Friday, November 7, 2014

Tại sao có cuộc Đảo Chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm?


Tại sao có cuộc Đảo Chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm?
 
Mời quý vị hữu xem lại một chi tiết trong bài viết dưới đây của Tác giả Phan đức Minh dưới nhan đề :_
Tại sao có cuộc Đảo Chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm?
  Xin trích đoạn văn dưới đây để biết lý do TT . Ngô Đình Diệm đã đi đến quyết định di chuyển chiến thuật Sư đoàn 9 BB từ miền Trung (Quy Nhơn) vào thay thế Sư đoàn 7 BB ( Mỹ Tho) vào đầu năm 1963 ! Tiếc thay do nghe lời khuyên dụ của vài vị tướng lảnh lúc đó mà cuối cùng thay vì hoán đổi căn cứ Bộ Tư lệnh , vùng chiến thuật với Sư đoàn 7 BB để trú đóng tại Mỹ Tho ( gần với thủ đô Sài Gòn khoảng 70 km ) Toàn thể các đơn vị quân số của Sư đoàn 9 BB hoán chuyển với Sư đoàn 21 BB để trú đóng tại Sa Đéc , Sư đoàn 21 BB dời về Sóc Trăng !
Do cách sông Tiền và bến phà Mỹ Thuận nên Sư đoàn 9 BB dưới sự chỉ huy của Tư Lệnh Đại tá Bùi Dzinh đã không hoàn thành nhiệm vụ lịch sử dẹp « đảo chánh 01 /11/1963 » để có thể lật trang sử mới của nền đệ nhất Cộng Hoà miền nam VN !_ http://sd9bb.tripod.com/
BDz
 
 
Ngày 2-1-1963: Tại Ấp Bắc, cách Sài Gòn 40 dậm về phiá Đông Nam, gần 2 Trung Đoàn (2,500 quân) thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trang bị vũ khí tự động, có xe tăng, thiết vận xa, pháo binh và không quân ( cả khu trục cơ lẫn trực thăng ) yểm trợ, mở cuộc hành quân bao vây, tiêu diệt 1 lực lượng cộng sản gồm chừng I Tiểu Đoàn ( battalion ) hơn 300 quân chủ lực địa phương, với hoả lực yếu kém hơn rất nhiều, lại không có xe tăng cũng như không quân, pháo binh yểm trợ. Kết quả thật là đau buồn: Cộng quân lợi dụng đêm tối, thoát khỏi vòng vây gần như toàn vẹn chủ lực, sau khi đã gây cho quân chính phủ những tổn thất đáng kể.

    Thật là một cơ hội bằng vàng để bọn tài phiệt quốc tế dùng ảnh hưởng, sức mạnh cuả đồng đô la mà lái các cơ quan truyền thông, hướng dẫn dư luận, gây áp lực tại Hoa Kỳ, từ Quốc Hội cho đến chính phủ phải bằng mọi giá đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Việt Nam ngay lập tức. Nếu không, “ Tiền đồn chống cộng – Advanced Post resisting the communists  “ cuả Mỹ tại Á Châu sẽ xụp đổ” và Chính sách ngăn chặn cộng sản” cuả Mỹ trên thế giới sẽ thất bại và… nền anh ninh cuả chính nước Mỹ cũng sẽ bị lâm nguy
 
De : PhungSuXaHoi@yahoogroups.com [mailto:PhungSuXaHoi@yahoogroups.com]
Envoyé : dimanche 2 novembre 2014 04:43
À : phuchung@yahoogroups.com; longtien group; HNCGroup; huongvechua; DD PhoNang; phungsuxahoi; VN-TD
Objet : [PhungSuXaHoi] T?i sao có cu?c Ð?o Chánh l?t d? T?ng Th?ng Ngô Ðình Di?m? Phan Ð?c Minh
 
 
Tại sao có cuộc Đảo Chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm?

Phan Đức Minh



 
Thời gian này, có rất nhiều bài viết xuất hiện trên  các trang mạng , trên các điện báo, báo in của người Việt định cư khắp nơi trên thế giới , nói về nhân vật lịch sử Tổng Thống Ngô Đình Diệm , về biến cố ngày  1 tháng 11 – 1963 tại Nam Việt Nam, cũng như những buổi Lễ tưởng niệm nhân vật lịch sử này. Một số bạn trẻ  trưởng thành nơi hải ngoại liên lạc bằng điện thư hoặc gặp chúng tôi, hỏi về chuyện “ Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ ông Ngô Đình Diệm, ngày 1 tháng 11 – 1963 tại Việt Nam ? “  xem ý kiến ra sao. Tất nhiên là người viết chỉ có thể nói sơ qua và hẹn gặp nhau trên trang báo này để có thể bàn luận với nhau nhiều hơn. Vì vậy cho nên bài viết này được đưa ra, mong trả lời các bạn trẻ đó, đồng thời đóng góp chút ít vào công việc làm sáng tỏ một vấn đề  lịch sử quan trọng, có ảnh hưởng lớn lao đến sự…mất còn, xụp đổ của Nam Việt Nam sau đó, cũng như ảnh hưởng đen tối của nó còn kéo dài cho tới bây giờ. Muốn tìm hiểu kỹ lưỡng, sâu xa hơn, tất nhiên là chúng ta phải tìm đọc những cuốn sách đáng tin cậy về chuyện này…

Tình hình trước khi xẩy ra cuộc Đảo Chánh:

     Những tháng giữa năm 1960, Ông Diệm với tư cách Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, đi thăm các Bộ Tư lệnh Quân Khu I – 2 – 3 – 4 và Quân Khu Thủ Đô để nói chuyện với các Sĩ Quan trong quân đội, các Quân Binh Chủng về một vấn đề vô cùng quan trọng là: chính quyền Mỹ lúc đó muốn đổ quân tác chiến ( Combatant forces ) vào lãnh thổ Nam Việt Nam để đảm nhiệm vai trò chủ yếu trong công cuộc chiến đấu chống cộng sản trên chiến trường này, tất nhiên là theo chủ trương, chính sách của Hoa Kỳ… Tại Hội trường Bộ Tư lệnh Quân Khu I, Đà Nẵng, trước mặt rất đông Sĩ Quan: cấp Tướng, cấp Tá và cấp Úy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nói rõ ý chí cuả Ông là nhất định không chấp nhận cho chính phủ Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam, mà chỉ chấp nhận vai trò cuả người Mỹ trong nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Ông nó:

Chúng ta cần có sự cố vấn và huấn luyện cuả người Mỹ, chúng ta cần có sự viện trợ quân sự, kinh tế cuả người Mỹ, nhưng chúng ta không cần và nhất định không chấp nhận để cho người Mỹ chiến đấu thay thế cho  chúng ta trong công cuộc bảo vệ Quê Hương, Đất Nước này.  Chúng ta đang phải đương đầu với với một cuộc chiến tranh ý thức hệ ( ideological war ) giữa chủ thuyết  “Quốc Gia-Dân Tộc “ tự do, dân chủ của chúng ta và  “ học thuyết  ảo tưởng – Utopian doctrine “ của cộng sản, xây dựng trên nền tảng tuyên truyền, lừa bịp có hệ thống, có khả năng lôi cuốn đông đảo quần chúng vào một cuộc chiến tranh nhân dân,  trường kỳ kháng chiến, để tiến tới một thiên đường không bao giờ có thực . .. Cuộc chiến đấu này không thể đơn thuần giải quyết bằng sức mạnh cuả vũ khí chiến tranh, nhất là bằng một đạo quân viễn chinh từ một quốc gia khác kéo đến. Nếu người Mỹ làm việc đó, chúng ta sẽ mất hết chính nghiã, mất sự hậu thuẫn cuả nhân dân, tôi sẽ trở thành Tổng Thống bù nhìn và anh em, các Sĩ Quan sẽ chỉ còn là những kẻ đánh thuê cho ngoại quốc…”

Tổng Thống Ngô Đình Diệm nói thật nhiều, với tất cả tấm lòng và trái tim cuả Ông. Rồi ông kêu gọi tất cả các Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã từng nêu cao tinh thần anh dũng, can đảm trên mọi chiến truờng khắp các Vùng Chiến Thuật  ( tactical areas), hãy cùng Ông bằng mọi giá, giữ vững lập trường, đi đúng đường lối lãnh đạo chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc mà ông đã vạch ra và quyết tâm theo đuổi, bất chấp mọi sức ép bất cứ từ đâu đến ! Những cánh tay giơ lên, những tiếng hô vang làm rung chuyển cả Hội Trường Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I- Quân Khu I Quyết tâm ủng hộ Tổng Thống ! Quyết tâm giữ vững lập truờng chiến đấu cuả Tổng Thống để bảo vệ Tổ Quốc !”

     Tôi lúc đó chỉ là một Chuẩn Uý hiện dịch, nhưng với cái vốn kinh nghiệm gần 7 năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, 2 lần bị Tây bắt nhốt vào tù, và hơn 6 năm trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hòa, chống cộng sản, tôi cũng đủ trí khôn để thông cảm với những khó khăn, nguy hiểm đang đợi chờ Ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng Thổng đầu tiên cuả nền Cộng Hoà non trẻ tại Nam Việt Nam. Tôi nhìn các Sĩ Quan đàn anh đứng chung quanh, hình như ai nấy đều linh cảm thấy có một cái gì nặng nề, nguy hiểm đang đợi chờ vị Tổng Thống khả kính và can đảm cuả mình. Phải thành thực mà công nhận rằng: vào thời gian đó, dưới sự lãnh đạo cuả Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Quân Đội ra Quân Đội, Tướng Tá ra Tướng Tá, Sĩ Quan ra Sĩ Quan, chớ không có… hổ lốn, bát nháo như tình trạng cuả những thời gian sau này, sau khi TT. Ngô Đình Diệm không còn nưã.. Lúc đó, tôi không phải là người cùng tôn giáo với Ông Diệm, mà trong cương vị một quân nhân hiện dịch thuần tuý, từng bỏ hàng ngũ cộng sản, tìm đến hàng ngũ quốc gia để chống lại cộng sản, lúc này chỉ nghĩ đến quân đội, đến việc chống cộng, nhưng cũng thấy như mắt mình nhoà đi… Tôi cầu xin Ơn Trên phù hộ, che chở cho Ông, cũng như cho Đất Nước này…

Ngày 19-6-1960: Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, Elbridge Durbrow, gửi cho ngoại trưởng Mỹ, Christian Herter ở Hoa Thịnh 1 điện văn mật, thông báo tình hình Sài Gòn: Có thể có 1 cuộc đảo chánh nhằm lật đổ chính quyền cuả TT. Ngô Đình Diệm, trong khi đó ở nông thôn, hoạt động cuả cộng sản gia tăng mạnh mẽ… Phần cuối, bản văn kết thúc “Nếu thế đứng cuả Ông Ngô Đình Diệm tiếp tục giảm sút, không còn phù hợp với tình thế chính trị, tâm lý, kinh tế và an ninh tại đây nưã thì có thể là điều mà chính phủ Hoa Kỳ nên tính đến những phương cách khác để hành động và thay thế người lãnh đạo hầu đạt đến những mục tiêu cuả chúng ta… ( If Diem’s position in the country continues to deteriorate as result failure adopt proper political, psychological, economic and security measures, it may become necessary for US Government to begin consideration for alternative courses of action and leaders in order to achieve our objectives…)".

