh thương nó, thương anh vô cùng, con không nhìn được cha, tủi cho anh, buồn cho con. Anh thương anh, thương con vô vàn. Thấy anh khóc, Minh, Trí la em, nhưng cu Dũng nói,

– Bác Ba nói, “Ông ấy” tức Tùng cho bánh, cho kẹo anh chị, nên anh chị nhìn ông là ba, chứ thật ra ông không phải ba mình đâu.

Bà nội bảo là ba nó đấy, nó cũng không chịu tin, nó vẫn còn khóc nên anh ra ngoài phãn ngủ một mình. Nó nhất định ngủ bên mẹ, giữ mẹ không cho ông ấy vào buồng. Anh nghĩ ngợi cả đêm, làm sao anh có thể nói hết với con. Nó nào biết anh đi tù, chỉ có mình bé Minh biết vì lúc đó nó đã năm tuổi, và đã vài lần theo mẹ thăm anh. Ngay cả cu Trí cũng không biết anh đi đâu, phong phanh nghe mẹ kể ba đi tù, vì ngày xưa ba là lính Ngụy. Nó không hề biết Ngụy là gì, nhưng nó không hỏi. Nó yên lặng chứ không hung hăng như Dũng. Từ đó anh làm việc và yên lặng không tỏ thân mật với vợ trước mặt con.

Nói với nó thế nào? Giải thích làm sao? Anh đã đi đâu 8 năm bây giờ mới xuất hiện, anh buồn vô cùng. Đêm hôm sau, mẹ anh dụ cu Dũng ngủ với nội nhà trên, bà cho bánh nó, nhưng khi sực nhớ tới mẹ nó và ông khách lạ, nó vùng dậy chạy phăng phăng đi giữ mẹ. Ai nghe qua, hay nhìn cảnh ấy thì cười, nhưng riêng anh thì rất buồn, người xót xa nhứt là anh. Anh nghe lòng quặn đau. Ai hiểu nỗi lòng anh bây giờ, anh thương mình, thương con vô cùng vì con không nhận được cha. Một đoạn lịch sử làm đau lòng đứa bé, làm nó hồ nghi?

Anh nghĩ, từ sau năm 54, miền Nam giàu có, trù phú, có chính phủ với lực lượng quân đội hùng mạnh, nếu mọi người dân từ đàn bà đàn ông đều có trách nhiệm với bản thân mình, với tổ quốc mình, và với tự do mình có được, thì làm sao ta mất nước. Anh là một tên lính chỉ biết chiến đấu, tuân lịnh nhưng rốt cuộc đàn anh đâu, người chỉ huy anh đâu? Họ làm gì, họ có đáng để cho anh tuân lịnh không? Anh cứ nghĩ gia đình anh vẫn sống một đời thanh bạch bên ruộng lúa nương khoai. Dù ngay cả khi Mỹ đến đóng quân gần nhà. Gia đình anh sống hiền hoà với nếp sống cũ, có ai chết đói đâu? Từ năm 1954 trở về sau, đời sống người dân đi lên, từ khá lên giàu… nhưng bây giờ tang tóc, trở về tận cùng của nghèo khó.

Ý nghĩ anh rất đơn giản, nếu mọi người công dân đều có trách nhiệm với tổ quốc thì làm sao mất nước. Tại sao Đài Loan, Đại Hàn họ giữ được phần đất nhỏ của họ, được tự do hạnh phúc. Có lần anh được đi Đài Loan ba tháng, người dân ở đó họ tự trọng, kỹ luật anh thấy mà mê. Ước gì quê mình mọi người ý thức được như vậy! Tiếc thay cơ cấu chính quyền tham ô, bản thân cấp lãnh đạo thì thân không tu, gia không tề, mà cứ lo tính chuyện trị quốc bình thiên hạ, nên cớ sự mới thế nầy. Đảo chánh, tranh dành lãnh đạo, mà bản thân lại không đủ khả năng lãnh đạo mới làm khổ 30 triệu dân. Vừa tủi thân anh, thẹn với mình, với con, với đất nước, với những người đã chết, đã hy sinh, anh vẫn nhớ những chiến sĩ Nghĩa quân ở trong trại tù, vẫn anh dũng, vẫn khí tiết trước quân thù. Như anh Phan Dế, Ðồng Phước Hoàng, Phạm Mau, Vũ thái Quỳnh, Phan Hữu Trai, đã hào hùng khí khái chống đối. Tôi hãnh diện được làm bạn với các anh, cùng được chung binh chủng Nghiã quân anh hùng với các anh. Xin nghiêng mình kính cẩn chào vĩnh biệt các anh!

Dù quên tên anh nhưng hình ảnh hào hùng của anh vẫn hiện ra thật rõ, nhớ buổi trưa hôm đó, anh đã khí khái chỉ tay vào mặt tên gác cổng, la lớn, “ Mày, tên cộng sản làm gì mà đứng đó, mày xuống mau không, tao không tha cho mày đâu, quân khát máu.” Bạn bè thương mến anh, ôm anh, đồng đội chạy theo anh thật đông, nên nó không bắn được anh. Anh đã hiên ngang can trường, không dễ gì có được so với hạng người thiếu tư cách, quy lụy ngay cả là kẻ không ở trong tù. Có người cho anh là thất phu, võ biền, nhưng với tôi, anh là một anh hùng, không cần sống trong nô lệ, xiềng cùm. Các anh chống cộng không vì miếng đỉnh chung, vì lòng yêu nước các anh có thừa, và lòng tự trọng của anh rất cao. Một chắp tay, một cái cúi đầu ngưỡng mộ, và xin được chia sớt phần hãnh diện với các anh. Những anh hùng vô danh cho tự do, dân chủ.

Tùng thương mình, thương vợ, thương con vô cùng. Người đàn bà quê mùa mộc mạc ấy, đã đi bên cạnh anh và đã hy sinh cho anh bao tháng năm dài. Nàng nuôi nấng dạy dỗ con cái, chờ đợi héo hon để lo cho anh trong tù, không một lời than oán. Dần dà cu Dũng cũng nhận anh là cha, vì từ nó đi học về, thấy bên nội bên ngoại mang quà bánh tới mừng cho ba nó. Ngày nào anh cũng có khách đến thăm, bà con bạn bè cũ, rồi nó nhìn thấy anh phải đi trình diện công an. Chiều đến anh dẫn anh em Trí, Dũng đi đá banh, đi tắm, tối coi bài cho con học, anh kể chuyện kiếm hiệp cho con nghe. Anh hát cải lương, kể chuyện cổ tích, rồi nó mê anh, và chấp nhận anh. Hôm nay anh ôm hai con vào lòng mà hôn, mà thương. Anh nằm giữa, hai đứa bé nằm hai bên anh nghe anh kể chuyện tù, những cơ cực thảm thương của người dân mất nước, mất tự do. Dũng ôm anh hôn, anh hạnh phúc tràn trề, vì anh còn có một gia đình, anh mãn nguyện vô cùng.

Với con, anh là một người cha có bản lĩnh đem tình thương để cảm hóa, và chinh phục con cái, dẫn dắt con vào bờ yêu thương, với vợ anh là người chồng gương mẫu để vợ kính yêu, và với mẹ, anh là người con chí hiếu. Anh là một người đàn ông có khả năng, có bản lĩnh lèo lái một gia đình trong lúc ngả nghiêng, tan tóc, dù anh chỉ xong bậc tiểu học. Với gia đình, tổ quốc anh không thẹn với lòng.

Gần hơn tháng nay, bây giờ chờ cho con ngủ xong, anh vào với vợ, anh ôm vợ vào lòng mà khóc, mà thương. Anh biết nỗi lòng chờ đợi của vợ anh gần chín năm dài. Ngày xưa vợ chồng chung chăn thì vui, bây giờ anh lại khóc. Ân tình của vợ anh đơn thuần, giản dị quá, nhưng đủ thương yêu trọng tình nghiã vợ chồng. Chị vừa thương, vừa mê và qúy trọng chồng.

– Mẹ chồng, nàng dâu, em chồng như ruột thịt, trong ấm ngoài êm, anh cảm ơn em. Ngoài chút tình thương yêu em, anh còn biết ơn em nhiều lắm, Liên ơi. Tên em là Liên, em một đóa sen qúy nhất trong lòng anh, mà anh đã yêu thương tự thuở nào.

Sau hơn tám năm không gối chăn, không vợ chồng, anh ôm vợ vào lòng mà hôn. Rồi tiếng rên khe khẻ của vợ, và tiếng anh thiết tha gọi vợ, nho nhỏ hai tiếng “mình ơi.” Ngoài kia, gió xuân nhẹ hôn lên cành lá, như chúng đang thì thầm chuyện ái ân của vợ chồng anh. Anh nói khẻ vào tai vợ anh mượn câu thơ của cụ Tản Đà nói với bóng để tặng em đêm nay, “mình với ta tuy hai mà một ta với mình tuy một mà hai.: Anh thương anh và thương em vô cùng, chúng ta là nạn nhân của một cơ chế khủng bố mà chẳng ai dám nói.

– Quảng đời còn lại anh sẽ dành tình thương yêu và chung vai gánh vác với em, chúng mình bên nhau để lo lắng cho con. Nhìn lại, anh còn hạnh phúc hơn nhiều người, anh còn có một gia đình ấm êm. Và cũng từ đó anh gọi vợ bằng ‘Mình.’ ‘Mình ơi,’ dù hai tiếng mình ơi đã xa xưa thuộc về cổ ngữ nhưng nó êm đềm và ấm áp làm sao, phải không em... phải không Liên?


Phạm Ðào Nguyên

 

Sunday, December 31, 2017

ĐỜI LÍNH

 

Đời Lính
- NĐC

https://youtu.be/hUrOChBVg5E

 

 

-----------------------------------------




ĐỜI LÍNH


Photo

NĐC.

Anh ạ! Tháng Tư mềm nắng lụa,
Hoa táo hoa lê nở trắng vườn,
Quê nhà thăm thẳm sau trùng núi,
Em mở lòng xem lại vết thương.

Anh ạ! Tháng Tư sương mỏng lắm,
Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê,
Hay sương thành lệ tra vào mắt,
Mờ khuất trong em mọi nẽo về.


(Trần Mộng Tú)


Sau khi đọc bài thơ này của thi sĩ Trần Mộng Tú, trong lòng tôi chợt cảm thấy bàng hoàng thảng thốt. Đã 37 tháng Tư trôi qua, bao nhiêu nước đã chảy qua cầu, vết thương trong lòng tôi vẫn còn âm ỉ, tôi nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ lành cho tới ngày tôi nhắm mắt.

Ba mươi bảy năm về trước, đám sĩ quan trẻ chúng tôi chỉ mới ngoài 20, đến nay đầu đã lớm chớm bạc, “cùng một lứa bên trời lận đận”, sau cơn Đại Hồng Thủy tháng Tư năm 75, lũ chúng tôi tản mác khắp bốn phương trời: “Thằng thì đang còng lưng trong các Shop may tại Santa Ana Cali, thằng đang làm bồi bàn ở Paris, thằng đang chăn cừu ở New Zealand, thằng thì đang cắt cỏ ở Texas, và cũng có thằng đang đạp xích lô ở Sài Gòn” (trích).

Mỗi năm đến ngày 30-4, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng ngơ ngác như kẻ mất hồn. Không còn ai trách cứ chúng tôi hết, chỉ có chúng tôi tự trách mình, chúng tôi đã làm gì cho Tổ Quốc?