Ngày 11 – 12 tháng 11-1960 : Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn nhẩy dù và Trung Tá Vương Văn Đông chỉ huy một lực lượng quân sự gồm vài Tiểu Đoàn nhẩy dù và 1 đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến, bao vây dinh Tổng Thống để làm một cuộc đảo chánh với lý do được công bố trên đài phát thanh Sài Gòn đã bị quân đảo chánh chiếm giữ “…Ông Diệm đã tỏ ra không đủ khả năng cứu đất nước khỏi họa cộng sản cũng như bảo vệ sự đoàn kết quốc gia… – Diem has shown himself incapable of saving the country from Communism and protecting national unity…”

     Biết rằng cuộc âm mưu đảo chánh này không do những nhân vật chính trị có danh tiếng, không có hậu thuẫn chính trị thực sự cuả dân chúng, không có sự tham gia cuả các Tướng Lãnh cũng như đông đảo lực lượng quân đội dưới quyền, cho nên ông Diệm tạo thế trì hoãn, thoái thác nhượng bộ trước sự đòi hỏi cuả phe đảo chánh là từ bỏ chính quyền và đợi cho các lực lượng quân đội, hầu hết vẫn còn trung thành với ông, cùng ông theo đuổi đường lối chống cộng đã vạch ra, từ các nơi kéo về dẹp loạn. Cuộc đảo chánh bất thành vì quá non kém về tổ chức, lãnh đạo, cũng như đường lối chinh trị và quân sự. Tuy nhiên cuộc đảo chánh bất thành này đã đem lại cho chính quyền cuả TT. Ngô Đình Diệm những bài học quan trọng:

A.- Cộng sản ngày càng tích cực tung cán bộ vào thành phố khai thác những mâu thuẫn, bất đồng giưã chính quyền và các nhân vật, các nhóm chống đối tại thành thị. Những mâu thuẫn này tất nhiên phải có trong hoàn cảnh miền Nam Việt Nam đang phải thực hiện một xã hội tương đối tự do, dân chủ, phồn thịnh (hơn hẳn miền Bắc . Có tự do, dân chủ khá nhiều cho nên các lực lượng, nhóm người chống đối này khác mới có hoàn cảnh, điều kiện mà hoạt động chống chính quyền, chớ còn như tình trạng Việt Nam hôm nay, dưới chế độ cộng sản, thì chính quyền thấy chống đối bằng bạo lực, là lập tức dùng công an, quân đội bằng võ lực tiêu diệt ngay, còn chi nữa mà chống đối. Chính quyền miền Nam lúc đó, cùng một lúc phải đối phó với hoàn cảnh đất nước như thế, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lăng, phá hoại toàn diện cuả cộng sản Hà Nội, được chỉ đạo và yểm trợ từ Mạc-Tư-Khoa cũng như từ Bắc Kinh, theo “Đường lối cách mạng vô sản toàn cầu cuả Đệ Tam Quốc tế – Global Proletarian Revolution Policy of the Third Internationa l”.

B.- Thi hành 1 đường lối vô cùng khó khăn khả dĩ đáp ứng được nhu cầu cuả tình thế : Giữ vững chính quyền đang bị âm mưu khuynh đảo từ bên ngoài do bọn tài phiệt quốc tế ( International Financial Oligarchy ), ở bên trong thì do cộng sản chỉ đạo. Ngay trong nội bộ hàng ngũ quốc gia cũng có những phần tử ham danh, hám lợi cũng như quyền lực, đang lợi dụng không khí tự do, dân chủ của xã hội miền Nam, nhất là truyền thông, báo chí , tạo ra hay chờ đợi thời cơ để hành động.

C.- Giữ vững tinh thần kỷ luật và lòng trung thành cuả quân đội, là sức mạnh bảo vệ chính quyền, chế độ, đồng thời giữ vững sự đoàn kết các tôn giáo là sức mạnh hậu thuẫn cuả nhân dân, nhưng cả hai: Quân Đội và Tôn giáo lại là những mục tiêu quan trọng nhất mà cả 3 lực lượng chống phá nói trên (Tài phiệt quốc tế, cộng sản và các nhóm chống đối trong nước) đang quyết tâm nhắm vào để tạo ra một động lực làm nổ bùng một cuộc đảo chánh khác, có tầm vóc quy mô, có tổ chức tinh vi và …” cao cấp “  hơn cuộc đảo chánh đã thất bại một cách dễ dàng ngày 11 tháng 11 năm 1960.

Ngày 20-12-1960 , để đánh lưà dư luận quốc tế, để thu hút các nhóm chống đối và lôi kéo nhân dân Miền Nam, cộng sản Hà Nội tuyên bố chính thức cho ra mắt công khai "Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam" tại 1 Chiến Khu ( Strategic war zone) cuả cộng sản tại phiá đông miền Nam Việt Nam, thành phần bao gồm chừng 100 nhân vật nói là đại diện cho các nhóm chính trị đối lập với chính quyền, đại diện cho các tôn giáo có mặt tại Nam Việt Nam, các lực lượng vũ trang còn sót lại sau khi bị quân chính phủ đánh tan trong các chiến dịch hành quân tại miền Tây trước đó ít năm. Mặt trận này thực sự đặt dưới quyền lãnh đạo cuả một cán bộ cao cấp cuả Hà Nội, thuộc "Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng ( Political Bureau of the Party’s Central Committee)".

Ngày 1 tháng 4-1961: Cộng sản tung một Tiểu Đoàn chủ lực quân, có du kích địa phương tăng cường, gồm hơn 400 quân, tấn công thử sức vào 1 ngôi làng chiến đấu kiểu mẫu cuả “Quốc sách ấp chiến lược – National policy of Strategic Hamlets ” thuộc Tỉnh Kiến Hoà, nhưng bị quân đội Cộng Hoà đánh tan và bị thiệt hại nặng nề. Hai ngày sau, cộng sản thử sức lần nưã bằng cách tấn công vũ bão và bất ngờ vào khu vực Bến Cát, phiá Bắc Sài Gòn, nhưng hơn 100 quân cộng sản bị quân Cộng Hoà tiêu diệt, bỏ xác tại trận.Cộng sản buộc phải đổi hướng, tập trung nỗ lực vào những hoạt động võ trang phá hoại tại các thành phố, tung cán bộ len lỏi vào trong các tầng lớp nhân dân, hàng ngũ tôn giáo nào có đông đảo quần chúng ( nhưng hàng ngũ thiếu huấn luyện, tổ chức không  chặt chẽ )  để tìm cơ hội gây xáo trộn chính trị tại các thị trấn, nơi tập trung đông đảo dân cư, làm suy yếu chính quyền Miền Nam thay vì nôn nóng giành chiến thắng quân sự để hỗ trợ cho các hoạt động chính trị và ngoại giao.

Vice President Lyndon B. Johnson meets Mr. Ngo                                                                                                                        Dinh Nhu  at Gia Long Palace, Saigon 12-5-1961
Vice President Lyndon B. Johnson meets Mr. Ngo Dinh Nhu at Gia Long Palace, Saigon 12-5-1961


Ngày 12-5-1961: Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson, trong cuộc viếng thăm Á Châu, đã gặp Tổng Thống Diệm tại Sài-gòn. Ông Johnson ca tụng Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một Churchill cuả Á Châu và nói, “Đối với thế đứng cuả Hoa Kỳ tại Á Châu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm là nhân vật, là người bạn không thể thiếu được.” Tuy nhiên, khi trở về Mỹ, ông Johnson lại báo cáo cho Tổng Thống Kennedy cũng như cho các nhân vật chính trị cao cấp biết rằng: "Ông Diệm vẫn giữ vững lập trường không có quân chiến đấu cuả Hoa Kỳ tại Việt Nam, trừ phi cộng sản Hà Nội xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 một cách đại quy mô như cộng sản Bắc Hàn đã xua quân tràn qua vĩ tuyến 38 hồi 1950".

Do lập trường cương quyết Bảo vệ Chủ quyền Quốc gia, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã luôn hy sinh để tranh đấu cho sự Độc lập Dân tộc và ngày 09.05.1961, đã bày tỏ với Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đang viếng thăm chính thức Việt Nam rằng quan điểm chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ. Nhưng, việc gửi Quân đội tác chiến Hoa kỳ đến Việt Nam, ông cương quyết từ chối :  Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi ? Với người Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn ghi sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ tin những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa. Tháng 11.1961, Đại sứ Frederick Nolting được yêu cầu từ tòa Bạch ốc gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm về vấn đề quân chiến đấu Mỹ ( được xem như ‘chia sẽ trách nhiệm ). Tổng Thống Ngô Đình Diệm trả lời : «Chắc Đại sứ cũng hiểu, những đề nghị ấy đụng chạm tới vấn đề trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam, Việt Nam không muốn là một nước bị bảo hộ ( Vietnam does not want to be a protectorate) ».

Ngày 18-9-1961: Cộng sản bất thần mở trận đánh lớn cấp Trung Đoàn (Regiment ), tung 1,500 quân bao vây và đành chiếm Tỉnh Lỵ Phước Vinh, sau khi đã mở chiến dịch gồm 41 trận đánh lớn nhỏ trên khắp lãnh thổ Miền Nam để áp đảo và chia sẻ lực lượng đối phương. Sau đó 3 tuần lễ, tại diễn đàn Quốc Hội, Tổng Thống Ngô Đình Diệm chính thức tuyên bố với quốc dân và thế giới, là Việt Cộng, với sự chỉ đạo và yểm trợ cuả cộng sản quốc tế đã chính thức biến cuộc chiến tranh du kích trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà thành một thứ chiến tranh xâm lăng quy mô thực sự, có sự tham chiến cuả quân chính quy cộng sản Bắc Việt, được trang bị tối tân,  hùng hậu với đầy đủ pháo binh cỡ nặng, xe tăng, thiết giáp…

      Bọn tài phiệt quốc tế, buôn bán chiến tranh, càng thêm cơ hội để tung tiền và thủ đoạn để đưa đám  “ Lobbyists ” vào các hành lang, ngõ ngách cuả Quốc Hội, hệ thống truyền thông Hoa Kỳ, dọn đường cho một kế hoạch ào ạt đổ quân tác chiến cuả Mỹ và lôi kéo một số đơn vị quân đội Đồng Minh vào chiến trường Nam Việt Nam. Chậm chân là thiệt hại cả… núi đô la chớ không phải chuyện đuà. Nhưng, lại tiếng nhưng ở chỗ này ! Nhưng Ông Diệm nhất định không chấp nhận cho quân đội tác chiến cuả Mỹ chiến đấu tại Nam Việt Nam. Còn Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy thì cũng không hăng hái, thiết tha cho lắm với việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào chiến trường Miền Nam trong hoàn cảnh lúc này, không như lúc cộng sản Bắc Hàn xua quân cấp Quân Đoàn ( Army Corps) tràn qua vĩ tuyến 38 hồi năm 1950… Ông Kennedy vẫn trung thành với “ Đường lối ngăn chặn – Containment Policy ” để chống lại sự bành trướng cuả phong trào cộng sản trên thế giới từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, bằng những phương cách ít tốn sinh mạng người Mỹ nhất, trừ trường hợp nền an ninh cuả Mỹ bị đe dọa trực tiếp, nghiã là ông Kennedy chỉ chấp nhận hy sinh nhân mạng cuả Mỹ trong “ Trường hợp tối cần thiết – In case of absolute necessity ”.

    Thế thì “chúng nó ” bắt buộc phải loại trừ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo Nam Việt Nam trước đã, và sau đó bất cứ kẻ nào làm ngăn trở việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Nam Việt Nam cũng đều bị “chúng nó” xoá sổ hết ( kể luôn cả Tổng Thống Mỹ ).

Ngày 2-1-1963: Tại Ấp Bắc, cách Sài Gòn 40 dậm về phiá Đông Nam, gần 2 Trung Đoàn (2,500 quân) thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trang bị vũ khí tự động, có xe tăng, thiết vận xa, pháo binh và không quân ( cả khu trục cơ lẫn trực thăng ) yểm trợ, mở cuộc hành quân bao vây, tiêu diệt 1 lực lượng cộng sản gồm chừng I Tiểu Đoàn ( battalion ) hơn 300 quân chủ lực địa phương, với hoả lực yếu kém hơn rất nhiều, lại không có xe tăng cũng như không quân, pháo binh yểm trợ. Kết quả thật là đau buồn: Cộng quân lợi dụng đêm tối, thoát khỏi vòng vây gần như toàn vẹn chủ lực, sau khi đã gây cho quân chính phủ những tổn thất đáng kể.