Người lính VNCH
Trước năm 75, tôi là người lính trong hàng ngũ quân đội Miền Nam, với cấp bậc thấp nhất là Thiếu Úy; với chức vụ nhỏ nhất là Trung Đội Trưởng, ngoài số lương đủ sống mà tôi lãnh hàng tháng, tôi không hề nhận được bất cứ bổng lộc nào từ phía “triều đình”. Tôi chỉ là một người lính vô danh tầm thường như trăm ngàn người lính khác, ngoài cuộc sống cực kỳ gian khổ và hiểm nguy, chúng tôi không có gì hết, kể cả hạnh phúc riêng tư của chính mình. Cho nên, tôi không hề có một mơ tưởng nào về một hào quang của ngày tháng cũ, và tôi cũng không muốn tiếp tục một hành trình “Việt Nam Cộng Hòa kéo dài”. Tôi viết như là để thắp hương tưởng niệm, những đồng đội của tôi đã nằm xuống cho tôi được sống, rộng lớn hơn hàng trăm ngàn người đã chết để chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay tại hải ngoại này.

*

Mùa Hè năm 1972, người Miền Nam thời ấy gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, mượn cái tên từ tập Bút Ký Chiến Trường rất nổi tiếng của Phan Nhật Nam. Mùa Hè Đỏ Lửa năm 72 là năm quân đội của hai miền Nam-Bắc dốc sức đánh một trận chiến sinh tử, bên nào kiệt lực bên đó sẽ bại vong.

Niên khóa năm 71-72, tôi là sinh viên Ban Sử Địa thuộc Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, năm đó tôi đi học trong một tâm trạng bồn chồn không sao tả được, và tôi cũng không còn tâm trí đâu để mà học hành, tin tức chiến sự từ các mặt trận gởi về dồn dập, lúc đó bạn bè tôi lớp chết lớp bị thương, lũ lượt kéo nhau về. Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi thấy miền Nam lúc đó không còn sinh khí nữa, những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn được hỗ trợ bằng tiếng hát ma quái Khánh Ly, đã làm băng hoại chán chường cả một thế hệ thanh niên thời đó. Ngoài ra, còn khá nhiều những bài ca những tiếng hát đã đâm thấu lòng người: “Anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa, trên trực thăng sơn màu tang trắng…” Tại sao trong một đất nước đang có chiến tranh mà có những điều kỳ lạ này xuất hiện. Điềm Trời báo trước chăng?

Chính quyền Miền Nam sau đó ra lịnh tổng động viên, tất cả các nam sinh viên đều phải nhập ngũ, trừ những người xuất sắc. Lúc đó những gia đình có tiền của, họ chạy đôn chạy đáo lo cho con cái của họ chui vào chỗ này chui vào chỗ nọ, miễn sao khỏi ra mặt trận. Đối với họ, chuyện ngoài mặt trận là chuyện của ai khác, không liên quan gì đến gia đình họ, hàng ngày họ xem đài truyền hình thấy cảnh khói lửa ngập trời, người chết hàng hàng lớp lớp, họ coi đó là chuyện ở đâu đâu, chẳng ăn nhập gì tới họ. Còn tôi thì ngược lại, tôi muốn ra mặt trận càng sớm càng tốt, hình như định mạng đã an bày cho tôi. Trong bài Đại Bác Ru Đêm của Trịnh Công Sơn có một câu rất “độc”, “đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…”, tôi chính là người phu quét đường đó. Tiếng đại bác đã làm lòng dạ tôi nôn nao, tôi muốn ra mặt trận để chia lửa với những người bạn cùng thời với tôi, để chịu chung khổ nạn với đồng bào tôi, trong những ngày tháng điêu linh nhất của đất nước. Tiếng đại bác đã âm ĩ trong lòng tôi, kéo dài mãi từ ngày đó cho tới tận bây giờ.

Thế rồi cũng đến phiên tôi nhập ngũ, giã từ Trường Văn Khoa với Đại Giảng Đường 2 bát ngát, giã từ những bài giảng rất lôi cuốn của Linh Mục Thanh Lãng, của Giáo Sư Nguyễn Thế Anh, thôi nhé giã từ hết những ước vọng của thời mới lớn!

Tôi trình diện Khóa 4/72 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, năm đó quân trường Thủ Đức chứa không xuể các thanh niên nhập ngũ nên đã đưa một số ra thụ huấn ngoài Trường Đồng Đế Nha Trang, toàn bộ tinh hoa của Miền Nam được tập trung vào hai quân trường này, Miền Nam đã vét cạn tài nguyên nhân lực để đưa vào cuộc chiến.

Vào quân trường, Khóa 4/72 toàn là các sinh viên các trường đại học tụ họp về đây, chúng tôi loàng xoàng tuổi nhau nên đùa vui như Tết, tuổi trẻ mà! Lúc nào cũng vui cũng phơi phới yêu đời, chuyện ngày mai đã có Trời tính. Thời gian sáu tháng quân trường gian khổ sao kể xiết, bởi vì sự huấn luyện nhằm biến đổi một con người dân sự thành một người lính thật thụ là điều không đơn giản. Không phải chỉ có các kiến thức về quân sự, mà còn tạo dựng một cơ thể gan thép, rèn luyện gian khổ bất kể ngày đêm, bất kể nắng nóng nung người hay mưa dầm bão táp. Trong năm tuần lể đầu tiên vào trường, gọi là giai đoạn “huấn nhục”, đây là giai đoạn kinh hãi nhất trong đời lính mới của chúng tôi. Hằng ngày chúng tôi tuân phục sự chỉ huy điều động của các huynh trưởng khóa đàn anh, khi ra lịnh họ hét lên nghe kinh hồn bạt vía, họ nghĩ ra đủ mọi hình phạt để phạt chúng tôi bò lê bò càng, trong giai đoạn này chỉ có chạy không được đi… các huynh trưởng “quần” chúng tôi từ sáng sớm tới chiều tối, buông ra là chúng tôi ngất lịm, ngủ vùi không còn biết gì nữa hết.

Photo:
Quân trường - Huấn nhục - ôm súng bò hỏa lực với hai thế sấp và ngửa dưới hàng kẽm gai
Sau năm tuần lễ huấn nhục, ai vượt qua được, sẽ tham dự lễ gắn Alpha, để chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan. Ngày quì xuống Vũ Đình Trường để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào, vì đã lập một kỳ công là tự chiến thắng chính mình để trở thành một người lính, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa. Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như: bãi Cây Đa, Đồi 30, bãi Nhà Xập, cầu Bến Nọc… Cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài: đại đội vượt sông, đại đội di hành dã trại… Cuối cùng điều mà chúng tôi mong đợi từ lâu, đó là ngày làm lễ ra trường, tất cả chúng tôi trong quân phục Đại Lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường, rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh Viên Sĩ Quan chỉ huy buổi Lễ:

- "Quì xuống các Sinh Viên Sĩ Quan!"

Sau khi đọc các lời tuyên thệ và được gắn lon Chuẩn Úy, tiếng thét chỉ huy lại cất lên một lần nũa:

- “Đứng lên các Tân Sĩ Quan!”.

Trong số chúng tôi có người muốn ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi gian khổ sao kể xiết.

Ngày hôm sau chúng tôi tụ họp lên hội trường để chọn đơn vị, tới phiên tôi lên chọn, có một điều làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư Đoàn 7 cho gần Sài Gòn, bỗng cái Ông Thượng Sĩ đứng phụ trách tấm bảng bèn đưa ra lời bàn:

- “Chuẩn Úy nên chọn về Sư Đoàn 9 vì vùng trách nhiệm nhẹ hơn, Sư Đoàn 7 trách nhiệm vùng Cái Bè Cai Lậy rất nặng nề.”.

Oái oăm thay! Ngày hành quân đầu tiên của tôi là vùng Cái Bè, bởi lẽ đơn vị tôi tăng cường cho Sư Đoàn 7.

Tôi trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 9 tại Vĩnh Long, Sư Đoàn này có ba Trung Đoàn: 14, 15 và 16. Tôi được đưa về Trung Đoàn 14. Tôi lại mang vác ba lô về trung đoàn 14 đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài Gòn qua Ngã Ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt, chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái Xã mang tên Hậu Mỹ, ngay tại đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe cái tên Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao, ở giữa Đồng Tháp Mười lại có một nơi dân cư sinh sống bằng nghề nông rất trù phú.

Photo: Khóa đàn anh gắn alpha cho đàn em tại quân trường Thủ Đức
Đám Tân Sĩ Quan chúng tôi sau khi trình diện Trung Đoàn Trưởng thì được giữ lại Bộ Chỉ Huy vài hôm để tập làm quen với cách làm việc của nơi này. Sau đó Ban Quân Số phân chia về các nơi. Vị sĩ quan Quân Số hỏi - có Chuẩn Úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận. Nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong Tháng Ba Gẫy Súng - tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này, mà trong lòng không có một chút oán thù nào về phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.

Một Trung Đoàn Bộ Binh có ba Tiểu Đoàn và một Đại Đội Trinh Sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các Tiểu Đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh Sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn gặp nhau nữa. Đại Đội Trinh Sát cho người lên dẫn tôi về trình diện Đại Đội Trưởng, lúc đó đơn vị đóng ở ngoài căn cứ của Trung Đoàn. Trung Úy Đại Đội trưởng có biệt danh là Đại Bàng, dáng người cao to trông rất dữ dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giọng nói gầm gừ trong họng, tất cả đều toát ra một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện (trong đó có tôi). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân phong quân kỷ:

- “Chuẩn Úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Đại Bàng”.

Ông ta nhướng mắt nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi về sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi ông ta phán cho tôi một câu nhớ đời:

- “Anh về làm Trung đội Phó Viễn Thám!”.

Trời đất! Tôi nghĩ thầm, cái bằng tốt nghiệp của tôi là Trung Đội Trưởng, mà giao cho tôi làm Tr. đội phó là sao nhỉ? Lúc đó tôi không biết rằng làm Tr. đội phó là còn may, các sĩ quan về sau nữa có khi còn làm Trưởng Toán Viễn Thám, thiệt là chết dở.

Đại Đội lúc đó có khoảng trên trăm người, được chia làm hai Trung Đội Trinh Sát và một Trung Đội Viễn Thám. Các sĩ quan Trung Đội Trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất ngầu, uống rượu như điên, đồng thời nói năng rất bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn, phần lớn họ là gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều là tất cả những người lính này đều đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật quân đội chăng?

Đồng đội, chiến hữu
Sau một thời gian sống gần gủi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phác, rất tôn trọng nghĩa tình, một khi họ quí trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, họ hoàn toàn không dễ sợ như tôi nghĩ lúc đầu.

Vài hôm sau, gặp bữa đại đội tề tựu đông đủ, Đại Bàng đưa tôi ra giới thiệu trước đại đội, rồi bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi! Tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp hồn như thế này bao giờ đâu! Cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng… Bây giờ nghĩ lại tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắc lưỡi bực mình của Đại Bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại Bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi:

- “Chuẩn Úy tốt nghiệp Trường Sĩ Quan nào vậy?”

Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, bởi vì khi ông xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đáp:

- “Tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức”.

Ông ta bèn xáng cho tôi một câu nhớ đời:

- “Vậy mà tôi tưởng Chuẩn Úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân chứ”!

Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông ta đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là Sinh Viên Sĩ Quan trong Thủ Đức, chúng tôi coi là điều sỉ nhục, khi bị cấp trên mắng là Nữ Quân Nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi buồn lắm... Hình như tôi bị quăng vào môi trường sống không phù hợp với mình, một nơi chốn mà tôi chưa từng biết bao giờ, bởi lẽ trước nay tôi chỉ là anh học trò, bấy lâu chỉ làm bạn với sách vở, với bạn bè với trường lớp? Bây giờ giữa chốn ba quân này, tôi bỗng nổi bật lên như cái gì đó không giống ai. Lúc đó, tôi nhớ Ba Mẹ tôi ở nhà, và tôi nghiệm ra một điều rằng - ăn chén cơm của Ba Mẹ tôi sao mà sung sướng quá, bởi lẽ Ba Mẹ chưa hề sỉ nhục tôi, còn khi ra đời, ăn chén cơm của người đời sao đầy cay đắng! Tôi lặng lẽ ứa nước mắt.

Tôi về làm Phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72, anh ta là người trí thức có bằng Cử Nhân CTKD, thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh ta thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài dỡ khóc dỡ cười, không sao quên được. Chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ, thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, nhưng tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông mà xối lên người. Tắm một hồi, tôi cảm giác có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, và xầm xì bàn tán chuyện gì đó, rồi bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có tên lính lên tiếng:

- “Sao Chuẩn Úy không xuống tắm như tụi tôi mà đứng chi trên bờ? Ý trời ơi! Sao da của Chuẩn Úy trắng nõn như da con gái vậy?”.

Tôi ngượng chín người, máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, có cái ông Thượng Sĩ già đứng gần, còn đớp cho tôi thêm một nhát:

- “Ý cha! Cái bàn chân Chuẩn Úy sao mà đẹp quá, bàn chân này có số sung sướng lắm đây!!!”

Thiệt là khổ cho cái thân thư sinh của tôi, hết làm Nữ Quân Nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt là chán...

Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy, Hậu Mỹ là nơi đã tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị, cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng Đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa xạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi là bắt đầu nai nịt lên đường, súng đạn ba lô trên vai, để tham dự cuộc hành quân thường ngày, bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đầu gối, rồi khi qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế quần áo ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo tụi tôi nhuộm phèn vàng chạch, trong rất kỳ quái.

Photo:
Hành quân mùa nước lũ
Khi ở quân trường tôi tưởng nỗi gian khổ của người lính là cao nhất, sau khi ra đơn vị tôi mới thấy được rằng, nỗi khổ quân trường chỉ là khúc dạo đầu, không thấm thía gì so với ngoài thực tế. Vùng Hậu Mỹ là vùng lúa xạ nên rất ít bờ ruộng, khi đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được.

Đất ruộng người dân họ cày xới lên từng tảng to nhỏ như trái dừa, ngổn ngang lổ chổ, và nước lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế để đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên rút bàn chân lên thật khó nhọc, mặt trời rọi ánh nắng gay gắt, mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, họ phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối… Người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không hề nghe một lời than van nào hết, họ cắn răng lại mà cam chịu, có than van cũng không ai nghe.

Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo ra vắt, mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật xuống đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết, lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn, đời lính sao mà khổ quá!

Theo Đặc San Cư An Tư Nguy (câu này là châm ngôn của Trường Bộ Binh Thủ Đức) phát hành tại San Diego, thì Quân Trường này đã đào tạo 55 ngàn sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn sĩ quan đã tử trận, và không dưới 10 ngàn người đã trở thành phế binh thương tật. Trung Đội Trưởng là chức vụ đầu tiên của sĩ quan mới ra trường, và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, Trung Đội Trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính, khi đóng quân phòng thủ đêm, Trung Đội Trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt Trung Đội Trưởng không có bạn nữa mà chỉ có phía bên kia. Cho nên nếu lính dễ chết thì Trung Đội Trưởng cũng dễ chết y như vậy, súng đạn vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao Chuẩn Úy mới ra trường chết như rạ là vì thế. Vậy mà tôi còn làm Trung Đội Phó, không biết nói sao nữa.

Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, Trung Đội tản ra, tôi cùng Chuẩn Úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh một hồi rồi bỗng thấy làm lạ sao thấy C/U Thắng im lìm không có lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính Truyền Tin nói với C/U Thắng:

- “Đại Bàng kêu C/U lên trình diện gấp!”

C/U Thắng bỏ đi một đoạn, thì lính Truyền tin lại bảo tôi:

- “Đại Bàng muốn gặp C/U Châu.”.

Tôi cầm ống nghe áp vào tai, thì nghe Đại Bàng chửi xối xả, giọng Ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do C/U Thắng quá sợ nên không dám tấn công, ông hét lên bảo tôi:

- “Nè! C/U Châu, tôi giao Trung Đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không?”.

Tôi nghe mà sợ muốn “té đái”, run lập cà lập cập, rồi trả lời ông:

- “Xin tuân lịnh!”.

Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi vói tay lấy khẩu súng trường của người lính bên cạnh, miệng chỉ kịp kêu lớn:

- “Tất cả theo tôi”.

Lúc đó tôi “quíu” quá, nên không nhớ bài bản chiến thuật nào mà tôi từng học ở quân trường, tôi xông lên vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa), cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo tôi. Phía người anh em bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, tưởng tôi bị điên, bèn lập tức tháo lui, trong lúc vội vã họ còn quẳng lại tặng tôi mấy cây súng nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút, ai cũng tưởng tôi gan dạ, chứ đâu biết rằng tôi làm thế vì quá sợ ông sếp của mình. Thiệt là khôi hài! Đại Bàng kéo quân lên ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một sĩ quan nào lập chiến công “khùng điên ba trợn” như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy lại cho C/U Thắng, tôi trở về vị trí cũ.

Sau đó tôi được điều động qua các Trung Đội khác, giải quyết công việc tạm thời cho các Trung Đội Trưởng đi phép hay bị thương… Một điều may mắn cho tôi, (hay Trời đãi kẻ khù khờ), khi tôi nắm quyền tạm thời đó, những trận đánh mà tôi tham dự, tôi đều hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp. Đại Bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ ái ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi. Đại Bàng sau đó được thuyên chuyển qua một đơn vị khác và một Đại Bàng mới đến thay thế, ông trung úy mới đến này có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, khiến tôi rất có cảm tình. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, Đại Bàng cũ giới thiệu các sĩ quan trong đơn vị cho Đại Bàng mới được biết. Sau khi điểm mặt ba Trung Đội Trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một Trung Đội Phó, rồi đưa ra một nhận xét làm sửng sốt mọi người:

- “Đây là một tay Sĩ Quan xuất sắc, một tay chơi tới bến!”

Hai người sững sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại Bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình và cũng không hề muốn bương chãi về phía trước. Đối với Đại Bàng mới, ông ta lấy làm lạ là phải, bởi vì ông cứ ngỡ sĩ quan xuất sắc nhất phải là mấy ông Trung Đội Trưởng, sao lại là cái ông Trung Đội Phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Tôi cũng không ngờ, cái lời nhận xét đó đã đẩy tôi vào một khúc ngoặc khác, đầy hung hiểm chết người.

Một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại Bàng mới cất nhắc lên làm Trung Đội Trưởng thực thụ. Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải vận dụng trí não đến cao độ cho công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp chỉ huy, chính điều đó đã đẩy Trung Đội tôi vào nơi tử địa.

Khi Đại Đội tiến quân vào nơi nguy hiểm, Trung Đội tôi được lịnh đi đầu, và khi rút quân từ nơi đó, Trung Đội tôi được lịnh bao chót. Khi tấn công tôi được giao chỗ khó gặm nhất, và khi phòng thủ Trung Đội tôi được nằm ở vị trí nặng nề nhất. Người ta thường nói: “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”, tôi không phải là Tướng, chỉ là một sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều đến nỗi, tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa.

Bởi sự tin cậy của Đại Bàng dành cho tôi, mà Trung Đội tôi phải gánh chịu những tai ương này. Ông ta rất quí mến tôi, ông chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời, có món nào ngon ông sai đệ tử đi mời tôi đến cùng ăn với ông, có huy chương nào quí giá, ông cũng ưu tiên dành cho tôi. Ông quí tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu ông cứ xử dụng tôi như vậy, trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống nỗi, khi xua quân đi hết mặt trận này đến mặt trận khác, mà toàn là những nơi 'đầu sóng ngọn gió', vậy mà tôi sống, mới kỳ!

Khi về đơn vị này, tôi có được một sự may mắn là đơn vị lưu động khắp các tỉnh Miền Tây. Khởi đầu của tôi tại Cái Bè - Cai Lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển… Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, từ Tuyên Nhơn kéo qua Tuyên Bình, có một chỗ tận cùng tên Bình Thạnh Thôn, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Từ nơi này chúng tôi ngồi Thiết Giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng Ngự, và chính cái lúc băng ngang này, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh sợ nhất, đi suốt một ngày với xe Thiết Giáp, tôi không thấy một cây cỏ nào mọc nổi ngoại trừ loại cây bàng (một loại cây họ cỏ dùng dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng chạch, tóm lại không có một sinh vật nào sống nổi trong vùng này đừng nói chi đến con người, vùng đầm lầy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm đến ghê rợn.

Rời Mỹ Tho, chúng tôi băng ngang Sông Tiền bởi Phà Mỹ Thuận, rồi băng ngang Sông Hậu với Phà Cần Thơ, xuôi theo lộ tới Cái Răng-Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền - Cầu Nhím, tôi ngạc nhiên trước một vùng đất giàu có tột bực này, ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lền trên mặt sông để đến điểm tập trung giao hàng đi các nơi, nhà cửa ở miệt vườn mà trông rất bề thế. Rồi chúng tôi đến Phong Phú-Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai-Cờ Đỏ, sự trù phú không sao kể xiết, có khi chúng tôi ngồi Tắc, ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, hai bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ, không hề có nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng có xe máy cày đậu trước sân. Tuy nhiên vào sâu hơn nữa, chúng tôi cũng gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm -Thát Lác, dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa hoang phế, trông rất âm u rợn người.

Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm, vừa thích thú vừa buồn rầu. Mỗi khi hồi tưởng về một thời chiến trận, tôi đều nhớ về nơi ấy. Cuộc chiến đã ngừng 37 năm qua, vậy mà tôi chưa hề một lần nào trở về lại nơi chiến trường xưa, để thắp một nén hương tưởng mộ những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi này.

Mùa Khô năm '74, Đại Đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung Đội tôi nhảy líp đầu, khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất nơi đây. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả (sau này tôi được biết đây là vùng nước nổi, khi nước từ Biển Hồ tràn về, thì không có bờ ruộng nào chịu đựng nổi, nên người ta cứ để trống trơn như vậy, ruộng của ai người đó biết). Trên cánh đồng lại có rất nhiều gò nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi Trung Đội tôi rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm một gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho tất cả dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ, rồi tôi phóng ba khinh binh vào lục soát, sau một hồi thấy không có gì, họ khoát tay cho cả Trung Đội tiến vào. Khi vào tới nơi, sau khi bố trí xong, tôi thấy trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát, và có vài đìa cá, lính tráng lội ùa xuống xúm lại tát đìa, khi đìa cạn, cá lộ ra lội đặc lềnh như bánh canh.