    Thật là một cơ hội bằng vàng để bọn tài phiệt quốc tế dùng ảnh hưởng, sức mạnh cuả đồng đô la mà lái các cơ quan truyền thông, hướng dẫn dư luận, gây áp lực tại Hoa Kỳ, từ Quốc Hội cho đến chính phủ phải bằng mọi giá đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Việt Nam ngay lập tức. Nếu không, “ Tiền đồn chống cộng – Advanced Post resisting the communists  “ cuả Mỹ tại Á Châu sẽ xụp đổ” và Chính sách ngăn chặn cộng sản” cuả Mỹ trên thế giới sẽ thất bại và… nền anh ninh cuả chính nước Mỹ cũng sẽ bị lâm nguy… Chúng đem câu nói cuả Lenin, Sư Tổ cuả cách mạng vô sản 1917 tại Nga, người đã mở đường cho phong trào cộng sản thế giới bùng ra hết cách ngăn cản sau thế chiến thứ 2, mà dọa cả nước Mỹ “ Trước hết, chúng ta hãy chiếm giữ Đông Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á Châu, sau đó bao vây Hoa Kỳ là thành lũy cuối cùng cuả chủ nghiã tư bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa Kỳ cũng sẽ rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rưã – First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle the United States which will be the last bastion of Capitalism. We will not have to attack, it will fall into our hands like an overipe fruit.” ( The Death of A Nation – John A. Stormer – The Liberty Bell Press – Florissant Missouri, July 1978, Page 14 ).

* Ngày 8-5-1963: Bùng nổ vụ rối loạn, chống đối ở Cố Đô Huế, giưã hàng chục ngàn tín đồ Phật Giáo với nhân viên chính quyền địa phương và các lực lượng an ninh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm tuyên bố trên đài phát thanh quốc gia là vụ này có bàn tay cuả cộng sản nhúng vào, gây thêm tình trạng khó khăn cho địa phương, tạo thêm sự mâu thuẫn trầm trọng giưã chính phủ và 1 tôn giáo lớn trong nước. Cuộc rối loạn ngày càng gay go, dữ dội, quyết liệt và khi 1 trái lựu đạn nổ tung trong khu vực đài phát thanh Huế,gây thương vong cho một số người biểu tình chống đối thì tình trạng biến sang hình thức “ Một Tôn giáo lớn nhất trong nước chống lại một hệ thống chính quyền được lãnh đạo bởi 1 Tổng Thống và các nhân vật cao cấp, trọng yếu, đa số là người thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã.”  Trái lựu đạn nổ tung đó sau này được biết là do CIA cài đặt người, nhân lúc hỗn loạn, đã ra tay, cho nổ bùng đúng lúc để châm ngòi cho cuộc biểu tình chống đối từ Huế và sẽ lan ra khắp nơi, sau cùng là ngay tại Thủ  Đô Sài Gòn, trung tâm quyền lực của Việt Nam Cộng Hòa. Phía chính phủ thì lên tiếng : Tổng Thống Diệm sử dụng người theo nguyên tắc thông thường của các nhà lãnh đạo là căn cứ vào tài năng, đức độ, sự tin cậy, thích hợp cho công việc và lợi ích quốc gia, chớ không phải vì kỳ thị tôn giáo, không kỳ thị Phật Giáo như một số người buộc tội, gán ghép Cho ông Diệm.    

       Ở điểm này, những người hiểu biết thì cho thấy rằng :  Trong hàng ngũ Tướng lãnh của quân đội lúc đó, thử tìm coi có những ai là cùng tôn giáo với ông Diệm ? Trong hàng ngũ các Bộ Trưởng trong chính quyền Ngô Đình Diệm lúc đó, ngoại trừ ông Trần Trung Dung, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống racòn có ai là người cùng tôn giáo với ông Diệm ? Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, được ông Diệm tin cậy, quý trọng, là người miền Nam, thì  khác tôn giáo với ông Diệm rõ ràng…

       Nói một cách rõ ràng thì dưới đây là những Phật Tử được ông Diệm chọn đứng cùng hàng ngũ, phục vụ Đất Nước với ông :

- Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống.
- Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng.
- Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trấn Sài Gòn- Gia Định.
- Ông Vũ Văn Mẫu, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
- Ông Quách Tòng Đức, Đổng Lý Văn Phòng.
- Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng phủ Tổng Thống, kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng.
- Ông Đoàn Văn Thêm, Phó Đổng Lý Văn Phòng.
- Ôn Võ Văn Hải, Chánh Võ Phòng.
- Ông Nguyễn Thành Cung, Tổng Thư Ký.
- Ông Trần Sử, Bí Thư…   Tất cả đều là Phật tử.

*

* Toàn thể Bộ Tham Mưu của Tổng Thống đều là Phật Tử.
* Trong số 18 Tổng Bộ Trưởng, chỉ có 5 người là Công giáo, còn 13 là Phật giáo.
* Bên quân đội, tổng số 19 tướng lãnh có quyền hành nhất, thì đã có 16 tướng là Phật giáo, chỉ có 3 là Công giáo.

Nghĩa là đại đa số những nhân vật, những người nắm giữ và điều hành bộ máy chính quyền thời TT. Ngô Đình Diệm đểu là Phật tử. Đó là chưa kể chính quyền TT.Ngô Đình Diệm đã giúp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thời đó xây dựng  nhiều Chùa ( trong đó có chùa Xá Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm …),giúp nhiều sư tăng ra nước ngoài ( nhất là ở Pháp, ở Mỹ … ) học hành đậu đạt bằng cấp cao (  kể cả Tiến Sĩ  ) để trở về phục vụ hiệu quả hơn, mở mang các cơ sở giáo dục đào tạo thế hệ trẻ đủ khả năng phục vụ quốc gia, xã hội theo đường lối của tôn giáo mình .

Chính quyền giúp xây dựng chùa Xá Lợi nằm ở đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn.
Chính quyền giúp xây dựng chùa Xá Lợi nằm ở đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn.

     Sau này, nhiều người lại còn hỏi : "bao nhiêu năm nay, Cộng sản Việt Nam đàn áp tôn giáo, kìm kẹp kẻ đối lập, áp bức dân chúng gấp… bao nhiêu lần Ông Diệm, mà sao dân chúng chẳng thấy những phe này, nhóm nọ biểu tình, chống đối, nổi loạn để lật đổ chính quyền cộng sản chi cả.  Chỉ thấy gần đây mới có những nhân vật nam nữ đấu tranh ôn hòa cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền ở Việt Nam, đang bị cộng sản hành hạ, bắt nhốt trong tù mà thôi..."  Như vậy, người ta có thể hiểu : ở Nam Việt Nam hồi đó người dân có quyền tự do, dân chủ  khá rộng rãi cho nên việc biểu tình chống đối chính quyền, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của của cơ quan    “ Tình Báo, Gián Điệp của nước bạn đồng minh khổng lồ  “ , được Thành Ủy cộng sản ở Huế phối hợp hành động, nắm lấy thời cơ, thúc đẩy dân chúng, dựa vào thế lực tôn giáo, mua chuộc Tướng lãnh quân đội, huy động dân chúng, đưa cán bộ,  tranh thủ thời cơ, đẩy cuộc đấu tranh chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa vào một thế  thuận lợi để giật xập chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền  đang làm cho mọi hoạt động của cộng sản lâm vào tình trạng điêu đứng, khó khăn, bế tắc… về đủ mọi phương diện : chính trị, quân sự, kinh tế,  xã hội, văn hóa. Rõ ràng nhất là cộng sản sợ hãi chính sách Tố Cộng, Chiêu Hồi đã lôi kéo quá nhiều cán  binh Việt cộng, có cả trung và cao cấp, quay trở về đầu thú, tiết lộ rất nhiều thông tin quan trọng; Cộng sản rất sợ quốc sách ấp chiến lược, bình định nông thôn của ông Nhu… làm tê liệt khả năng của cộng sản  trong chiến lược “ nắm vững nông thôn, bao vây và tiêu diệt thành thị “  trong lúc cả hai phía cộng sản cũng như Việt Nam Cộng Hòa đều biết rõ : phía nào nắm vững được nông thôn, bên đó sẽ thắng trong cuộc chiến tranh trường kỳ, phức tạp …trên chiến trường Việt Nam lúc này.

Giúp xây chùa Vĩnh-Nghiêm ở đường Công Lý
Giúp xây chùa Vĩnh-Nghiêm ở đường Công Lý

      Sự rối loạn càng bùng lên dữ đội và lan mạnh tới các thành phố lớn rồi di chuyển trung tâm đấu tranh chống chính phủ về ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, nơi tập trung các cơ quan quyền lực quốc gia, các Toà Đại Sứ ngoại quốc, cũng như các cơ sở truyền thông quốc tế. Tại đây, Thượng Toạ Thích Trí Quang, một trong những vị lãnh đạo cao cấp Phật Giáo lúc đó, gốc người Bắc Việt, 2 lần bị Pháp bắt vì tình nghi có liên lạc hoạt động với cộng sản, người được dư luận trong và ngoài nước coi là một nhân vật tôn giáo đặc biệt, có tài tổ chức, lãnh đạo quần chúng trong các hoạt động đấu tranh chính trị… đứng ra phát động và lãnh đạo cuộc đấu tranh cuả dân chúng. Thượng Toạ thông báo cho phiá Mỹ biết là "người Mỹ phải chịu trách nhiệm về những hoạt động cuả chính quyền Sài Gòn do Mỹ ủng hộ… (Thich Tri Quang, a politically sophisticated monk of North Vietnamese origin, twice arrested by French on suspicion of Vietminh connections, stirs the people    against Diem and informs US officials, whom he holds responsible for Diem because of US support…). Riêng điều này, kẻ viết, trong thời gian đi kháng chiến, phục vụ trong các các cơ quan lãnh đạo cấp Huyện Ủy của các huyện Tiên Lãng và An Dương, cũng như cơ quan Tuyên Huấn thuộc Tỉnh Kiến An, Hải Phòng, Bắc Việt, đã được biết về vai trò     “ chuyên viên tôn giáo vận “ của nhân vật Thích Trí Quang trong hàng ngũ cộng sản, từ hồi năm 1946 tại Bắc Bộ, Việt Nam…Tức là lúc đó, kẻ viết và nhân vật này cùng chung một tôn giáo, cùng đứng chung trong hàng ngũ kháng chiến của cộng sản

Thượng Toạ Thích Trí Quang

Ngày 7- 6 -1963: Bà Ngô Đình Nhu lên tiếng tố cáo trước dư luận là người Mỹ đã cố tình nhúng tay vào, tạo nên vụ biến động này và thúc đẩy cho ngày một thêm trầm trọng, phức tạp thêm, nhằm khuynh đảo chính quyền cuả Tổng Thống Ngô Đình Diệm vì Tổng Thống cương quyết không chấp nhận chính sách can thiệp chính trị và quân sự cuả người Mỹ, là chính sách đi ngược lại ý nguyện và quyền lợi cuả dân chúng Nam Việt Nam.

Ngày 11-6-1963: Thượng Toạ Thích Quảng Đức “tự thiêu“ ngay tại trung tâm thủ đô Sài Gòn, để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo cuả chính phủ. Theo nghĩa thông thường, “ tự thiêu “ là tự mình thiêu đốt mình cho một lý do, mục đích chi đó. Vụ tự thiêu của Thượng Tọa Quảng Đức nói ở đây, thì:

sau khi cầm bình xăng tưới vào người Thượng Tọa Thích Quảng Đức đang ngồi bất động, tên  cộng sản nằm vùng, mặc áo nhà sư, Nguyễn Công Hoan (Huỳnh Văn Thạnh) còn cẫn thận rãi thêm một đường xăng từ chỗ Thương Tọa Quảng Đức, đi về phía sau, để hắn có thể đứng từ xa mà châm lửa !