Một lát sau cả Đại Đội theo trực thăng kéo tới kéo vào gò trú ẩn cũng vừa đủ. Đêm tới, chờ trời tối hẳn, Đại Bàng ra lịnh kéo cả đơn vị ra đồng trống để đóng quân đêm, vì vị trí ban ngày đã bị lộ, đêm đó chúng tôi không ngủ được gì cả, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc, lùng sục chỗ đóng quân của chúng tôi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có một đoàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân, lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói họ kéo nhau đi tát đìa, trời đất! Tát đìa mà kéo một đoàn xe bò như thế này ư? Chiều đến, không biết họ đi đến đâu, mà khi kéo xe về, xe nào cũng đầy ắp cá, họ chứa lủ khủ trong thùng trong chậu lớn, sau đó họ kéo ra bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng Ngự.

Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo bờ Rạch, có tên là Rạch Cái. Khi vào đến nơi tôi lại đứng trố mắt ra nhìn, nhà gì mà kỳ dị như thế này, người dân họ cất nhà cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn, tôi biết ngay là họ phải cất nhà như thế để sống cùng với lũ. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất, tiếng bình dân gọi là Hóc Bà Tó, đây cũng là vùng đất tranh chấp giữa hai bên, chiến trận nổ ra liên miên, nên người dân họ sống rất là tạm bợ, cả xã có vài ngàn người mà chỉ có vài người biết đọc biết viết.

Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa, hay ghe hàng bông (rau quả), được chở tới từ Hồng Ngự. Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào nhà chơi, chủ nhà rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượi đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn dấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi ăn với khoai lang hay bắp luột, lúc đầu tôi thấy sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã hãi nói chi tới ăn.

Đám lính chúng tôi đang lội sình mệt nghỉ, được đưa về một nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là đã đời! Chúng tôi hành quân mà như đi picnic, nhưng trong tôi linh cảm điều gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào những nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.

Photo:
Khoảng 12 xe bọc sắt M113 - thiết giáp hành quân lục soát
Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường một chi đoàn Thiết Giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hằng ngày, chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp hành quân lục soát nơi này nơi nọ, vẫn yên bình, không hề có tiếng súng. Rồi cái ngày dông bão đó đã đến. Hôm đó, bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân. Đi đến các điểm đã được chỉ định sẵn trên bản đồ, đi đến chỗ này lục soát, không có gì lại đi đến chỗ khác. Cuối cùng đoàn xe đến một điểm, bất chợt đoàn xe dàn hàng ngang ngoài ruộng, hướng về mục tiêu là một bờ vườn rậm rạp. Lính Trinh Sát tụi tôi được lịnh xuống xe, tiến vào bờ vườn, Trung Đội tôi tiến về phía bên trái của đội hình Đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng:

- “Tất cả tản ra mau, đi túm tụm như vầy dễ ăn đạn lắm!”.

Không ngờ lời nói của tôi “linh như miểu”, đạn phát nổ vang trời dậy đất, tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu ở đâu chảy xuống mặt tôi thành dòng, tôi ra lịnh bắn trả xối xả, nếu không phía bên kia họ thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im lặng, lúc đó tôi mới rảnh tay rờ rẫm khắp người xem mình bị thương nơi đâu. Tôi giật mình kinh ngạc và cảm thấy hết sức lạ lùng, bởi vì tôi bị bắn trúng một lượt hai viên đạn súng tiểu liên AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng ngắn tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng tứ tán lên mặt lên cánh tay, nên máu tuôn ra thành dòng là vì thế, xong phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi, máu tuôn ra khá nhiều nhưng không nguy hiểm. Viên đạn thứ hai, mới thật là ghê rợn, viên đạn bắn trúng vào cái bóp tôi để trên túi áo trái, ở phía trước trái tim, viên đạn quậy nát cái bóp, tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn lại, nằm yên trong đó, có lẽ viên đạn được bắn ra trong khoảng cách quá gần, làm viên đạn không đủ sức xuyên phá. Lúc đó tôi sợ lắm, bởi vì tôi nghĩ phải có một phép lạ thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi, chứ trên đời này hiếm có ai bị bắn trúng một lượt hai viên đạn mà còn sống như tôi vậy!
Cũng ngay lúc ấy, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi:

- “Thiếu Úy ơi! Cứu em!”

Photo:
Anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ.

Hôm nay, một trong hai người đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ. Vậy mà 37 năm đã trôi qua, tôi chưa có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhang nói lời cảm tạ. Anh ta là hạ sĩ Nguyễn Văn Đồng, một cái tên vừa bình thường vừa vô danh, nằm lẫn khuất đâu đó trong một triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh tức tưởi này.

Sau khi tôi bị thương, tôi giao Trung Đội lại cho Trung Đội Phó là Chuẩn Úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài, leo lên xe thiết giáp ngồi nghĩ và ngó vào trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn Úy Tường dàn đội hình hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt:

- “Đừng làm thế, Tường ơi!”.

Sau đó Trung đội tôi bị bắn tan tác, C/U Tường bị trúng đạn chết tại mặt trận, mắt vẫn mở thao láo, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung Đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. “Tường ơi! Vĩnh Biệt”. Không biết sao Đại Đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái rất lâu. Rồi tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không có cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước mỗi ngày dâng cao cả gang tay, đến lúc này đây mới thấy lúa Xạ là một loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì cây lúa cũng dài nhằng ra 5-6 mét, tôi chưa thấy nơi nào cây lúa lại kỳ dị như vậy.

Rồi đến lượt cá Linh tràn về, cá nhiều đến nỗi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nỗi lềnh lên cả một khúc sông, và kỳ lạ một điều nữa là người dân ở đây thà ăn mắm ăn muối chớ họ không ăn cá linh, họ nói họ thấy cá Linh cả đời nên tự nhiên họ đâm ngán tới cổ. Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chỗ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng chúng tôi trông thật ghê khiếp.

Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán, vào hôm đó toán của thầy trò chúng tôi đi tới một cái gò còn khô ráo, đêm đó như thường lệ tôi ngủ dưới một mái lều, tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình, ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức, tôi cũng vậy, tôi tưởng lính gác báo động nên vội ngồi dậy ngay, tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vằng vặc một em bé gái khoảng 13-14 tuổi đứng nhìn tôi và mĩm cười thật tươi tắn, tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội vàng nằm xuống kéo mền trùm kín đầu.

Chốn tên bay đạn lạc người dân khốn khổ không sao kể xiết
Sáng hôm sau, tôi thấy chỗ tôi ngủ nằm kề bên một cái bàn thờ bằng gỗ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước vào xóm để hỏi thăm về cái gò này, được người dân cho biết: Trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng, đem vô xóm bán dạo, một hôm em cũng chèo ghe ra đồng như hàng ngày, sau đó súng đạn nổ ran, em bị đạn lạc chết trên gò, em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm hiện về khóc lóc thảm thiết, dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái bàn thờ gỗ để nhang khói cho em, câu chuyện thật tội nghiệp! Ở nơi chốn tên bay đạn lạc này, đời sống người dân khốn khổ không sao kể xiết, nếu họ muốn đi đến một nơi chốn an lành khác, họ cũng không biết đi đâu, mà nếu có đi cũng không biết lấy gì mà sống.

Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận, vậy mà có một lần tôi đã phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ. Chuẩn Úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi khoảng một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Tôi nhớ hồi tôi mới ra trường trông đã rất chán, anh chàng này trông còn chán hơn tôi nữa. Mặt của Hà còn đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ngậm kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống, vừa uống vừa chắc lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe súng nổ anh ta nhắm chặt mắt, bịt kín lỗ tai, và mặt mày thì tái mét. Anh ta về làm Phó cho tôi, làm giọng “hách”, tôi hỏi anh ta một cách xách mé:

- “Sao ông nhát như vậy mà xin về Trinh Sát?”

Anh ta bèn phân trần, anh ta đâu có xin xỏ gì đâu, Ban Quân Số thấy không có ai tình nguyện nên chỉ định bừa, dè đâu trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, còn phải để ý đến anh ta nữa chứ, anh ta có biết gì đâu, thiệt khổ!
Càng về sau các sĩ quan rơi rụng dần dần, C/U Hà cũng được đưa lên làm Trung Đội Trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Cả Đại Đội được lịnh tấn công vào mục tiêu, Trung Đội của Hà và một Trung Đội nữa vỗ vào mặt chính diện, Trung Đội tôi thọc vào bên cạnh sườn. Hà dẫn Tổ Đại Liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra một trái hỏa tiễn B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng ngay vào người Hà, tội nghiệp! Hà chết không toàn thây.

Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà Hà ở Sài Gòn, để mang dùm quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình của anh ta. Hà mất được chừng một tháng, thì tôi xin được cái phép sáu ngày về thăm gia đình. Tôi bèn ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đình anh ta. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi, rồi hỏi dồn dập:

- “Sao cái hôm em Hà nó chết, mà cháu lại không về đưa đám tang em?”.

Tôi lúng túng trả lời:

- “Thưa, lúc đó chúng cháu đánh nhau tưng bừng, làm sao cháu bỏ đơn vị mà về cho được.”

Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngất ngất, lúc đầu ông bà còn lấy tay lau nước mắt, lúc sau thì để mặc, nước mắt tuôn ra xối xã làm ướt đầm cả ngực áo. Tôi kinh hoàng ngồi chết điếng, tôi chưa bao giờ gặp phải một trường hợp bi thương tột độ đến như vậy. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Cha mẹ nào có con ra mặt trận, coi như đã chết nửa linh hồn, đêm ngày sống trong hốt hoảng lo âu, mong ngóng con mình, mãi về sau tôi mới nghiệm ra được điều này. Nghe ông bà than khóc một hồi, tôi không chịu đựng nổi nữa và tôi cũng không nói một lời phân ưu gì nữa hết, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này. Rồi tôi nghĩ đến tôi, đến Ba Mẹ tôi, trong lòng tôi bỗng xộc lên một nỗi buồn khủng khiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về.

Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình, tôi buồn lắm. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi quá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này đây. Tôi chợt nhớ đến khuôn mặt đầm đìa nước mắt của Cha mẹ Hà, lúc đó bỗng nhiên tôi thương Ba Mẹ tôi vô cùng. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.

Photo:
Tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa.
Cuối cùng vào tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại bịnh xá Tiểu Đoàn 9 Quân Y tại Vĩnh Long. Tại Bịnh xá, tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột, tôi linh cảm có điều gì đó không lành.

Đến ngày 30-4-75, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy.

Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi bịnh xá, đứng trên Quốc Lộ 4, tôi nhìn về hướng Cần Thơ, thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi không hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên của một hành trình bi thảm khác, có tên gọi là “Mạt Lộ”.

Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

Viết xong ngày 1 tháng 6 năm 2012.
Viết cho ngày Quân Lực VNCH 19/6

NĐC.

https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2012/07/05/ndc-toi-mo-long-xem-lai-vet-thuong/


 

 

 




Đời Lính


Cuối tháng 5 đơn vị chúng tôi di chuyển đi Kiến phong.Tôi nhớ lại những ngày bảo vệ chiếc sáng múc đất khơi kinh Ðồng Tiến tại Hồng Ngự. Lúc chúng tôi có mặt tại kinh, sáng xúc bùn thổi lên hai bên bờ kinh nằm cách Ngã năm Tràm Chim hai cây số. Sở dĩ Ngã năm có tên như vậy vì là nơi giao nhau của hai con kinh Đồng Tiến và Rạch Đường Gao và một nhánh bắt từ ngã tư giao lộ này một kinh đào khác chạy ngược lên lên hướng tây bắc đi về hướng Tân phú, Tràm Dơi.Hành quân tại vùng IV.

Tiểu đoàn 3/11 là tiểu đoàn nhận nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho công tác đào kinh, trực tiếp canh gác an ninh cho tầu sáng xúc đất. Mỗi đại đội của tiểu đoàn đựơc phối trí trên 10 chiếc xuồng công binh, nằm toả nan quạt hai bên chiếc tàu sáng chừng non cây số. Ở đây muỗi đòn sóc nhiều vô kể số. Mỗi buổi chiều về, khi mặt trời vưà khuất, bóng từng đàn muỗi bay từ chung quanh đồng cỏ tới như những đám sương mù. Mọi sinh hoạt như tạm ngưng lại vì mọi người phải chui vào trong mùng tránh muỗi. Trâu bò cũng phải ngủ trong mùng! Buổi sáng, buổi trưa, lính tráng quan quyền đi lang thang trên những cánh đồng cỏ năn cỏ lác, từ Kinh Hương Quản Tân, tới Giòng Các, Đồng Cộ… một giải đồng cỏ thẳng cánh cò bay để tìm vũng tát cá. Cá cũng nhiều vô kể, cá rô, cá lóc, cá sặt tát vũng đem về phơi khô chất đầy cả xuồng. Có cái thú nào bằng nằm giữa cánh đồng bao la, gió thổi mà suy ngẫm chuyện đời, hoặc kể lể chuyện riêng tư cho nhau nghe?

Photo:
Quân trường - Bò hỏa lực
Sau năm tuần lễ huấn nhục, ai vượt qua được, sẽ tham dự lễ gắn Alpha, để chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan. Ngày quì xuống Vũ Đình Trường để nhận cái lon Alpha vào vai áo, chúng tôi cảm thấy rất tự hào, vì đã lập một kỳ công là tự chiến thắng chính mình để trở thành một người lính, không còn hèn yếu bạc nhược như xưa nữa. Khi chúng tôi quá quen thuộc với các bãi tập như: bãi Cây Đa, Đồi 30, bãi Nhà Xập, cầu Bến Nọc… Cũng là lúc sắp đến ngày ra trường. Gần tới cuối khóa, chúng tôi còn phải vượt qua những bài học cam go như bài: đại đội vượt sông, đại đội di hành dã trại… Cuối cùng điều mà chúng tôi mong đợi từ lâu, đó là ngày làm lễ ra trường, tất cả chúng tôi trong quân phục Đại Lễ, xếp hàng ngay ngắn tại Vũ Đình Trường, rồi một tiếng thét lồng lộng của Sinh Viên Sĩ Quan chỉ huy buổi Lễ:

- "Quì xuống các Sinh Viên Sĩ Quan!"

Sau khi đọc các lời tuyên thệ và được gắn lon Chuẩn Úy, tiếng thét chỉ huy lại cất lên một lần nũa:

- “Đứng lên các Tân Sĩ Quan!”.

Trong số chúng tôi có người muốn ứa nước mắt, cái lon mới được gắn lên vai, đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi gian khổ sao kể xiết.

Ngày hôm sau chúng tôi tụ họp lên hội trường để chọn đơn vị, tới phiên tôi lên chọn, có một điều làm tôi nhớ mãi. Đứng trước tấm bảng phân chia về các đơn vị, tôi định chọn về Sư Đoàn 7 cho gần Sài Gòn, bỗng cái Ông Thượng Sĩ đứng phụ trách tấm bảng bèn đưa ra lời bàn:

- “Chuẩn Úy nên chọn về Sư Đoàn 9 vì vùng trách nhiệm nhẹ hơn, Sư Đoàn 7 trách nhiệm vùng Cái Bè Cai Lậy rất nặng nề.”.

Oái oăm thay! Ngày hành quân đầu tiên của tôi là vùng Cái Bè, bởi lẽ đơn vị tôi tăng cường cho Sư Đoàn 7.

Tôi trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 9 tại Vĩnh Long, Sư Đoàn này có ba Trung Đoàn: 14, 15 và 16. Tôi được đưa về Trung Đoàn 14. Tôi lại mang vác ba lô về trung đoàn 14 đang hành quân vùng Cái Bè. Từ Sài Gòn qua Ngã Ba Trung Lương, chạy thêm một đoạn xa nữa thì tới Cai Lậy rồi tới Cái Bè, xong quẹo mặt, chạy tít mù vào sâu bên trong khoảng 20 cây số, tới cuối đường lộ thì gặp một cái Xã mang tên Hậu Mỹ, ngay tại đây chính là cái ruột của Đồng Tháp Mười, lính tráng hành quân vùng này nghe cái tên Hậu Mỹ là đủ ớn xương sống. Không hiểu sao, ở giữa Đồng Tháp Mười lại có một nơi dân cư sinh sống bằng nghề nông rất trù phú.

Photo: Quân trường
Đám Tân Sĩ Quan chúng tôi sau khi trình diện Trung Đoàn Trưởng thì được giữ lại Bộ Chỉ Huy vài hôm để tập làm quen với cách làm việc của nơi này. Sau đó Ban Quân Số phân chia về các nơi. Vị sĩ quan Quân Số hỏi - có Chuẩn Úy nào tình nguyện về Đại Đội Trinh Sát hay không? Tôi đáp nhận. Nói theo kiểu Cao Xuân Huy trong Tháng Ba Gẫy Súng - tôi chọn về đơn vị tác chiến thứ thiệt này, mà trong lòng không có một chút oán thù nào về phía bên kia, mà chỉ vì cái máu ngông nghênh của tuổi trẻ, và kế đó là bị kích thích bởi cảm giác mạnh của chiến trường.

Một Trung Đoàn Bộ Binh có ba Tiểu Đoàn và một Đại Đội Trinh Sát, đám chúng tôi có 12 thằng, được phân chia về các Tiểu Đoàn, chỉ có mình tôi về Trinh Sát. Sau khi chia tay ở sân cờ xong, chúng tôi ra đi biền biệt, hầu như không còn gặp nhau nữa. Đại Đội Trinh Sát cho người lên dẫn tôi về trình diện Đại Đội Trưởng, lúc đó đơn vị đóng ở ngoài căn cứ của Trung Đoàn. Trung Úy Đại Đội trưởng có biệt danh là Đại Bàng, dáng người cao to trông rất dữ dằn, cặp mắt ti hí luôn luôn nhìn chằm chằm tóe lửa, giọng nói gầm gừ trong họng, tất cả đều toát ra một nét uy phong làm khiếp sợ người đối diện (trong đó có tôi). Tôi đứng nghiêm chào trình diện theo đúng quân phong quân kỷ:

- “Chuẩn Úy NĐC, số quân 72/150181, trình diện Đại Bàng”.

Ông ta nhướng mắt nhìn tôi, trên gương mặt hình như có nét thất vọng (mãi về sau này tôi biết điều đó đúng như vậy). Nhìn tôi một hồi, rồi ông ta phán cho tôi một câu nhớ đời:

- “Anh về làm Trung đội Phó Viễn Thám!”.

Trời đất! Tôi nghĩ thầm, cái bằng tốt nghiệp của tôi là Trung Đội Trưởng, mà giao cho tôi làm Tr. đội phó là sao nhỉ? Lúc đó tôi không biết rằng làm Tr. đội phó là còn may, các sĩ quan về sau nữa có khi còn làm Trưởng Toán Viễn Thám, thiệt là chết dở.

Đại Đội lúc đó có khoảng trên trăm người, được chia làm hai Trung Đội Trinh Sát và một Trung Đội Viễn Thám. Các sĩ quan Trung Đội Trưởng ra trường trước tôi vài khóa mà trông rất ngầu, uống rượu như điên, đồng thời nói năng rất bạt mạng. Còn lính tráng nữa chứ, tôi nhìn họ mà sợ lắm, họ được tuyển chọn từ các nơi khác về đây, nên trông rất khiếp hồn, phần lớn họ là gốc nhà nông, chỉ biết đọc biết viết là nhiều. Lạ một điều là tất cả những người lính này đều đối với tôi rất lễ độ, có lẽ phát xuất từ kỷ luật quân đội chăng?

Đồng đội, chiến hữu
Sau một thời gian sống gần gủi với họ, tôi thấy họ là những người rất đáng mến, thật thà chất phác, rất tôn trọng nghĩa tình, một khi họ quí trọng một cấp chỉ huy nào thì họ sẵn sàng xả thân, họ hoàn toàn không dễ sợ như tôi nghĩ lúc đầu.

Vài hôm sau, gặp bữa đại đội tề tựu đông đủ, Đại Bàng đưa tôi ra giới thiệu trước đại đội, rồi bảo tôi phát biểu. Trời đất ơi! Tôi run quá, hai đầu gối cứ run lẩy bẩy, tôi có bao giờ nói chuyện trước một đám đông trông khiếp hồn như thế này bao giờ đâu! Cho nên tôi ngượng nghịu lắm, vừa nói vừa ngó xuống đất, không dám ngó mặt ai, bẽn lẽn như cô dâu mới về nhà chồng… Bây giờ nghĩ lại tôi không còn nhớ tôi nói cái gì nữa, nhưng tôi vẫn nhớ tiếng chắc lưỡi bực mình của Đại Bàng đứng sau lưng tôi, nói được chừng 10 phút thì tôi hụt hơi hết sức, Đại Bàng phải ra lịnh giải tán đám đông. Ông giận dữ kéo tôi ra chỗ vắng, rồi hất hàm hỏi tôi:

- “Chuẩn Úy tốt nghiệp Trường Sĩ Quan nào vậy?”

Tôi biết ngay là có chuyện không ổn, bởi vì khi ông xếp gọi mình bằng cấp bậc là tai họa đến nơi rồi. Tôi đáp:

- “Tôi tốt nghiệp từ Trường Bộ Binh Thủ Đức”.

Ông ta bèn xáng cho tôi một câu nhớ đời:

- “Vậy mà tôi tưởng Chuẩn Úy tốt nghiệp từ Trường Nữ Quân Nhân chứ”!

Tôi nghe mà choáng váng mặt mày, ông ta đã điểm trúng tử huyệt của tôi, vì hồi còn là Sinh Viên Sĩ Quan trong Thủ Đức, chúng tôi coi là điều sỉ nhục, khi bị cấp trên mắng là Nữ Quân Nhân. Tối hôm đó khi đi ngủ tôi buồn lắm... Hình như tôi bị quăng vào môi trường sống không phù hợp với mình, một nơi chốn mà tôi chưa từng biết bao giờ, bởi lẽ trước nay tôi chỉ là anh học trò, bấy lâu chỉ làm bạn với sách vở, với bạn bè với trường lớp? Bây giờ giữa chốn ba quân này, tôi bỗng nổi bật lên như cái gì đó không giống ai. Lúc đó, tôi nhớ Ba Mẹ tôi ở nhà, và tôi nghiệm ra một điều rằng - ăn chén cơm của Ba Mẹ tôi sao mà sung sướng quá, bởi lẽ Ba Mẹ chưa hề sỉ nhục tôi, còn khi ra đời, ăn chén cơm của người đời sao đầy cay đắng! Tôi lặng lẽ ứa nước mắt.