1

Vậy mà toàn bộ sách báo cộng sản và phe phái chống đối đều viết rằng “Hòa Thượng Thích Quảng Đức TỰ tẩm xăng ”!!!  Rồi ngay sau đó, cũng không phải do Thượng Tọa Thích Quảng Đức “TỰ bật quẹt Zippo để tự thiêu” như chúng rêu rao, mà là Thượng Tọa vẫn đang chấp hai tay trên ngực trong thế ngồi  bất động! Trước và sau khi ngọn lửa bùng lên, Thượng Tọa vẫn đang chấp tay trên ngực, còn ngọn lửa thì cháy từ phía sau chạy tới rồi táp vào người Thượng Tọa để bùng lên ngọn lửa “tự thiêu”! 

   Hòa thượng Thích Quảng Đức đã bị bức tử, đã bị…đốt chết bởi sự liên kết thực hiện giữa cộng sản và phe nhóm chống đối lúc đó… nhằm khích động cuộc nổi loạn của dân chúng đúng theo kế hoạch của CIA và cộng sản…  < span style="color: #002eb7; font-size: 22.0pt;">Dư luận dân chúng trong nước và thế giới bị xúc động mạnh. Báo chí trong và ngoài nước, các cơ quan truyền thông khác, nhất là tại Mỹ     đã bị lâm trận hỏa mù của bọn Lobbyists nói ở trên ) khai thác tối đa vụ này theo chiều hướng “  Phải thay thế ngay người lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam”. Thay thế bằng nhân vật nào ? – Các cơ quan truyền thông Mỹ không nói rõ, nhưng chỉ hướng dẫn dư luận: loại bỏ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền là được rồi… Đang cơn dầu sôi lửa bỏng như thế thì vì tức giận người Mỹ và lực lượng đấu tranh nên đã nóng giận, mất sự khôn ngoan, bình tĩnh cần thiết trước tình thế bất lợi cho chính phủ, bà Nhu lên tiếng mạt sát, thóa mạ cuộc tự thiêu của Thượng Tọa Quảng Đức. Thật là “Lửa đã đỏ lại đổ thêm dầu –  Adding fuel to the fire ”. Điều này làm cho dư luận dân chúng thêm phẫn nộ và vì vậy, lợi thế nghiêng hẳn về phía lực lượng đấu tranh chống chính phủ.

Ngày 27-6-1963:  Thấy tình hình Sài Gòn rối loạn, khó gỡ được ra, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy bổ nhiệm Ông Henry Cabot Lodge, thuộc Đảng Cộng Hòa, sang Sài Gòn giữ chức vụ Đại Sứ Hoa Kỳ, thay thế cho Đại Sứ Nolting, người đang tỏ ra bất lực trong việc gỡ rối cho tình hình Sài Gòn theo chiều hướng có lợi cho chính sách cuả Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Thực tâm Tổng Thống Kennedy là chỉ gỡ rối sao cho êm đẹp, thuận lợi cho đường lối, chính sách cuả Hoa Kỳ, cuả Ông Kennedy, chớ Ông Kennedy lúc này không hề nghĩ đến việc lật đổ Ông Diệm, nhất là không bao giờ nghĩ đến việc phải giết Ông Diệm. Ông Cabot Lodge  ( đảng Cộng Hòa ) được giới chính trị và truyền thông Hoa Kỳ coi là “Một con cáo già chính trị ” và đồng thời là một “Chuyên viên đảo chánh ”, hiện đang theo đuổi một chính sách mang tính cách “Diều hâu ” khác hẳn với Ông Kennedy ( đảng Dân Chủ ) về vấn đề Việt Nam. Một Cabot Lodge, cáo già chính trị, chuyên viên đảo chánh, không cùng 1 Đảng với Ông Kennedy. Cabot Lodge thuộc Đảng Cộng Hòa, có nhiều liên hệ với quyền lợi cuả bọn tài phiệt buôn bán chiến tranh, mà sang làm Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn thì tình hình sẽ ra sao? Cabot Lodge được cử sang Sài Gòn với nhiệm vụ “gỡ rối – Untangling ” tình hình, nhưng Cabot Lodge lại quyết định chọn “phương cách gỡ rối ” bằng một “Cuộc đảo chánh – Coup d’état ” êm ái, nhẹ nhàng, không chọc giận Ông Kennedy, sinh trưởng trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa, nghĩa là chỉ cần đẩy Ông Diệm ra khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam, đưa Ông Diệm đi sống lưu vong ở một quốc gia nào đó nằm trong “ Quỹ đạo chính trị – Political circle ” của Hoa Kỳ, như Đài Loan, Thái Lan chẳng hạn là đủ rồi. Sau đó, Cabot Lodge sẽ dựng lên một thứ chính quyền mới hoàn toàn biết vâng phục theo ý muốn của Hoa Kỳ, hay đúng ra trong lúc này, là ý muốn của “ Giới tài phiệt – Financial Oligarchy  ” của Mỹ đang tính chuyện kiếm lời thật lớn lao trong cuộc chiến tranh đang xẩy ra trên đất nước Việt Nam nhỏ bé nhưng đầy đau khổ, máu xương và nước mắt này…

          Đó! Câu trả lời cho cái đầu đề của bài viết này “ Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm? Tưởng đã đủ rõ ràng, khả dĩ góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ một trang lịch sử cận đại của một đất nước, một dân tộc anh hùng, nhưng quá bé nhỏ trước nanh vuốt của một bầy thú dữ khổng lồ, hung bạo nên đành phải chịu chấp nhận tủi nhục, đau thương… Nó là một bài học vô cùng quý giá cho những quốc gia cường thịnh, cũng như nhược tiểu trong cuộc đoàn kết đấu tranh để sinh tồn trong một thế giới ngày càng thêm phức tạp, rắc rối, đòi hỏi một thế liên minh sáng suốt, khôn ngoan và chung thủy. Nếu không, kẻ thắng và người thua, rút cuộc tất cả như nhau, sẽ mang vào mình những kết quả thảm hại, những cái nhìn xấu xa nhất cuả những người chung quanh, kể cả kẻ thù lẫn bạn bè.…

San Diego – California
Phan Đức Minh

Wednesday, November 5, 2014

Vài chuyện ở hội đồng LHQ năm 1947-1949

Vài chuyện ở hội đồng LHQ năm 1947-1949

November 18, 2013
1. Việt Nam Cộng Hòa:

Ở trang 536 trong cuốn Year Book năm 1947-1948 của LHQ có đoạn:

Five Council members offered draft resolutions or amendments concerning the relation between ECAFE [1] on the one hand and the Republic of Indonesia and Viet-Nam on the other. The representative of the U.S.S.R. proposed (E/907 and Corr.1) that the Council recommend that the Indonesian Republic and the Republic of Viet-Nam should be accorded associate membership in the Commission.


The representative of New Zealand suggested (E/931) that the Council submit to the Security Council all of its own as well as of ECAFE's records concerning possible Indonesian membership in the Commission and seek the Security Council's assistance, since the latter was seized of the Indonesian question, and that the Secretary-General be requested to submit to the next (i.e., fourth) session of ECAFE a full statement on the constitutional and de-facto situation in Indonesia.


The representative of the Netherlands proposed (E/937) an amendment to the New Zealand draft resolution, deleting therefrom the request for Security Council assistance (but not deleting the transmission to the Security Council of the records on the Indonesian application) and the request to the Secretary-General that he submit to ECAFE's fourth session a statement on the de facto situation in Indonesia.


The representative of Australia proposed (E/957) that the Economic and Social Council go on record as considering that ECAFE already had authority to deal with applications for membership from areas within its geographical scope and that no action was required on the matter at that session of the Council.


The representative of the ByelorussianS.S.R. suggested (E/967) that the operative part of the U.S.S.R. proposal (recommending that ECAFE admit the Indonesian Republic and the Republic of Viet-Nam as associate members) be incorporated into the Australian suggestion. At its 200th meeting, on August 16, 1948, the Council after rejecting the U.S.S.R. draft resolution (E/907) (by a vote of 9 to 4, with 5 abstentions, on the recommendation bearing on the Republic of Indonesia, and by a vote of 11 to 3, with 4 abstentions, on the recommendation regarding VietNam), adopted the Australian proposal (E/957) by a vote of 12 to 3 with 4 abstentions.



Năm thành viên Hội đồng được cung cấp dự thảo sửa đổi các nghị quyết hoặc tu chính liên quan đến mối quan hệ giữa ECAFE ở một mặt và nước Cộng hòa Indonesia và Việt Nam một mặt khác. Đại biểu của Liên Xô đề xuất (E/907 và Corr.1) Hội đồng nên đề nghị Cộng hòa Indonesia và Việt Nam Cộng Hoà được phép trở thành thành viên liên hiệp trong Ủy ban.


Đại diện của New Zealand gợi ý (E/931) rằng Hội đồng đệ trình lên Hội Đồng Bảo An tất cả các hồ sơ của mình và hồ sơ của ECAFE liên quan đến vấn đề Nam Dương có thể trở thành thành viên trong Ủy ban và tìm sự hỗ trợ của Hội đồng Bảo An, vì điểm thứ nhì được thụ lý từ câu hỏi của Nam Dương, và Tổng thư ký được yêu cầu đệ trình trong phiên họp kế tiếp (tức là, thứ tư) của ECAFE một tường trình đầy đủ về tình hình hiến pháp và tình trạng thực tế ở Nam Dương.


Đại diện của Hà Lan đề xuuoo (E/937) tu chính cho bản dự thảo mới của New Zealand, xóa bỏ yêu cầu được Hội đồng Bảo An hỗ trợ (nhưng không xóa thông tín đến Hội đồng Bảo An các hồ sơ gia nhập của Nam Dương) và yêu cầu đến Tổng thư ký rằng ông đệ trình ở phiên họp ECAFE lần thứ tư một tuyên bố về tình hình thực tế ở Nam Dương.


Đại diện của Úc đề xuất (E/957) Hội đồng Kinh tế và Xã hội cứ ghi nhận trong lục xem xét vấn đề ấy vì ECAFE đã có thẩm quyền xử lý các đơn gia nhập cho các thành viên từ các khu vực trong phạm vi địa lý của nó và không cần làm gì khác tại kỳ họp đó của Hội đồng.

Đại diện Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Belarus đã đề nghị rằng (E/967) tác phần của đề nghị từ Cộng Hoà Liên Bang Xô Viết (đề nghị rằng ECAFE đưa Nam Dương Cộng Hoà và Việt Nam Cộng Hoà vào ghế thành viên liên kết) được gộp chung vào đề nghị của Úc Đại Lợi. Trong cuộc họp thứ 200 vào ngày 16 tháng 8 năm 1948, Hội đồng sau khi từ chối dự thảo (E/907) của Cộng Hoà Liên Bang Xô Viết (bằng số biểu quyết 9 trên 4, với 5 phiếu trắng về việc đề nghị về Cộng Hoà Nam Dương, và số biểu quyết 11 trên 3 với 4 phiếu trắng về việc đề nghị cho Việt Nam), tiếp nhận đề nghị của Úc Đại Lợi (E/957) với số biểu quyết 12 trên 3 với 4 phiếu trắng.


Trang 536 trong cuốn Year Book năm 1947-1948 của LHQ.
Trang 536 trong cuốn Year Book năm 1947-1948 của LHQ.



2. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:


Ở trang 509 và 510 trong cuốn Year Book năm 1948-1949 của LHQ có ghi:



The question of the admission of Viet-Nam was considered by the Commission at its fourth session, but the Chairman ruled that no valid application for associate membership from the Democratic Republic of Viet-Nam had been received.


At its fifth session, the Commission had beforeit: a request for admission from the Democratic

Republic of Viet-Nam, and an application presented by France for the admission of the State of Viet-Nam. Both applications were considered simultaneously.


The representatives of France, Australia, Cambodia and the United Kingdom supported the candiditure of the Government of the State ofViet-Nam as being the duly-constituted and legal Government of the territory. The representatives of France and the United Kingdom pointed out that ECAFE's terms of reference stated that applications could only be considered when they were made, on behalf of a territory, by the Government responsible for its international relations, which, they felt, applied in the case of the application of the State of Viet-Nam. An application could also be considered when made by a territory not a United Nations Member, but responsible for its own international relations. These conditions were not met in the case of the "so-called" Democratic Republic of Viet-Nam, and they accordingly requested the Commission to declare the application not admissible.


The representatives of the USSR and the Republic of Indonesia supported the application of the Democratic Republic of Viet-Nam as the only legal Government of the territory. The USSR representative observed that the United Kingdom and Australian representatives, among others, had stressed the question of responsibility for international relations. He did not feel it correct that the application of the Democratic Republic of Viet-Nam could not be accepted because it "had not at present its own international relations". Although some representatives had expressed the view that the general criterion for deciding the independence of a country was that of general recognition, he believed that other considerations should be taken into account, such as the territory and population a Government controlled, its means, and its control of the armed forces.


The representative of India announced his intention to support both candidatures. The applications of such Governments as actually controlled the economic life of the region, he considered, should be supported.


By 8 votes to 1, with 3 abstentions, the Commission admitted the State of Viet-Nam as an associatemember of ECAFE. The application of the Democratic Republic of Viet-Nam was rejected by 2 votes in favour to 7 against, with 3 abstentions.



Vấn đề về việc gia nhập của Việt Nam được Ủy Ban xem xét tại kỳ họp thứ tư, nhưng Chủ tịch phán quyết rằng không nhận được đơn làm thành viên liên kết hợp lệ từ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.


Tại kỳ họp thứ năm, Ủy ban đã nhận được: một thỉnh cầu gia nhập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và một đơn khác do Pháp đệ nạp cho Quốc Gia Việt Nam. Cả hai đơn đều được xem xét cùng một lúc.


Các đại diện của Pháp, Úc, Campuchia và Vương quốc Anh hỗ trợ trường hợp của Chính phủ Quốc Gia Việt Nam như một Chính phủ của một lãnh thổ được thành lập hợp lệ. Các đại diện của Pháp và Vương quốc Anh đã chỉ ra rằng điều khoản tham chiếu ECAFE tuyên bố các đơn gia nhập chỉ có thể được xem xét khi họ đã đại diện cho một lãnh thổ, từ Chính phủ chịu trách nhiệm về quan hệ quốc tế, trong đó, họ cảm thấy, đơn gia nhập của Quốc Gia Việt Nam đã hội đủ. Một đơn gia nhập cũng có thể được xem xét khi được một lãnh thổ không phải là một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc nhưng tự chịu trách nhiệm về các mối quan hệ quốc tế của mình. Những điều kiện này không được hội đủ trong trường hợp của "cái gọi là" Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và theo đó họ yêu cầu Ủy ban tuyên bố đơn tham gia ấy không thể chấp nhận được.


Các đại diện của Liên Xô và Cộng hòa Indonesia hỗ trợ đơn gia nhập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Chính phủ hợp pháp duy nhất của lãnh thổ. Đại diện Liên Xô nhận thấy rằng Vương quốc Anh và đại diện của Úc, trong số những người khác, đã nhấn mạnh vấn đề trách nhiệm đối với quan hệ quốc tế. Ông không cảm thấy nó đúng là đơn của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không thể được chấp nhận bởi vì nó "đã không biểu thị quan hệ quốc tế của mình". Mặc dù một số đại biểu đã bày tỏ quan điểm cho rằng các tiêu chí chung để quyết định sự độc lập của một quốc gia là sự công nhận chung, ông tin rằng những cân nhắc khác nên được xem xét, chẳng hạn như lãnh thổ và dân số một chính phủ kiểm soát, phương tiện của nó, và việc kiểm soát các lực lượng vũ trang.


Đại diện của Ấn Độ thông báo ý định hỗ trợ cả hai ứng cử viên. Các đơn gia nhập của các Chính phủ ấy có vẻ thực sự kiểm soát đời sống kinh tế của khu vực, ông cho rằng, nên được hỗ trợ.


Với 8 phiếu biểu quyết trên 1 và 3 phiếu trắng, Ủy ban thừa nhận Quốc Gia Việt Nam như một thành viên liên kết của ECAFE. Đơn gia nhập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bị từ chối từ kết quả 2 phiếu ủng hộ so với 7 phiếu chống và 3 phiếu trắng.


Trang 509 trong cuốn Year Book năm 1948-1949 của LHQ.Trang 509 trong cuốn Year Book năm 1948-1949 của LHQ.

Trang 510 trong cuốn Year Book năm 1948-1949 của LHQ. Trang 510 trong cuốn Year Book năm 1948-1949 của LHQ.


3. Rút ra cái gì?

- Việt Nam Cộng Hòa đã từng được công nhận là một quốc gia chính thức và đã từng được biểu quyết là thành viên kết giao của Liên Hiệp Quốc từ tháng 8 năm 1948.

- Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bị khước từ đơn gia nhập ngay từ 1948 và không được công nhận là một quốc gia hợp pháp.

Chú thích:

[1] ECAFE là viết tắt của Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (Ủy ban kinh tế và xã hội Á Châu và Thái Bình Dương).

Nguồn:
https://www.facebook.com/notes/ho%C3%A0ng-ng%E1%BB%8Dc-di%C3%AAu/v%C3%A0i-chuy%E1%BB%87n-%E1%BB%9F-h%E1%BB%99i-%C4%91%E1%BB%93ng-lhq-n%C4%83m-1947-1949/669907056364938

Vài chuyện ở hội đồng LHQ năm 1947-1949



Monday, November 3, 2014

KIẾN TRÚC SƯ XÂY DỰNG CỐ CUNG (TQ)

 





KIẾN TRÚC SƯ XÂY DỰNG CỐ CUNG (TQ)


Nguyễn Chính Viễn


Đến du lịch Trung quốc, có thể bạn đã biết đến những công trình to lớn tại Bắc Kinh như: Tử Cấm Thành, Càn Thanh Cung, Thành Trì Bắc Kinh, Điện Phụng Thiên, các phủ triều đình… Nhưng các bạn có thể chưa biết tác giả của các công trình đó là ai? Xin thưa: Các công trình to lớn tại Trung Quốc đó là do ông Nguyễn An (1381-1453) người mang dòng máu Việt Nam với tài năng, trí thông minh và niềm đam mê công việc cao cả đã xây dựng lên những công trình đồ sộ và tráng lệ được người đời nể phục. Người tổng công trình sư này đã làm nên một kiến trúc lẫy lừng; đó là cố cung Bắc Kinh hay còn được gọi là Tử Cấm Thành, một di sản bằng gỗ bậc nhất thế giới đã được Unesco công nhận.


Nguyễn An là người Hà Đông (Hà Nội ngày nay) từng làm quan triều Trần, Hồ. Ông bị bắt trong số sang làm Thái Giám vào thời nhà Minh, sau khi nhà Hồ bị quân Minh đánh bại. Khi ở Trung Quốc, tên của Nguyễn An là A Lưu. Trong số thái giám phục vụ ở cung vua, Minh Thành Tổ thấy Nguyễn An giỏi toán học, có tài năng hơn người về kiến trúc xây dựng, lại liêm khiết hiếm thấy nên tin dùng. Nguyễn An với khả năng sáng tạo kiến trúc đô thị, tài tính toán xuất xắc đã được chọn làm tổng công trình sư thành Bắc Kinh mới (Cố Cung) sau khi Chu Đệ lên ngôi. Nguyễn An đã chỉ huy và xây dựng nên một Tử Cấm Thành uy nghi trong vòng 17 năm. Trong đó có 13 năm chuẩn bị, tính toán những con số để thiết kế công trình, thu thập vật liệu và nhân công… quá trình xây dựng và lắp ráp hoàn thành chỉ có ba năm.


Theo Sử sách Trung Quốc: Kinh thành ký thắng của Dương Sĩ Kỳ có viết:
“Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng.”


Ông đã thiết kế Cố Cung theo quan niệm vũ trụ trời tròn, đất vuông. Nơi ở của nhà vua là vị trí trung tâm, kiến trúc tráng lệ, phong cảnh tuyệt trần. Thiên An Môn – Cổng trời bình yên rất nổi tiếng đã được thiết kế một nơi xa nhất ở phía Nam. Năm 1421, ba điện lớn là Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa cùng với cung Càn Thanh, Khôn Ninh bị cháy. Nguyễn An lại một lần nữa được giao xây dựng lại và chưa đầy một năm ông đã hoàn thành kiến trúc Tử Cấm Thành tuyệt mỹ như hiện tại. Sau khi trùng tu Cố Cung công trình kiến trúc vẫn là bằng gỗ, nhưng cải tiến phương pháp phòng hỏa hoạn. Trong Cố Cung có bốn dãy nhà bên trong bằng đá, bên ngoài trông như nhà cửa, toàn bộ bên trong đều do những phiến đá tạo thành, đây là tường phòng hỏa do kiến trúc sư Nguyễn An dày công thiết kế. Trong các khuôn viên của Cố Cung, tổng cộng đặt 308 chiếc vạc lớn, bên trong vạc quanh năm đều chứa đầy nước dùng để phòng hỏa. Đến mùa đông, cho người đốt lửa ở dưới để giữ cho nước ấm không bị đóng băng. Cố Cung là công trình kiến trúc cung điện cổ đại được bảo tồn nguyên vẹn nhất và lớn nhất trên thế giới hiện nay.


Nguyễn An là người hết lòng vì công việc, tận tụy, cần mẫn, thanh bạch, liêm khiết. Năm 1456, đê sông Hoàng Hà bị vỡ, quan phủ trong vùng chắn không được, vua Minh lại phái Nguyễn An đi, chẳng may ông bị bệnh và mất dọc đường (thọ 75 tuổi). Trước khi mất, Nguyễn An trăn trối: Không cho xây lăng mộ như những người có công thời ấy thường làm, mà nên đem toàn bộ của cải của ông góp vào quỹ công, để phát chẩn cho dân bị lụt Sơn Đông. Hiện nay Cố cung – Bắc Kinh là một trong những điểm du lịch Trung quốc thu hút nhiều khách, du lịch quốc tế đến thăm viếng ngắm cảnh. Tử Cấm Thành - Kho báu lịch sử và văn hóa Trung Hoa hay còn gọi là Cổ Cung (theo cách gọi ngày nay), nằm ngay giữa trung tâm thành phố Bắc Kinh trước đây, là cung điện của 24 triều vua từ giữa nhà Minh đến cuối nhà Thanh. Các cung điện đồ sộ trong Tử Cấm Thành được bắt đầu xây dựng vào năm thứ bốn đời vua Vĩnh Lạc - vị hoàng đế xuất xắc nhất của triều Minh, và là một trong những vị vua lỗi lạc của Trung Quốc (tức là năm 1406), và hoàn thành sau 14 năm (tức là năm 1420).


Vào thời xưa, hoàng đế tự cho mình là chân mệnh thiên tử (con của trời), vì thế họ có quyền lực tối cao. Họ cho rằng, cung điện của họ ở mặt đất là “bản sao”, được xây dựng giống hệt như Thiên Cung trên trời, nơi mà chỉ có các vị thần sinh sống. Một nơi thiêng liêng như thế này thì không thể để những người dân thường lui tới, chính vì vậy cái tên Tử Cấm Thành đã ra đời. Chữ “Tử” trong câu “Tử cẩm thành” có nghĩa là “màu tím”, lấy ý theo thần thoại: Tử Vi Viên ở trên trời là nơi ở của Trời, vua là con Trời nên nơi ở của vua cũng gọi là “Tử”, “Cấm Thành” là khu cấm dân thường ra vào.