Tôi về làm Phó cho Chuẩn Úy Vương Hoàng Thắng, khóa 3/72, anh ta là người trí thức có bằng Cử Nhân CTKD, thấy tôi cà ngơ cà ngáo, anh ta thương tình kêu đệ tử giúp đỡ cho tôi mọi chuyện. Chiều hôm đó, tôi lại gặp một chuyện khôi hài dỡ khóc dỡ cười, không sao quên được. Chiều đến, lính tráng kéo ra bờ sông tắm giặt, tôi cũng đi tắm như họ, thay vì nhảy ào xuống sông bơi lội như mọi người, nhưng tôi lại rất sợ đỉa nên đứng trên bờ cầm nón sắt múc nước sông mà xối lên người. Tắm một hồi, tôi cảm giác có cái gì đó là lạ, nhìn quanh thấy mọi người chăm chú nhìn tôi, và xầm xì bàn tán chuyện gì đó, rồi bỗng nhiên cả đám cười rộ lên, có tên lính lên tiếng:

- “Sao Chuẩn Úy không xuống tắm như tụi tôi mà đứng chi trên bờ? Ý trời ơi! Sao da của Chuẩn Úy trắng nõn như da con gái vậy?”.

Tôi ngượng chín người, máu chạy rần rần trên mặt, muốn chui xuống đất mà trốn cho đỡ xấu hổ. Vậy mà đã hết đâu, có cái ông Thượng Sĩ già đứng gần, còn đớp cho tôi thêm một nhát:

- “Ý cha! Cái bàn chân Chuẩn Úy sao mà đẹp quá, bàn chân này có số sung sướng lắm đây!!!”

Thiệt là khổ cho cái thân thư sinh của tôi, hết làm Nữ Quân Nhân, bây giờ lại giống con gái, thiệt là chán...

Miền Tây là vùng đất nổi danh sình lầy, Hậu Mỹ là nơi đã tiếp đón tôi trong những ngày đầu về đơn vị, cũng là nơi sình lầy ghê khiếp. Dân trong xã người ta cất nhà dọc kinh Tổng Đốc Lộc, ra khỏi mí vườn là ruộng lúa xạ ngút ngàn. Sáng sớm, lính tráng lo cơm nước xong xuôi là bắt đầu nai nịt lên đường, súng đạn ba lô trên vai, để tham dự cuộc hành quân thường ngày, bước ra khỏi mí vườn là bắt đầu lội ruộng, trước tiên nước đến ngang đầu gối, rồi khi qua những trãng sâu, nước cao tới ngực, và cứ thế quần áo ướt sũng từ sáng tới chiều, cho nên quần áo tụi tôi nhuộm phèn vàng chạch, trong rất kỳ quái.

Photo:
Hành quân mùa nước lũ
Khi ở quân trường tôi tưởng nỗi gian khổ của người lính là cao nhất, sau khi ra đơn vị tôi mới thấy được rằng, nỗi khổ quân trường chỉ là khúc dạo đầu, không thấm thía gì so với ngoài thực tế. Vùng Hậu Mỹ là vùng lúa xạ nên rất ít bờ ruộng, khi đặt chân xuống ruộng là phải đi một mạch tới bờ bên kia cách xa vài cây số, không ngừng giữa đường được.

Đất ruộng người dân họ cày xới lên từng tảng to nhỏ như trái dừa, ngổn ngang lổ chổ, và nước lấp xấp. Tôi vừa đi vừa lựa thế để đặt chân xuống, sình lầy bám chặt nên rút bàn chân lên thật khó nhọc, mặt trời rọi ánh nắng gay gắt, mồ hôi tuôn ra đầm đìa, lúc đầu tôi còn lấy tay áo gạt mồ hôi, sau cứ để mặc, mồ hôi nhỏ lăn tăn lên mặt ruộng. Đó là tôi mang ba lô rất nhẹ, chỉ có quần áo đồ đạc cá nhân, còn lương thực lều võng đã có đệ tử mang vác phụ. Tôi ngó qua những người lính đi chung quanh, thấy họ mang vác rất nhọc nhằn, họ phải oằn lưng mang lều võng, súng đạn, mìn bẫy, gạo, cá khô, đồ hộp, mắm muối… Người thì đeo trên ba lô cái nồi, người thì mang cái chảo, họ lặng lẽ bước đi, tôi không hề nghe một lời than van nào hết, họ cắn răng lại mà cam chịu, có than van cũng không ai nghe.

Khi đi tới bờ kinh ở tít đằng xa, áo tôi ướt sũng mồ hôi, cho đến nỗi, tôi cởi áo ra vắt, mồ hôi chảy ra ròng ròng. Tôi mệt muốn đứt thở, bèn nằm vật xuống đất, tôi mặc kệ hết mọi điều, không còn biết trời trăng gì nữa hết, lúc đó tôi nghĩ có ai bắn cho tôi một phát súng ân huệ, chắc còn sướng hơn, đời lính sao mà khổ quá!

Theo Đặc San Cư An Tư Nguy (câu này là châm ngôn của Trường Bộ Binh Thủ Đức) phát hành tại San Diego, thì Quân Trường này đã đào tạo 55 ngàn sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn sĩ quan đã tử trận, và không dưới 10 ngàn người đã trở thành phế binh thương tật. Trung Đội Trưởng là chức vụ đầu tiên của sĩ quan mới ra trường, và là chức vụ duy nhất chỉ huy bằng miệng (các cấp cao hơn thì chỉ huy qua máy truyền tin). Khi xung phong chiếm mục tiêu, Trung Đội Trưởng cũng ôm súng chạy ngang hàng với lính, khi đóng quân phòng thủ đêm, Trung Đội Trưởng cũng nằm ngang với lính. Trước mặt Trung Đội Trưởng không có bạn nữa mà chỉ có phía bên kia. Cho nên nếu lính dễ chết thì Trung Đội Trưởng cũng dễ chết y như vậy, súng đạn vô tình nên không phân biệt ai với ai, quan với lính đều bình đẳng trước cái chết. Đó là lý do giải thích tại sao Chuẩn Úy mới ra trường chết như rạ là vì thế. Vậy mà tôi còn làm Trung Đội Phó, không biết nói sao nữa.

Có một bữa, tôi lội hành quân với đơn vị, đang bì bõm lội sình, thì tiếng súng nở rộ lên phía trước, Trung Đội tản ra, tôi cùng Chuẩn Úy Thắng và đám đệ tử tấp vào một lùm chuối khá lớn. Tôi đứng đó nhìn trời hiu quạnh một hồi rồi bỗng thấy làm lạ sao thấy C/U Thắng im lìm không có lịnh lạc gì cả. Bỗng tay lính Truyền Tin nói với C/U Thắng:

- “Đại Bàng kêu C/U lên trình diện gấp!”

C/U Thắng bỏ đi một đoạn, thì lính Truyền tin lại bảo tôi:

- “Đại Bàng muốn gặp C/U Châu.”.

Tôi cầm ống nghe áp vào tai, thì nghe Đại Bàng chửi xối xả, giọng Ông lồng lộng một cách giận dữ, té ra là do C/U Thắng quá sợ nên không dám tấn công, ông hét lên bảo tôi:

- “Nè! C/U Châu, tôi giao Trung Đội lại cho ông, ông có dám dẫn quân lên đánh mục tiêu trước mặt hay không?”.

Tôi nghe mà sợ muốn “té đái”, run lập cà lập cập, rồi trả lời ông:

- “Xin tuân lịnh!”.

Tôi tháo ba lô quăng lên bờ ruộng cho nhẹ người, rồi vói tay lấy khẩu súng trường của người lính bên cạnh, miệng chỉ kịp kêu lớn:

- “Tất cả theo tôi”.

Lúc đó tôi “quíu” quá, nên không nhớ bài bản chiến thuật nào mà tôi từng học ở quân trường, tôi xông lên vừa chạy vừa bắn vừa la (không biết la cái gì nữa), cả trung đội hoảng hốt sợ tôi bị bắn chết, nên cũng vùng dậy chạy theo tôi. Phía người anh em bên kia, thấy tôi chạy dẫn đầu rất hung hãn, tưởng tôi bị điên, bèn lập tức tháo lui, trong lúc vội vã họ còn quẳng lại tặng tôi mấy cây súng nữa chứ. Tôi thanh toán mục tiêu chỉ đâu chừng 10 phút, ai cũng tưởng tôi gan dạ, chứ đâu biết rằng tôi làm thế vì quá sợ ông sếp của mình. Thiệt là khôi hài! Đại Bàng kéo quân lên ông nhìn tôi gườm gườm, có lẽ ông chưa thấy một sĩ quan nào lập chiến công “khùng điên ba trợn” như tôi. Hết cơn giận, ông trả quyền chỉ huy lại cho C/U Thắng, tôi trở về vị trí cũ.

Sau đó tôi được điều động qua các Trung Đội khác, giải quyết công việc tạm thời cho các Trung Đội Trưởng đi phép hay bị thương… Một điều may mắn cho tôi, (hay Trời đãi kẻ khù khờ), khi tôi nắm quyền tạm thời đó, những trận đánh mà tôi tham dự, tôi đều hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt đẹp. Đại Bàng đã nhìn tôi bằng cặp mắt đỡ ái ngại hơn ngày đầu mới gặp tôi. Đại Bàng sau đó được thuyên chuyển qua một đơn vị khác và một Đại Bàng mới đến thay thế, ông trung úy mới đến này có dáng dấp thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, khiến tôi rất có cảm tình. Trong bữa nhậu bàn giao chức vụ, Đại Bàng cũ giới thiệu các sĩ quan trong đơn vị cho Đại Bàng mới được biết. Sau khi điểm mặt ba Trung Đội Trưởng, cuối cùng ông ta chỉ tôi là một Trung Đội Phó, rồi đưa ra một nhận xét làm sửng sốt mọi người:

- “Đây là một tay Sĩ Quan xuất sắc, một tay chơi tới bến!”

Hai người sững sốt nhất hôm đó là tôi và ông Đại Bàng mới. Đối với tôi, tôi chỉ cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình và cũng không hề muốn bương chãi về phía trước. Đối với Đại Bàng mới, ông ta lấy làm lạ là phải, bởi vì ông cứ ngỡ sĩ quan xuất sắc nhất phải là mấy ông Trung Đội Trưởng, sao lại là cái ông Trung Đội Phó trông hết sức ngớ ngẩn này. Tôi cũng không ngờ, cái lời nhận xét đó đã đẩy tôi vào một khúc ngoặc khác, đầy hung hiểm chết người.

Một thời gian ngắn sau đó, tôi được Đại Bàng mới cất nhắc lên làm Trung Đội Trưởng thực thụ. Tham dự hết trận đánh này đến trận đánh khác, để sống còn, không còn con đường nào khác, tôi phải vận dụng trí não đến cao độ cho công việc của mình. Càng ngày tôi càng đạt được sự tin cậy cao nơi cấp chỉ huy, chính điều đó đã đẩy Trung Đội tôi vào nơi tử địa.

Khi Đại Đội tiến quân vào nơi nguy hiểm, Trung Đội tôi được lịnh đi đầu, và khi rút quân từ nơi đó, Trung Đội tôi được lịnh bao chót. Khi tấn công tôi được giao chỗ khó gặm nhất, và khi phòng thủ Trung Đội tôi được nằm ở vị trí nặng nề nhất. Người ta thường nói: “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”, tôi không phải là Tướng, chỉ là một sĩ quan có cấp bậc và chức vụ thấp nhất, nhưng lính tráng dưới quyền tôi đã chết la liệt, có khi chết nhiều đến nỗi, tôi chưa kịp nhớ mặt người lính của mình nữa.

Bởi sự tin cậy của Đại Bàng dành cho tôi, mà Trung Đội tôi phải gánh chịu những tai ương này. Ông ta rất quí mến tôi, ông chưa hề quát mắng tôi một tiếng nặng lời, có món nào ngon ông sai đệ tử đi mời tôi đến cùng ăn với ông, có huy chương nào quí giá, ông cũng ưu tiên dành cho tôi. Ông quí tôi như vậy vì ông biết rằng, nếu ông cứ xử dụng tôi như vậy, trước sau gì tôi cũng chết. Làm sao tôi sống nỗi, khi xua quân đi hết mặt trận này đến mặt trận khác, mà toàn là những nơi 'đầu sóng ngọn gió', vậy mà tôi sống, mới kỳ!