Kiến trúc xa hoa, lộng lẫy của Tử Cấm Thành là biểu tượng của sự đỉnh cao trong kiến trúc nói chung, và là công trình tiêu biểu cho nền kiến trúc truyền thống của Trung Quốc. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, nơi đây thực sự đã trở thành kho báu lịch sử và văn hóa Trung Quốc, và được công nhận là một trong năm cung điện quan trọng nhất thế giới. Trong suốt năm 1961, Tử Cấm Thành được coi là một di tích lịch sử vô cùng quan trọng, được chính phủ Trung ương Trung Hoa bảo tồn và gìn giữ đặc biệt.


Năm 1987, UNESCO (Tổ chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa của Liên Hiệp Quốc) công nhận Tử Cấm Thành là di sản văn hóa thế giới. Tử Cấm Thành là một quần thể kiến trúc bằng gỗ quy mô nhất thế giới nằm trên diện tích 72 ha, có tổng số 150.000 mét vuông sàn; có 90 sân và cung điện, 8.704 phòng, và 980 tòa nhà; xung quanh có tường thành cao 10m bao bọc, ven ngoài tường có hào nước rộng 52m. Bốn góc thành có bốn tháp canh, bốn mặt thành có bốn cửa ra vào đối diện nhau: Ngọ Môn (phía Nam), Thần Vũ Môn (phía Bắc), Đông Hoa Môn (phía Đông), Tây Hoa Môn (phía Tây). Các kiến trúc quan trọng của Cố Cung đều nằm trên một đường trục Nam - Bắc ở chính giữa. Hai bên là các kiến trúc phụ đối xứng nhau. Trong thư viện Trung Quốc có rất nhiều sách và tài liệu ngay cả truyện mô tả rằng thành Bắc Kinh cũng như nhiều cung điện trong Tử Cấm Thành được thiết kế và xây dựng bởi một người Việt Nam. Đó là ông Nguyễn An một quan thái giám bị quân Minh bắt khi họ xâm lược Việt Nam dưới thời Hồ Quý Ly. Cửa Ngọ Môn, cửa chính để vào Cố Cung nằm ở phía Nam trên trục chính. Khi vào cửa Ngọ Môn, trước mặt là một quảng trường có con sông Kim Thủy chảy ngang qua hình dây cung. Chính giữa có năm chiếc cầu bằng đá trắng lớn, hai bên cầu và hai bên sông đều có lan can bằng đá trắng. Cửa Thái Hòa cửa lớn của ba điện lớn ở Tử Cấm Thành, đằng trước có bảy gian dựng trên một nền đá cao. Ở hai bên phía trước có con sư tử đồng ngồi ở bệ đá. Điện Thái Hòa là ngôi điện quan trọng nhất của Tử Cấm Thành, không chỉ vì vị trí của nó ở trung tâm Tử Cấm Thành mà về hình thể kiến trúc, về trang trí và các mặt khác đều đứng hàng đầu trong quần thể kiến trúc đó. Trang trí ở điện Thái Hòa phần lớn là hoa văn hình rồng.


Trong điện Thái Hòa có sáu cây cột giữa sơn son thếp vàng với hình những con rồng vàng lượn khúc. Ở trần nhà, trên đầu sáu cây cột được thiết kế tạo dáng như hình một cái giếng hình vuông rồi dần dần thu nhỏ lại, từ hình vuông chuyển thành hình bát giác và trên cùng vẽ hình một con rồng lượn khúc mặt nhìn xuống dưới, phía trước là một khối thủy tinh hình tròn. Bệ rồng của nhà vua là một ngai vàng đặt trên bục gỗ dưới cây cột vàng. Từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, người ta cộng lại tất cả có 12.654 hình con rồng uốn lượn trong mọi tư thế. Đường vào Cung Càn Thanh, đây là cung lớn ở phía sau Tử Cấm Thành, nơi ở của nhà vua và hoàng hậu. Ở đây còn là nơi vua tiếp kiến các đại thần và giải quyết công việc hàng ngày. Sân rồng của Cung Càn Thanh có hai cửa Đông Tây mang tên Nhật Tinh và Nguyệt Hoa, tượng trưng cho Nhật, Nguyệt. Phần phía sau cùng ở Tử Cấm Thành là Ngự Hoa Viên mà trong các sách Việt Nam thường gọi là Vườn Thượng Uyển. Vườn Thượng Uyển được xây dựng vào năm 1417, trong có điện Thọ Hòa. Đây là nơi cảnh sắc thiên nhiên ngập tràn, khác hẳn với sự nguy nga tráng lệ của các cung điện trong Tử Cấm Thành. Hình ảnh rực rỡ của sân trong Tử Cấm Thành. Giữa cái trong xanh của trời và nước là một tòa tháp tại góc phía Tây Bắc Tử Cấm Thành. Trần cung điện trong Ngự Hoa Viên được thiết kế tỉ mỉ đến từng chi tiết. Vẻ đẹp đằm thắm của một con kênh bên bờ Tử Cấm Thành. Hai con sư tử mạ vàng trước Cung Ninh Thọ. Và chín con rồng uốn khúc bảo vệ cung Ninh Thọ.


Không tự hào sao được khi Việt Nam chúng ta có người tài giỏi như Nguyễn An....


Nguyễn Chính Viễn
Sưu tầm




 

The Bell Curve

 

The Bell Curve

Trắc Nghiệm Trí Thông Minh Qua Phương pháp Bell Curve


The Bell Curve
TheBellCurve.gif

The Bell Curve: Intelligence and Class Structure in American Life is a 1994 book by American psychologist Richard J. Herrnstein (who died before the book was released) and American political scientist Charles Murray. Its central argument is that human intelligence is substantially influenced by both inherited and environmental factors and is a better predictor of many personal dynamics, including financial income, job performance, chance of unwanted pregnancy, and involvement in crime than are an individual's parental socioeconomic status, or education level. The book also argues that those with high intelligence, the "cognitive elite", are becoming separated from those of average and below-average intelligence, and that this is a dangerous social trend with the United States moving toward a more divided society similar to that in Latin America.

The book was controversial, especially where the authors wrote about racial differences in intelligence and discussed the implications of those differences. The authors were reported throughout the popular press as arguing that these IQ differences are genetic. They wrote in chapter 13: "It seems highly likely to us that both genes and the environment have something to do with racial differences." The introduction to the chapter more cautiously states, "The debate about whether and how much genes and environment have to do with ethnic differences remains unresolved."

The book's title comes from the bell-shaped normal distribution of intelligence quotient (IQ) scores in a population.

Shortly after publication, many people rallied both in criticism and defense of the book. A number of critical texts were written in response to the book.

The Bell Curve, published in 1994, was written by Richard Herrnstein and Charles Murray as a work designed to explain, using empirical statistical analysis, the variations in intelligence in American society, raise some warnings regarding the consequences of this intelligence gap, and propose national social policy with the goal of mitigating the worst of the consequences attributed to this intelligence gap. Many of the assertions put forth and conclusions reached by the authors are very controversial, ranging from the relationships between low measured intelligence and anti-social behavior, to the observed relationship between low African-American test scores (compared to whites and East Asians) and genetic factors in intelligence abilities. The book was released and received with a large public response. In the first several months of its release, 400,000 copies of the book were sold around the world. Several thousand reviews and commentaries have been written in the short time since the book's publication. The Bell Curve argues that:

  1. Intelligence exists and is accurately measurable across racial, language, and national boundaries.
  2. Intelligence is one of, if not the most, important factors correlated to economic, social, and overall success in the United States, and its importance is increasing.
  3. Intelligence is largely (40% to 80%) heritable.
  4. No one has so far been able to manipulate IQ to a significant degree through changes in environmental factors—except for child adoption and that they conclude is not large in the long term—and in light of these failures, such approaches are becoming less promising.
  5. The United States has been in denial of these facts. A better public understanding of the nature of intelligence and its social correlates is necessary to guide future policy decisions.

Their evidence comes from an analysis of data compiled in the National Longitudinal Study of Youth (NLSY), a study conducted by the United States Department of Labor's Bureau of Labor Statistics tracking thousands of Americans starting in the 1980s. All participants in the NLSY took the Armed Services Vocational Aptitude Battery (ASVAB), a battery of ten tests taken by all who apply for entry into the armed services. (Some had taken an IQ test in high school, and the median correlation of the Armed Forces Qualification Test (AFQT) scores and those IQ test scores was .81.) Participants were later evaluated for social and economic outcomes. In general, IQ/AFQT scores were a better predictor of life outcomes than social class background. Similarly, after statistically controlling for differences in IQ, many outcome differences between racial-ethnic groups disappeared.

Economic and social correlates of IQ
IQ <75 75-90 90-110 110-125 >125
US population distribution 5 20 50 20 5
Married by age 30 72 81 81 72 67
Out of labor force more than 1-month out of year (men) 22 19 15 14 10
Unemployed more than 1-month out of year (men) 12 10 7 7 2
Divorced in 5 years 21 22 23 15 9
 % of children w/ IQ in bottom decile (mothers) 39 17 6 7 -
Had an illegitimate baby (mothers) 32 17 8 4 2
Lives in poverty 30 16 6 3 2
Ever incarcerated (men) 7 7 3 1 0
Chronic welfare recipient (mothers) 31 17 8 2 0
High school dropout 55 35 6 0.4 0

Values are the percentage of each IQ sub-population, among non-Hispanic whites only, fitting each descriptor. Herrnstein & Murray (1994) pp. 171, 158, 163, 174, 230, 180, 132, 194, 247-248, 194, 146 respectively.

They also stated that the average IQ of African Americans is 85; Latinos 89; Whites 103; Asians 106[citation needed].

Policy recommendations

The book argued the average genetic IQ of the United States is declining due to the tendency of the more intelligent to have fewer children than the less intelligent, for the generation length to be shorter for the less intelligent, and through the large-scale immigration to the United States of those with low intelligence. The United States will become increasingly like Latin America, with high-IQ whites and Asians living in fortified enclaves protected by high fences and armed guards from "the menace of the slums" below.

In a discussion of the future political outcomes of an intellectually stratified society, they stated that they "fear that a new kind of conservatism is becoming the dominant ideology of the affluent – not in the social tradition of an Edmund Burke or in the economic tradition of an Adam Smith but 'conservatism' along Latin American lines, where to be conservative has often meant doing whatever is necessary to preserve the mansions on the hills from the menace of the slums below."[1] Moreover, they fear that increasing welfare will create a "custodial state" in "a high-tech and more lavish version of the Indian reservation for some substantial minority of the nation's population." They also predict increasing totalitarianism: "It is difficult to imagine the United States preserving its heritage of individualism, equal rights before the law, free people running their own lives, once it is accepted that a significant part of the population must be made permanent wards of the states."[2]

Herrnstein and Murray recommended the elimination of welfare policies that encourage poor women to have babies:

We can imagine no recommendation for using the government to manipulate fertility that does not have dangers. But this highlights the problem: The United States already has policies that inadvertently social-engineer who has babies, and it is encouraging the wrong women. "If the United States did as much to encourage high-IQ women to have babies as it now does to encourage low-IQ women, it would rightly be described as engaging in aggressive manipulation of fertility." The technically precise description of America's fertility policy is that it subsidizes births among poor women, who are also disproportionately at the low end of the intelligence distribution. We urge generally that these policies, represented by the extensive network of cash and services for low-income women who have babies, be ended. The government should stop subsidizing births to anyone rich or poor. The other generic recommendation, as close to harmless as any government program we can imagine, is to make it easy for women to make good on their prior decision not to get pregnant by making available birth control mechanisms that are increasingly flexible, foolproof, inexpensive, and safe.[3]

The book also argued for reducing immigration into the U.S. which was argued to lower the average national IQ. It also recommended against policies of affirmative action.

Responses

Media response

A 1995 article by Fairness and Accuracy in Reporting writer Jim Naureckas analyzed the media response. The Bell Curve received a great deal of media attention. He wrote "While many of these discussions included sharp criticisms of the book, media accounts showed a disturbing tendency to accept Murray and Herrnstein's premises and evidence even while debating their conclusions" and "their critics were sometimes identified with censorious political correctness". Naureckas criticized these assumptions. He also argued that the book was part of a campaign to justify racism and against welfare and immigration.[4]

Peer review

An early criticism was that Herrnstein and Murray did not submit their work to peer review before publication.[5] Many scholarly reviews of the book arrived later as discussed below. Richard Lynn (1999) wrote that "The book has been the subject of several hundred critical reviews, a number of which have been collected in edited volumes".[6]

"Mainstream Science on Intelligence"[edit]

Fifty-two professors, most of them researchers in intelligence and related fields, signed an opinion statement titled "Mainstream Science on Intelligence"[7] endorsing a number of the views presented in The Bell Curve. The statement was written by psychologist Linda Gottfredson and published in The Wall Street Journal in 1994 and subsequently reprinted in Intelligence, an academic journal. Of the 131 who were invited by mail to sign the document, 100 responded, with 52 agreeing to sign and 48 declining. Eleven of the 48 dissenters claimed that the statement or some part thereof did not represent the mainstream view of intelligence.[8]

APA task force report

In response to the growing controversy surrounding The Bell Curve, the American Psychological Association's Board of Scientific Affairs established a special task force to publish an investigative report on the research presented in the book.[9] The final report, titled Intelligence: Knowns and Unknowns, is available at an academic website.[10] Some of the task force's findings supported or were consistent with statements from The Bell Curve. They agreed that:

  • IQ scores have high predictive validity for individual differences in school achievement.
  • IQ scores have predictive validity for adult occupational status, even when variables such as education and family background have been statistically controlled.
  • There is little evidence to show that childhood diet influences intelligence except in cases of severe malnutrition.

Regarding Murray and Herrnstein's claims about racial differences and genetics, the APA task force stated:

There is certainly no such support for a genetic interpretation... . It is sometimes suggested that the Black/ White differential in psychometric intelligence is partly due to genetic differences (Jensen, 1972). There is not much direct evidence on this point, but what little there is fails to support the genetic hypothesis.

Regarding statements about other explanations for racial differences, the APA task force stated [emphasis added]:

The differential between the mean intelligence test scores of Blacks and Whites (about one standard deviation, although it may be diminishing) does not result from any obvious biases in test construction and administration, nor does it simply reflect differences in socio-economic status. Explanations based on factors of caste and culture may be appropriate, but so far have little direct empirical support. There is certainly no such support for a genetic interpretation. At present, no one knows what causes this differential.

The APA journal that published the statement, American Psychologist, subsequently published eleven critical responses in January 1997.

Criticisms[edit]

The validity of IQ and general intelligence, g[edit]

One part of the criticism of The Bell Curve focused on the validity of IQ and g. William J. Matthews and Stephen Jay Gould (1994) listed four basic assumptions of The Bell Curve. According to Gould, if any of these premises are false, then their entire argument disintegrates (Gould, 1994).[11]

  1. Intelligence must be reducible to a single number.
  2. Intelligence must be capable of rank ordering people in a linear order.
  3. Intelligence must be primarily genetically based.
  4. Intelligence must be essentially immutable.

Similarly, anthropologist C. Loring Brace in a review wrote that The Bell Curve made six basic assumptions at the beginning of the book. He argued that there are faults in every one of these assumptions.[12]

  1. Human Cognitive ability is a single general entity, depictable as a single number.
  2. Cognitive ability has a heritability of between 40 and 80 percent and is therefore primarily genetically based.
  3. IQ is essentially immutable, fixed over the course of a life span.
  4. IQ tests measure how "smart" or "intelligent" people are and are capable of rank ordering people in a linear order.
  5. IQ tests can measure this accurately.
  6. IQ tests are not biased with regard to race, ethnic group or socioeconomic status.

Relationship between IQ and outcomes[edit]

The Nobel Memorial Prize winning economist James Heckman writes that two assumptions made in the book are questionable: that g accounts for correlation across test scores and performance in society, and that g cannot be manipulated. Heckman writes that a reanalysis of the evidence used in The Bell Curve contradicts this story. The factors that explain wages receive different weights than the factors that explain test scores. More than g is required to explain either. Other factors besides g contribute to social performance, and they can be manipulated.[13] Murray argued that this was a straw man and that the book does not argue that g or IQ are totally immutable or the only factors affecting outcomes.[14]

In a 2005 interview, Heckman praised The Bell Curve for breaking "a taboo by showing that differences in ability existed and predicted a variety of socioeconomic outcomes" and for playing "a very important role in raising the issue of differences in ability and their importance." However, he also maintained that Herrnstein and Murray overestimated the role of heredity in determining intelligence differences, while admitting to being "a bigger fan of [The Bell Curve] than you might think."[15]

Michael Hout of the University of California, Berkeley, along with five colleagues, recalculated the effect of socioeconomic status, using the same variables as The Bell Curve, but weighting them differently. They found that if IQ scores are corrected, as Herrnstein and Murray did, to eliminate the effect of education, the ability of IQ to predict poverty can be made to look dramatically overstated, by as much as 61 percent for whites and 74 percent for blacks. In other words, according to Hout et al., Herrnstein and Murray's finding, that IQ predicts poverty much better than socioeconomic status does, is substantially a result of the way they handled the statistics.[16]

In August 1995, at the National Bureau of Economic Research economist Sanders Korenman and Harvard University sociologist Christopher Winship found certain errors in Herrnstein's methodology. Korenman and Winship concluded:"... there is evidence of substantial bias due to measurement error in their estimates of the effects of parents' socioeconomic status. In addition, Herrnstein and Murray's measure of parental socioeconomic status (SES) fails to capture the effects of important elements of family background (such as single-parent family structure at age 14). As a result, their analysis gives an exaggerated impression of the importance of IQ relative to parents' SES, and relative to family background more generally. Estimates based on a variety of methods, including analyses of siblings, suggest that parental family background is at least as important, and may be more important than IQ in determining socioeconomic success in adulthood."[17]

One early critical book was The Bell Curve Debate.

In the book Intelligence, Genes, and Success: Scientists Respond to The Bell Curve, a group of social scientists and statisticians analyzes the genetics-intelligence link, the concept of intelligence, the malleability of intelligence and the effects of education, the relationship between cognitive ability, wages and meritocracy, pathways to racial and ethnic inequalities in health, and the question of public policy. This work argues that much of the public response was polemic, and failed to analyze the details of the science and validity of the statistical arguments underlying the book's conclusions.[18]

William J. Matthews writes that part of The Bell Curve's analysis is based on the AFQT "which is not an IQ test but designed to predict performance of certain criterion variables".[19] Heckman observed that the AFQT was designed only to predict success in military training schools and that most of these tests appear to be achievement tests rather than ability tests, measuring factual knowledge and not pure ability. He continues:

Ironically, the authors delete from their composite AFQT score a timed test of numerical operations because it is not highly correlated with the other tests. Yet it is well known that in the data they use, this subtest is the single best predictor of earnings of all the AFQT test components. The fact that many of the subtests are only weakly correlated with each other, and that the best predictor of earnings is only weakly correlated with their "g-loaded" score, only heightens doubts that a single-ability model is a satisfactory description of human intelligence. It also drives home the point that the "g-loading" so strongly emphasized by Murray and Herrnstein measures only agreement among tests—not predictive power for socioeconomic outcomes. By the same token, one could also argue that the authors have biased their empirical analysis against the conclusions they obtain by disregarding the test with the greatest predictive power.[13][20]

Janet Currie and Duncan Thomas presented evidence suggesting AFQT scores are likely better markers for family background than "intelligence" in a 1999 Study.

Herrnstein and Murray report that conditional on maternal "intelligence" (AFQT scores), child test scores are little affected by variations in socio-economic status. Using the same data, we demonstrate their finding is very fragile.[21]

Charles R. Tittle and Thomas Rotolo found that the more that written, IQ-like examinations are used as screening devices for occupational access, the stronger the relationship between IQ and income. Thus, rather than higher IQ leading to status attainment because it indicates skills needed in a modern society, IQ may reflect the same test-taking abilities used in artificial screening devices by which status groups protect their domains.[22]

Min-Hsiung Huang and Robert M. Hauser write that Herrnstein and Murray provide scant evidence of growth in cognitive sorting. Using data from the General Social Survey, they tested each of these hypotheses using a short verbal ability test which was administered to about 12,500 American adults between 1974 and 1994; the results provided no support for any of the trend hypotheses advanced by Herrnstein and Murray. One chart in The Bell Curve purports to show that people with IQs above 120 have become "rapidly more concentrated" in high-IQ occupations since 1940. But Robert Hauser and his colleague Min-Hsiung Huang retested the data and came up with estimates that fell "well below those of Herrnstein and Murray." They add that the data, properly used, "do not tell us anything except that selected, highly educated occupation groups have grown rapidly since 1940."[23]

In 1972, Noam Chomsky questioned Herrnstein's idea that society was developing towards a meritocracy. Chomsky criticized the assumptions that people only seek occupations based on material gain. He argued that Herrnstein would not want to become a baker or lumberjack even if he could earn more money that way. He also criticized that assumption that such a society would be fair with pay based on value of contributions. He argued that because there are already unjust great inequalities, people will often be paid, not for valuable contributions to society, but to preserve such inequalities.[24]

In 1995, Chomsky directly criticized the book and its assumptions on IQ. He takes issue with the idea that IQ is 60% heritable saying, the "statement is meaningless" since heritability doesn't have to be genetic. He gives the example of women wearing earrings:

To borrow an example from Ned Block, "some years ago when only women wore earrings, the heritability of having an earring was high because differences in whether a person had an earring was due to a chromosomal difference, XX vs. XY." No one has yet suggested that wearing earrings, or ties, is "in our genes," an inescapable fate that environment cannot influence, "dooming the liberal notion." [25]

He goes on to say there is almost no evidence of a genetic link, and greater evidence that environmental issues are what determine IQ differences.

Race and intelligence

One part of the controversy concerned the parts of the book which dealt with racial group differences on IQ and the consequences of this. The authors were reported throughout the popular press as arguing that these IQ differences are genetic, and they did indeed write in chapter 13: "It seems highly likely to us that both genes and the environment have something to do with racial differences." The introduction to the chapter more cautiously states, "The debate about whether and how much genes and environment have to do with ethnic differences remains unresolved."

Economist Thomas Sowell criticized the book's conclusions about race and the malleability of IQ, writing:[26]

When European immigrant groups in the United States scored below the national average on mental tests, they scored lowest on the abstract parts of those tests. So did white mountaineer children in the United States tested back in the early 1930s... Strangely, Herrnstein and Murray refer to "folklore" that "Jews and other immigrant groups were thought to be below average in intelligence." It was neither folklore nor anything as subjective as thoughts. It was based on hard data, as hard as any data in The Bell Curve. These groups repeatedly tested below average on the mental tests of the World War I era, both in the army and in civilian life. For Jews, it is clear that later tests showed radically different results—during an era when there was very little intermarriage to change the genetic makeup of American Jews.