Khi về đơn vị này, tôi có được một sự may mắn là đơn vị lưu động khắp các tỉnh Miền Tây. Khởi đầu của tôi tại Cái Bè - Cai Lậy với các địa danh nổi tiếng như Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây, Bà Bèo, Láng Biển… Từ Cai Lậy đi về hướng Bắc khoảng 60 cây số là tới Mộc Hóa, từ Tuyên Nhơn kéo qua Tuyên Bình, có một chỗ tận cùng tên Bình Thạnh Thôn, đây là một trong những chiến trường ác liệt nhất của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Từ nơi này chúng tôi ngồi Thiết Giáp băng ngang qua Đồng Tháp Mười để tới Hồng Ngự, và chính cái lúc băng ngang này, tôi mới biết rõ về Đồng Tháp Mười, đây là một vùng đầm lầy kinh sợ nhất, đi suốt một ngày với xe Thiết Giáp, tôi không thấy một cây cỏ nào mọc nổi ngoại trừ loại cây bàng (một loại cây họ cỏ dùng dệt chiếu), không có một bóng chim, không có một con cá, nước phèn màu vàng chạch, tóm lại không có một sinh vật nào sống nổi trong vùng này đừng nói chi đến con người, vùng đầm lầy dài ngút mắt đến chân trời, khung cảnh im lìm đến ghê rợn.

Rời Mỹ Tho, chúng tôi băng ngang Sông Tiền bởi Phà Mỹ Thuận, rồi băng ngang Sông Hậu với Phà Cần Thơ, xuôi theo lộ tới Cái Răng-Phụng Hiệp, rồi rẽ vào Phong Điền - Cầu Nhím, tôi ngạc nhiên trước một vùng đất giàu có tột bực này, ở đây người dân sinh sống bằng vườn cây ăn trái, sáng sớm ghe chở trái cây chạy lền trên mặt sông để đến điểm tập trung giao hàng đi các nơi, nhà cửa ở miệt vườn mà trông rất bề thế. Rồi chúng tôi đến Phong Phú-Ô Môn, tiến sâu vào bên trong chúng tôi đến Thới Lai-Cờ Đỏ, sự trù phú không sao kể xiết, có khi chúng tôi ngồi Tắc, ráng đi từ Thới Lai đến Cờ Đỏ, hai bên bờ kinh nhà cửa nguy nga tráng lệ, không hề có nhà tranh vách đất nào cả, nhà nào cũng có xe máy cày đậu trước sân. Tuy nhiên vào sâu hơn nữa, chúng tôi cũng gặp những vùng hoang vu như Bà Đầm -Thát Lác, dân chúng tản cư đi hết, nhà cửa hoang phế, trông rất âm u rợn người.

Trong tất cả những vùng mà tôi đã đi qua, có một vùng đất hết sức lạ lùng, và là một nơi đối với tôi đầy ắp kỷ niệm, vừa thích thú vừa buồn rầu. Mỗi khi hồi tưởng về một thời chiến trận, tôi đều nhớ về nơi ấy. Cuộc chiến đã ngừng 37 năm qua, vậy mà tôi chưa hề một lần nào trở về lại nơi chiến trường xưa, để thắp một nén hương tưởng mộ những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi này.

Mùa Khô năm '74, Đại Đội chúng tôi được trực thăng bốc từ phi trường Cao Lãnh, đổ xuống một cánh đồng bát ngát nằm cạnh biên giới Campuchia. Trung Đội tôi nhảy líp đầu, khi xuống tới đất tôi hết sức ngạc nhiên về vùng đất nơi đây. Cánh đồng khô khốc và phẳng lì, không hề có một bờ ruộng nào cả (sau này tôi được biết đây là vùng nước nổi, khi nước từ Biển Hồ tràn về, thì không có bờ ruộng nào chịu đựng nổi, nên người ta cứ để trống trơn như vậy, ruộng của ai người đó biết). Trên cánh đồng lại có rất nhiều gò nổi lúp xúp ở khắp nơi. Khi Trung Đội tôi rời khỏi trực thăng, tôi lập tức ra lịnh tiến quân theo thế chân vạc thiệt nhanh nhằm chiếm một gò nổi trước mặt, khi cách gò chừng một trăm thước, tôi cho tất cả dừng lại dàn hàng ngang yểm trợ, rồi tôi phóng ba khinh binh vào lục soát, sau một hồi thấy không có gì, họ khoát tay cho cả Trung Đội tiến vào. Khi vào tới nơi, sau khi bố trí xong, tôi thấy trên gò có thật nhiều cây xanh che bóng mát, và có vài đìa cá, lính tráng lội ùa xuống xúm lại tát đìa, khi đìa cạn, cá lộ ra lội đặc lềnh như bánh canh.

Một lát sau cả Đại Đội theo trực thăng kéo tới kéo vào gò trú ẩn cũng vừa đủ. Đêm tới, chờ trời tối hẳn, Đại Bàng ra lịnh kéo cả đơn vị ra đồng trống để đóng quân đêm, vì vị trí ban ngày đã bị lộ, đêm đó chúng tôi không ngủ được gì cả, vì lũ chuột đồng ở đâu kéo tới, chúng bò ngang dọc, lùng sục chỗ đóng quân của chúng tôi, lại còn chui tọt vào mùng gặm nhắm chân tay của chúng tôi nữa chứ. Tờ mờ sáng hôm sau, có một đoàn xe bò đông đảo khoảng mười mấy chiếc kéo ngang chỗ đóng quân, lính tráng hỏi họ đi đâu, họ nói họ kéo nhau đi tát đìa, trời đất! Tát đìa mà kéo một đoàn xe bò như thế này ư? Chiều đến, không biết họ đi đến đâu, mà khi kéo xe về, xe nào cũng đầy ắp cá, họ chứa lủ khủ trong thùng trong chậu lớn, sau đó họ kéo ra bờ sông giao cho ghe hàng chờ sẵn, chở cá về Hồng Ngự.

Hôm sau chúng tôi kéo vào xóm nhà cất dọc theo bờ Rạch, có tên là Rạch Cái. Khi vào đến nơi tôi lại đứng trố mắt ra nhìn, nhà gì mà kỳ dị như thế này, người dân họ cất nhà cao lêu nghêu theo kiểu nhà sàn, tôi biết ngay là họ phải cất nhà như thế để sống cùng với lũ. Nơi đây đúng là cùng trời cuối đất, tiếng bình dân gọi là Hóc Bà Tó, đây cũng là vùng đất tranh chấp giữa hai bên, chiến trận nổ ra liên miên, nên người dân họ sống rất là tạm bợ, cả xã có vài ngàn người mà chỉ có vài người biết đọc biết viết.

Họ thông thương với bên ngoài bằng các ghe hàng tạp hóa, hay ghe hàng bông (rau quả), được chở tới từ Hồng Ngự. Nhà nào cũng có một lu mắm cá, có nhà còn có lu mắm chuột đồng, đó là thức ăn phòng hờ cho mùa nước nổi. Ghé vào nhà chơi, chủ nhà rất hiếu khách và xởi lởi, bưng ngay ra một chai rượi đế, rồi hối người nhà xé mắm sống trộn dấm tỏi ớt đường, bưng ra mời chúng tôi ăn với khoai lang hay bắp luột, lúc đầu tôi thấy sợ lắm không dám ăn, sau vì nhiều người ép quá nên tôi cũng nếm được. Còn mắm chuột đồng thì cho tôi xá, nhìn thấy đã hãi nói chi tới ăn.

Đám lính chúng tôi đang lội sình mệt nghỉ, được đưa về một nơi khô ráo, lại đầy ắp thức ăn, thiệt là đã đời! Chúng tôi hành quân mà như đi picnic, nhưng trong tôi linh cảm điều gì đó không ổn, đơn vị chúng tôi luôn luôn được tung vào những nơi hiểm địa, chớ đâu phải đi chơi như thế này.

Photo:
Khoảng 12 xe bọc sắt M113 - thiết giáp hành quân lục soát
Sau một thời gian hoạt động đơn độc, chúng tôi được tăng cường một chi đoàn Thiết Giáp, có khoảng 12 xe bọc sắt M113. Với sự phối hợp này vùng hoạt động của chúng tôi rộng lớn hơn. Hằng ngày, chúng tôi ngồi trên xe thiết giáp hành quân lục soát nơi này nơi nọ, vẫn yên bình, không hề có tiếng súng. Rồi cái ngày dông bão đó đã đến. Hôm đó, bình thường như mọi ngày, chúng tôi lên xe đi hành quân. Đi đến các điểm đã được chỉ định sẵn trên bản đồ, đi đến chỗ này lục soát, không có gì lại đi đến chỗ khác. Cuối cùng đoàn xe đến một điểm, bất chợt đoàn xe dàn hàng ngang ngoài ruộng, hướng về mục tiêu là một bờ vườn rậm rạp. Lính Trinh Sát tụi tôi được lịnh xuống xe, tiến vào bờ vườn, Trung Đội tôi tiến về phía bên trái của đội hình Đại đội. Đang đi tôi bỗng lên tiếng:

- “Tất cả tản ra mau, đi túm tụm như vầy dễ ăn đạn lắm!”.

Không ngờ lời nói của tôi “linh như miểu”, đạn phát nổ vang trời dậy đất, tôi bị trúng đạn, bật người ngã xuống đất, máu ở đâu chảy xuống mặt tôi thành dòng, tôi ra lịnh bắn trả xối xả, nếu không phía bên kia họ thừa thắng xông lên thì thật là nguy khốn. Súng nổ một chập thì im lặng, lúc đó tôi mới rảnh tay rờ rẫm khắp người xem mình bị thương nơi đâu. Tôi giật mình kinh ngạc và cảm thấy hết sức lạ lùng, bởi vì tôi bị bắn trúng một lượt hai viên đạn súng tiểu liên AK, một viên bắn trúng vào đầu mũi súng ngắn tôi nhét trước bụng, viên đạn bể ra văng tứ tán lên mặt lên cánh tay, nên máu tuôn ra thành dòng là vì thế, xong phần còn lại của viên đạn chui tọt vào đùi, máu tuôn ra khá nhiều nhưng không nguy hiểm. Viên đạn thứ hai, mới thật là ghê rợn, viên đạn bắn trúng vào cái bóp tôi để trên túi áo trái, ở phía trước trái tim, viên đạn quậy nát cái bóp, tôi để rất nhiều tiền vì mới lãnh lương, tiền và giấy tờ đã cuốn viên đạn lại, nằm yên trong đó, có lẽ viên đạn được bắn ra trong khoảng cách quá gần, làm viên đạn không đủ sức xuyên phá. Lúc đó tôi sợ lắm, bởi vì tôi nghĩ phải có một phép lạ thiêng liêng nào đó đã che chở cho tôi, chứ trên đời này hiếm có ai bị bắn trúng một lượt hai viên đạn mà còn sống như tôi vậy!
Cũng ngay lúc ấy, tôi chợt nghe một tiếng rên yếu ớt của người lính đệ tử của tôi:

- “Thiếu Úy ơi! Cứu em!”

Photo:
Anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ.