Rushton (1997) as well as Cochran et al. (2005) have argued that also the early testing does in fact support a high average Jewish IQ.[27][28]

Columnist Bob Herbert, writing for The New York Times, described the book as "a scabrous piece of racial pornography masquerading as serious scholarship." "Mr. Murray can protest all he wants," wrote Herbert; "his book is just a genteel way of calling somebody a nigger."[29]

One prominent critic of The Bell Curve was the late Stephen Jay Gould, who in 1996 released a revised and expanded edition of his 1981 book The Mismeasure of Man intended to more directly refute many of The Bell Curve's claims regarding race and intelligence. Specifically, Gould argued that the then-current evidence showing heritability of IQ did not indicate a genetic origin to group differences in intelligence. This book has in turn been criticized.[30][31]

Psychologist David Marks has suggested that the ASVAB test battery used in the analyses of The Bell Curve correlates highly with measures of literacy, and argues that the ASVAB test in fact is not a measure of general intelligence but of literacy.[32][33]

Melvin Konner, professor of anthropology and associate professor of psychiatry and neurology at Emory University, called Bell Curve a "deliberate assault on efforts to improve the school performance of African-Americans":

This book presented strong evidence that genes play a role in intelligence but linked it to the unsupported claim that genes explain the small but consistent black-white difference in IQ. The juxtaposition of good argument with a bad one seemed politically motivated, and persuasive refutations soon appeared. Actually, African-Americans have excelled in virtually every enriched environment they have been placed in, most of which they were previously barred from, and this in only the first decade or two of improved but still not equal opportunity. It is likely that the real curves for the two races will one day be superimposable on each other, but this may require decades of change and different environments for different people. Claims about genetic potential are meaningless except in light of this requirement.[34]

Noam Chomsky in 1972, in an earlier debate with Herrnstein, argued that even if there is a correlation between race and intelligence, this would have no "social consequences except in a racist society in which each individual is assigned to a racial category and dealt with not as an individual in his own right, but as a representative of this category … In a non-racist society, the category of race would be of no greater significance [than height].[24]

In 1995, Chomsky criticized the book's accusations about race, saying that there is little evidence that IQ is genetic but that it is influenced by the environment. He goes on to criticize the notion that Blacks and people with lower IQs having more children is even a problem and criticized solutions the authors propose to stop it:

There's an easy solution to the problem: simply bring here millions of peasants driven from the countryside in China ...and radically reduce Browne's income...while Black mothers are placed in Manhattan high rises and granted every advantage. Then the Asian influx will raise the IQ level; and as serious inquiry demonstrates, the fertility rate of Blacks is very likely to drop while that of the children of the journalistic elite, Harvard psychology professors, and associates of the American Enterprise Institute will rapidly rise. The problem is solved;[25]

Rutledge M. Dennis suggests that through soundbites of works like Jensen's famous study on the achievement gap, and Herrnstein and Murray's book The Bell Curve, the media "paints a picture of Blacks and other people of color as collective biological illiterates—as not only intellectually unfit but evil and criminal as well," thus providing, he says "the logic and justification for those who would further disenfranchise and exclude racial and ethnic minorities."[35]

Critic Charles Lane pointed out that 17 of the researchers whose work is referenced by the book have also contributed to Mankind Quarterly, a journal of anthropology founded in 1960 in Edinburgh, which has been viewed as supporting the theory of the genetic superiority of the whites.[36]

In his book The Bell Curve Wars: Race, Intelligence, and the Future of America, Steven Fraser writes that "by scrutinizing the footnotes and bibliography in The Bell Curve, readers can more easily recognize the project for what it is: a chilly synthesis of the work of disreputable race theorists and eccentric eugenicists".[37]

Since the book provided statistical data supporting the assertion that blacks were, on average, less intelligent than whites, some people have feared that The Bell Curve could be used by extremists to justify genocide and hate crimes.[38][39] Much of the work referenced by the Bell Curve was funded by the Pioneer Fund, which aims to advance the scientific study of heredity and human differences, and has been accused of promoting scientific racism.[40][41][42]

Evolutionary biologist Joseph L. Graves described The Bell Curve as an example of racist science, containing all the types of errors in the application of scientific method that have characterized the history of scientific racism:

  1. claims that are not supported by the data given
  2. errors in calculation that invariably support the hypothesis
  3. no mention of data that contradicts the hypothesis
  4. no mention of theories and data that conflict with core assumptions
  5. bold policy recommendations that are consistent with those advocated by racists.[43]

Author's follow-up

Relation between IQ and earnings in the U.S.
IQ <75 75–90 90–110 110–125 >125
Age 18 2,000 5,000 8,000 8,000 3,000
Age 26 3,000 10,000 16,000 20,000 21,000
Age 32 5,000 12,400 20,000 27,000 36,000
Values are the average earnings (1993 US Dollars) of each IQ sub-population.[44]

Murray responded to specific criticisms of the analysis of the practical importance of IQ compared to socio-economic status (Part II of The Bell Curve) in a 1998 book Income Inequality and IQ.[45] To circumvent criticisms surrounding their use of a statistical control for socioeconomic status (SES), Murray adopted a sibling design. Rather than statistically controlling for parental SES, Murray compared life outcome differences among full sibling pairs who met a number of criteria, in which one member of the pair has an IQ in the "normal" range and the other siblings has an IQ in a higher or lower IQ category. According to Murray, this design controls for all aspects of family background (full siblings share the same family background, growing up together in the same home and the same community).

Comparison of The Bell Curve control for parental SES and the sibling fixed-effect model of IQ and Income Inequality for IQ regression[clarification needed]
Indicator Bell Curve control for parental SES Sibling fixed-effect model
Annual earnings, year-round workers 5548 5317
Years of schooling 0.59 0.45
Attainment of BA 1.76 1.87
High-IQ occupation 1.39 1.72
Out of labor force 1+ month -0.34 -0.3
Unemployed 1+ month -0.52 -0.47






Relation between IQ and life outcomes in the U.S. among sibling pairs in a "Utopian" sample
IQ <75 75–90 90–110 110–125 >125
Mean years of education 11.4 (10.9) 12.3 (11.9) 13.4 (13.2) 15.2 (15.0) 16.5 (16.5)
Percentage obtaining B.A. 1 (1) 4 (3) 19 (16) 57 (50) 80 (77)
Mean weeks worked 35.8 (30.7) 39.0 (36.5) 43.0 (41.8) 45.1 (45.2) 45.6 (45.4)
Mean earned income 11,000 (7,500) 16,000 (13,000) 23,000 (21,000) 27,000 (27,000) 38,000 (36,000)
Percentage with a spouse who has earned income 30 (27) 38 (39) 53 (54) 61 (59) 58 (58)
Mean earned family income 17,000 (12,000) 25,000 (23,400) 37,750 (37,000) 47,200 (45,000) 53,700 (53,000)
Percentage children born out of wedlock 49 (50) 33 (32) 14 (14) 6 (6) 3 (5)
Fertility to date 2.1 (2.3) 1.7 (1.9) 1.4 (1.6) 1.3 (1.4) 1.0 (1.0)
Mother's mean age at birth 24.4 (22.8) 24.5 (23.7) 26.0 (25.2) 27.4 (27.1) 29.0 (28.5)
Values are "Utopian sample" ("Full sample"). Earning values are the 1993 US Dollars.[45]


*****************************************
*****************************************

Muốn dân Việt Nam thông minh hơn thì chúng ta đem lại NURTURE tốt hơn cho các thế hệ trẻ sau này
Quote:
Trích dẫn từ bài viết của Dr_Tran
NURTURE chúng ta kém, chứ NATURE chúng ta không hề thua bất cứ sắc dân nào.

Trong THE BELL CURVE, hai vị giáo sư viện đại học Harvard viết:
http://en.wikipedia.org/wiki/The_bell_curve
"Korean and Vietnamese babies from poor backgrounds, many of whom were malnourished, were adopted by White American and Belgian families. When they grew up, they excelled in school. The IQs of the adopted Oriental children were 10 or more points higher than the national average for the country they grew up in .”

Dân đen đương nhiên nhảy dựng lên, vì hai vị này đưa ra vô số bằng chứng rằng cho dù một gia đình nào đó nhận nuôi một đứa đen, một đứa Việt Nam, thì đứa Việt Nam GIỎI HƠN.

Để chống lại luận điệu cho rằng gia đình Mỹ trắng khi nhận nuôi đứa đen thì không thúc đẩy chúng học nhiều, hai ông công bố kết quả nghiên cứu trong đó nhiều gia đình nhận nuôi đứa con "trông Trắng" nhưng thật ra là lai đen, như vậy họ thúc đẩy đứa "Trắng" này học nhiều, thì đứa trẻ này VẪN THUA xa đứa Việt Nam!

Nói khác đi, Trắng nuôi đen thì đen cũng thua đứa con nuôi VN cùng trong nhà, mà Trắng nuôi Trắng thì Trắng này cũng vẫn thua đứa con nuôi Việt Nam sống cùng hoàn cảnh trong nhà!

Và trẻ em Việt Nam, Nam Hàn con nhà nghèo được gia đình Mỹ trắng và Bỉ nhận nuôi, thì khi lớn lên chúng có IQ ít nhất 10 điểm CAO HƠN điểm trung bình của dân Mỹ trắng và dân Bỉ.

Đây là nói có sách, mách có chứng, chứ không phải hai vị này nói bậy nói bừa, và họ có phải VN đâu mà bênh dân ta cho bị mấy chục triệu dân đen ném đá.

-------------------

Như vậy cho thấy, dân Việt Nam hiện nay cả trong và ngoài nước nói chung có IQ cực kỳ THẤP là vì lý do NURTURE, chứ không phải NATURE.

Là vì gia đình Việt Nam ra ngoại quốc phải quá chật vật kiếm sống, tại Mỹ rất nhiều người chọn làm móng tay/nails để kiếm tiền lẹ và để gởi về Việt Nam, do đó không có kiến thức dạy con cháu, cũng không có tiền CHO BẰNG DÂN ĐỊA PHƯƠNG, do đó thế hệ Việt hải ngoại mới bị thua dân địa phương.

Tại Việt Nam thì khỏi nói rồi, dinh dưỡng quá kém, giáo dục quá tồi tệ, thầy cô quá tham lam và kém tài.

CHỈ DO NURTURE, do hoàn cảnh, dân ta mới có dân trí tệ hại như hiện nay, cả trong và ngoài nước.

Chứ trong genes, dân Việt Nam có IQ rất cao, cao hơn NGAY CẢ DÂN MỸ TRẮNG, DÂN BỈ, NẾU ĐƯỢC NUÔI DẠY TRONG CÙNG HOÀN CẢNH.

Và điều này thấy rất đúng. Trẻ em Việt Nam tại Mỹ NẾU LỚN LÊN TRONG GIA ĐÌNH ĐƯỢC NUÔI CÙNG TIÊU CHUẨN MỸ TRẮNG thì tuyệt đại đa số thông minh hơn Mỹ trắng.

Dân đen, hispanics, thì không thèm kể số tới làm gì. Họ thua dân ta quá xa.

-------------------

Tại ngoại quốc, thì không mấy lo ngại, vì cho dù không học cao thì cũng đủ ăn, kiếm sống được.

Mục đích ghi bài này là: NẾU sau này có HOÀN CẢNH/NURTURE tốt hơn, thì trẻ em TẠI Việt Nam sẽ có trí thông minh cao hơn.

Chúng ta đã có IQ cao từ trong genes, rất may, chứ nếu chúng ta có IQ kém từ trong genes như vài sắc dân khác như liệt kê trong The Bell Curve thì chúng ta hết mong tiến bộ, do làm sao mà thay đổi genes được.

Điều chúng ta cần là thay đổi hoàn cảnh sống, dinh dưỡng, giáo dục, cho tốt hơn và điều này chỉ có thể xảy ra trong một chính phủ dân chủ tự do.

Nói khác đi, muốn dân Việt Nam thông minh hơn thì chúng ta phải không còn cộng sản, để đem lại NURTURE tốt hơn cho các thế hệ trẻ sau này, từ đó tạo dựng các thế hệ thông minh, đủ tài đủ sức cạnh tranh lại với các quốc gia quanh vùng và trên thế giới.

CHÚNG TA CÒN HY VỌNG, CÒN CƠ HỘI, chỉ cần không còn chế độ của VIỆT CỘNG là được.





Nature là thiên nhiên
Nurture là hoàn cảnh, môi trường sống.