Hôm nay, một trong hai người đệ tử đã hứng đạn cho tôi, khi ngã xuống đã kêu lên lời cầu cứu đến tôi. Ít lâu sau thì anh ta chết, tiếng kêu thảm sầu của anh ta đã xoáy vào lòng tôi, và ở yên trong đó từ ngày ấy cho đến bây giờ. Vậy mà 37 năm đã trôi qua, tôi chưa có một lần nào về đứng trước mộ anh, để đốt một nén nhang nói lời cảm tạ. Anh ta là hạ sĩ Nguyễn Văn Đồng, một cái tên vừa bình thường vừa vô danh, nằm lẫn khuất đâu đó trong một triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh tức tưởi này.

Sau khi tôi bị thương, tôi giao Trung Đội lại cho Trung Đội Phó là Chuẩn Úy Nguyễn Thọ Tường. Tôi ra ngoài, leo lên xe thiết giáp ngồi nghĩ và ngó vào trận địa, tôi chợt thấy Chuẩn Úy Tường dàn đội hình hàng ngang xung phong vô mục tiêu, tôi kêu lên thảng thốt:

- “Đừng làm thế, Tường ơi!”.

Sau đó Trung đội tôi bị bắn tan tác, C/U Tường bị trúng đạn chết tại mặt trận, mắt vẫn mở thao láo, có lẽ anh ta không biết sao mình lại chết như vầy. Trung Đội tôi coi như tan hàng xóa sổ. “Tường ơi! Vĩnh Biệt”. Không biết sao Đại Đội tôi đóng quân bên bờ Rạch Cái Cái rất lâu. Rồi tới ngày Mùa Nước Nổi kéo về, nước chảy ào ào một chiều duy nhất, không có cảnh nước ròng nước lớn gì nữa hết. Nước mỗi ngày dâng cao cả gang tay, đến lúc này đây mới thấy lúa Xạ là một loại lúa kỳ diệu, nước dâng tới đâu thì lúa dâng tới đó, nước sâu 5-6 mét thì cây lúa cũng dài nhằng ra 5-6 mét, tôi chưa thấy nơi nào cây lúa lại kỳ dị như vậy.

Rồi đến lượt cá Linh tràn về, cá nhiều đến nỗi không biết cơ man nào kể cho xiết, có khi tôi thấy cá Linh nỗi lềnh lên cả một khúc sông, và kỳ lạ một điều nữa là người dân ở đây thà ăn mắm ăn muối chớ họ không ăn cá linh, họ nói họ thấy cá Linh cả đời nên tự nhiên họ đâm ngán tới cổ. Ô! nước cứ dâng lên mãi, khiến chúng tôi kiếm chỗ đóng quân khá vất vả, chúng tôi rút lên gò thì rắn với chuột cũng kéo lên gò, ban đêm chúng cứ bò xục xạo trong mùng chúng tôi trông thật ghê khiếp.

Cả đơn vị phải chẻ nhỏ ra thành từng toán, vào hôm đó toán của thầy trò chúng tôi đi tới một cái gò còn khô ráo, đêm đó như thường lệ tôi ngủ dưới một mái lều, tới nửa đêm tôi đang ngủ mê mệt, thì cảm thấy có ai đang khều khều đầu mình, ở chốn trận tiền ai ngủ cũng phải thật nhạy thức, tôi cũng vậy, tôi tưởng lính gác báo động nên vội ngồi dậy ngay, tôi ngó ra ngoài lều thì thấy dưới bóng trăng sáng vằng vặc một em bé gái khoảng 13-14 tuổi đứng nhìn tôi và mĩm cười thật tươi tắn, tôi trố mắt nhìn ngẩn ngơ một hồi rồi mới biết đó là hồn ma, tôi sợ quá vội vàng nằm xuống kéo mền trùm kín đầu.

Chốn tên bay đạn lạc người dân khốn khổ không sao kể xiết
Sáng hôm sau, tôi thấy chỗ tôi ngủ nằm kề bên một cái bàn thờ bằng gỗ xiêu vẹo mục nát. Tôi bèn rảo bước vào xóm để hỏi thăm về cái gò này, được người dân cho biết: Trước kia có một em bé nhà nghèo lắm, hàng ngày chèo xuồng ra đồng nhổ bông súng, đem vô xóm bán dạo, một hôm em cũng chèo ghe ra đồng như hàng ngày, sau đó súng đạn nổ ran, em bị đạn lạc chết trên gò, em chết trẻ hồn thiêng không siêu thoát, đêm đêm hiện về khóc lóc thảm thiết, dân làng thấy vậy bèn làm cho em một cái bàn thờ gỗ để nhang khói cho em, câu chuyện thật tội nghiệp! Ở nơi chốn tên bay đạn lạc này, đời sống người dân khốn khổ không sao kể xiết, nếu họ muốn đi đến một nơi chốn an lành khác, họ cũng không biết đi đâu, mà nếu có đi cũng không biết lấy gì mà sống.

Trong đời lính của tôi, tôi sợ nhất là phải đi báo tin tử trận hoặc thăm viếng những gia đình có người thân chết trận, vậy mà có một lần tôi đã phải làm chuyện này một cách bất đắc dĩ. Chuẩn Úy Nguyễn Mạnh Hà ra trường sau tôi khoảng một năm, lúc đó anh ta mới 19 tuổi, còn đặc sệt nét con nít. Tôi nhớ hồi tôi mới ra trường trông đã rất chán, anh chàng này trông còn chán hơn tôi nữa. Mặt của Hà còn đầy mụn trứng cá, suốt ngày chỉ thích ngậm kẹo, có ai rủ nhậu, nể lắm anh ta mới uống, vừa uống vừa chắc lưỡi hít hà như uống thuốc độc. Điều đặc biệt nhất của Hà là anh ta rất sợ tiếng nổ, khi nghe súng nổ anh ta nhắm chặt mắt, bịt kín lỗ tai, và mặt mày thì tái mét. Anh ta về làm Phó cho tôi, làm giọng “hách”, tôi hỏi anh ta một cách xách mé:

- “Sao ông nhát như vậy mà xin về Trinh Sát?”

Anh ta bèn phân trần, anh ta đâu có xin xỏ gì đâu, Ban Quân Số thấy không có ai tình nguyện nên chỉ định bừa, dè đâu trúng ngay anh ta. Khi đụng trận tôi lo cuống cuồng đủ mọi chuyện, còn phải để ý đến anh ta nữa chứ, anh ta có biết gì đâu, thiệt khổ!
Càng về sau các sĩ quan rơi rụng dần dần, C/U Hà cũng được đưa lên làm Trung Đội Trưởng. Cái ngày định mệnh dành cho Hà là tại mặt trận Mộc Hóa. Cả Đại Đội được lịnh tấn công vào mục tiêu, Trung Đội của Hà và một Trung Đội nữa vỗ vào mặt chính diện, Trung Đội tôi thọc vào bên cạnh sườn. Hà dẫn Tổ Đại Liên chạy đến ẩn nấp vào một gò mả bằng đá ong, ngay lúc ấy phía bên kia phóng ra một trái hỏa tiễn B40, trúng ngay gò mả, viên đạn nổ tạt ra trúng ngay vào người Hà, tội nghiệp! Hà chết không toàn thây.

Lúc Hà còn sống, mỗi khi tôi về phép, Hà thường nhờ tôi ghé qua nhà Hà ở Sài Gòn, để mang dùm quà của gia đình xuống cho Hà, vì thế tôi khá thân thuộc với gia đình của anh ta. Hà mất được chừng một tháng, thì tôi xin được cái phép sáu ngày về thăm gia đình. Tôi bèn ghé qua nhà Hà nhằm nói lời chia buồn với gia đình anh ta. Tôi vừa tới, Ba Má của Hà chạy ùa ra nắm lấy tay tôi, rồi hỏi dồn dập:

- “Sao cái hôm em Hà nó chết, mà cháu lại không về đưa đám tang em?”.

Tôi lúng túng trả lời:

- “Thưa, lúc đó chúng cháu đánh nhau tưng bừng, làm sao cháu bỏ đơn vị mà về cho được.”

Thế là vừa ngồi xuống ghế, hai ông bà khóc ngất ngất, lúc đầu ông bà còn lấy tay lau nước mắt, lúc sau thì để mặc, nước mắt tuôn ra xối xã làm ướt đầm cả ngực áo. Tôi kinh hoàng ngồi chết điếng, tôi chưa bao giờ gặp phải một trường hợp bi thương tột độ đến như vậy. Ông bà vừa khóc vừa kể lể tiếc thương cho đứa con không sao kể xiết. Cha mẹ nào có con ra mặt trận, coi như đã chết nửa linh hồn, đêm ngày sống trong hốt hoảng lo âu, mong ngóng con mình, mãi về sau tôi mới nghiệm ra được điều này. Nghe ông bà than khóc một hồi, tôi không chịu đựng nổi nữa và tôi cũng không nói một lời phân ưu gì nữa hết, bởi vì lời nói nào cho đủ trước một mất mát quá lớn lao này. Rồi tôi nghĩ đến tôi, đến Ba Mẹ tôi, trong lòng tôi bỗng xộc lên một nỗi buồn khủng khiếp. Tôi lảo đảo đứng dậy từ giã hai ông bà để ra về.

Trên đường về tôi ghé vào một quán cóc, ngồi uống rượu một mình, tôi buồn lắm. Tối hôm đó tôi về đến nhà khá muộn, cả nhà chờ cơm tôi quá lâu nên đã dùng trước. Tôi ngồi vào bàn, Mẹ tôi bày thức ăn la liệt trên bàn cho tôi ăn. Vừa ăn tôi vừa nghĩ, mai kia nếu mình có chết, Mẹ cũng bày đồ cúng cho mình như thế này đây. Tôi chợt nhớ đến khuôn mặt đầm đìa nước mắt của Cha mẹ Hà, lúc đó bỗng nhiên tôi thương Ba Mẹ tôi vô cùng. Tôi vừa ăn vừa lặng lẽ chảy nước mắt.

Photo:
Tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa.
Cuối cùng vào tháng 2 năm 75, tôi bị thương một lần nữa tại mặt trận Mộc Hóa. Tôi được đưa về điều trị tại bịnh xá Tiểu Đoàn 9 Quân Y tại Vĩnh Long. Tại Bịnh xá, tôi theo dõi tình hình chiến sự trên cả nước, khi mất Ban Mê Thuột, tôi linh cảm có điều gì đó không lành.

Đến ngày 30-4-75, khi nghe lịnh buông súng đầu hàng, trong lòng tôi nát bấy.

Sáng ngày 1-5, tôi bước ra khỏi bịnh xá, đứng trên Quốc Lộ 4, tôi nhìn về hướng Cần Thơ, thấy mặt trời lên đỏ rực, báo hiệu một ngày mới. Lúc đó tôi không hề biết rằng, đó là cái ngày đầu tiên của một hành trình bi thảm khác, có tên gọi là “Mạt Lộ”.

Bài viết này của tôi sao buồn quá, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là sự thật, cho tôi viết một lần này thôi, như nhớ về một kỷ niệm, một kỷ niệm rưng rưng.

Viết xong ngày 1 tháng 6 năm 2012.
Viết cho ngày Quân Lực VNCH 19/6

NĐC.

https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2012/07/05/ndc-toi-mo-long-xem-lai-vet-thuong/


 

 

  Trường Bộ Binh Thủ Đức - Thủ Đức ARVN Infantry School

Quân Trường Trường Bộ Binh Thủ Đức đã đào tạo 55 ngàn sĩ quan, trong số đó có 15 ngàn sĩ quan đã tử trận, và không dưới 10 ngàn người đã trở thành phế binh thương tật.