Showing posts with label Không Quân VNCH. Show all posts
Showing posts with label Không Quân VNCH. Show all posts

Monday, February 6, 2023

Chiếc Xích Lô Chở Mùa Xuân

 

PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT





PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT

Muốn nói PHỤC HƯNG cho Việt Nam, thì trước hết phải PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT, văn chương, âm nhạc của người Việt Nam.

VNCH là thời đại hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam, thì chúng ta phải PHỤC HƯNG Việt Nam trở lại thời kỳ đó, rồi mới nói đến tiếp bước phát triển, thời hậu cộng sản cầm quyền.

Trước tiên là PHỤC HƯNG QUỐC NGỮ.




 

00



Việt cộng Phá hoại di sản dân tộc
 photo brown-1_zpsyml8vfq0.jpg

 

… “Người ta muốn thay đổi những điều không cần thay đổi để làm một chuyện khác. Chuyện phá hoại di sản của người trước, để tạo nên một loại di sản mới và tự hào vì cái mới nhưng dị hợm này”…


12
Phục Hưng chữ Việt


PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT

Muốn nói PHỤC HƯNG cho Việt Nam, thì trước hết phải PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT, văn chương, âm nhạc của người Việt Nam.

VNCH là thời đại hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam, thì chúng ta phải PHỤC HƯNG Việt Nam trở lại thời kỳ đó, rồi mới nói đến tiếp bước phát triển.

Trước tiên là PHỤC HƯNG QUỐC NGỮ.



 

Có cả một nhóm người sống ở hải ngoại luôn muốn tẩy chay tiếng Việt đang được dùng trong nước, họ bảo đó là tiếng Việt của Việt cộng, do một bọn ngu dốt nghĩ ra hoặc chế chữ nên không được dùng. Trong các diễn đàn về tiếng Việt thời Cộng Hòa, nhóm người này yêu cầu chỉ dùng những từ ngữ được sử dụng dưới thời Việt Nam Cộng Hòa để xác định được chữ đó có đúng là được dùng trong thời Việt Nam Cộng hòa hay không, thì nên dùng hai cuốn tự điển tiếng Việt xuất bản dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Đó là:

Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, xuất bản năm 1954 và

Tự Điển Hán-Việt của Nguyễn Văn Khôn, cũng xuất bản trước 1975.

Hán Việt Từ Điển - Đào Duy Anh

Ngoài ra còn có những cuốn được xuất bản trước 1975, đó là:

Việt Nam Văn Học Sử Yếu 1 và 2 của giáo sư Dương Quảng Hàm, được xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1968.

Được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa chính thức dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam (tức là lớp 10) trong nhiều năm.

Những sách xuất bản sau 1975 do Việt cộng xuất bản, sau vụ Cải Cách Tiếng Việt, Cải Cách Chính Tả Tiếng Việt, Cải Cách Đánh Vần Tiếng Việt, Cải Cách Phát Âm Chữ Việt, và Cải Cách Phiên Âm Tiếng Việt của Việt cộng từ 1980, 1983 và sau đó mượn lý do là bài Tàu (sau xung đột biên giới 1979 với Tàu) và cổ vũ dùng "Tiếng Việt thuần/Thuần Việt" do Việt cộng mới cho cải cách tiếng Việt. Vì thế, sự cải cách tiếng Việt của Việt cộng thì chúng ta không nên tin tưởng, vì chữ nghĩa, tư tưởng có thể đã bị bộ chính trị Việt cộng kiểm duyệt, hay đã cho in ấn lại để thay đổi hoặc loại bỏ (một vài điều gì đó không có lợi cho Việt cộng) từ những sách cũ của VNCH sang sách mới của chúng (VC), mà trong đó có Tàu cộng cũng kiểm duyệt sách miền nam Việt Nam nhất là sách sử, vì họ muốn quốc tế hóa cộng sản (trồng người cộng sản), vì thế phải theo lối Cách Mạng Văn Hóa giống Mao cộng sản.

Trí, phú, địa, hào,
Đào tận gốc tróc tận rễ.


Chúng ta muốn dòng chảy dân tộc được tiếp nối không bị đứt đoạn và trôi nổi hay tan rã. Cha ông chúng ta đã giữ cho dòng chảy dân tộc tiếp tục dù mệnh nước lắm lúc quá điêu linh.

Chúng ta hãy cố gắng giữ dòng chảy dân tộc được liên tục, trường tồn, không bị tan rã hay tan biến hay bị thất truyền.


bảo vệ tiếng Việt

 

* Phục Hưng chữ Việt


PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT

Muốn nói PHỤC HƯNG cho Việt Nam, thì trước hết phải PHỤC HƯNG CHỮ VIỆT, văn chương, âm nhạc của người Việt Nam.

VNCH là thời đại hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam, thì chúng ta phải PHỤC HƯNG Việt Nam trở lại thời kỳ đó, rồi mới nói đến tiếp bước phát triển.

Trước tiên là PHỤC HƯNG QUỐC NGỮ.



 





Chiếc Xích Lô Chở MùaXuân

- Đỗ Tân

https://youtu.be/CsXUYDdqfpE





Chuyện Kể Của Một Phi Công VNCH

Tác giả: Đỗ Tân / giọng đọc Thiên Hoàng
https://youtu.be/N7sWC45NHe0


Chiếc Xích Lô Chở Mùa Xuân

1

Tân ngồi vắt vẻo trên chiếc xích lô ngước nhìn những tảng mây trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh thẫm, lòng bâng khuâng nhớ tới những ngày tháng cũ. Lúc ấy vào khoảng mười giờ sáng. Từ khi đạp xe ra khỏi nhà sáng sớm tới giờ anh vẫn chưa kiếm được một “cuốc” nào. Nếu đến trưa vẫn không có khách thì coi như mất toi nửa ngày tiền thuê xe và tất nhiên phải nhịn ăn luôn bữa trưa.

Chỗ Tân đậu xe góc đường Lê Lợi - Tự Do, anh cho là rất “địa lợi”, vì phía chéo bên kia đường là khách sạn Đại Lục, nơi có nhiều khách ngoại quốc tới ở. Họ thường bao luôn cả xe ngày để đi “tham quan” khắp Saigon Chợ Lớn. Đồng thời nơi này cũng là nơi có nhiều kỷ niệm với Tân - những ngày tháng cũ trước '75 - anh đã gặp “người yêu lý tưởng” của mình và sau đó cưới làm vợ. Cuộc sống lứa đôi tràn ngập hạnh phúc cho tới ngày 30 tháng 4 đen tối sầu thảm. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn một điếu. Vừa phập phèo mấy hơi để dĩ vãng tan theo khói thuốc, thì anh nghe tiếng gọi xích lô bên kia đường. Tân vội quay nhìn. Một người đàn bà đưa tay vẫy gọi. Tân vứt vội mẩu thuốc hút dở, rời khỏi nệm xe, nhẩy phóc lên yên xích lô đạp nhanh tới bên kia vệ đường (vì chỗ này thuộc phạm vi “lãnh thổ” của khách sạn nên họ cấm xích lô đậu. Anh em xích lô chỉ có thể “đột kích” đón khách rồi phóng đi ngay).

– “Cô muốn đi đâu?”

Tân hỏi bằng tiếng Anh giọng rất chuẩn, rất Mỹ làm cô khách ngạc nhiên. Cô đặt mình lên xe thong thả nói:

– “Anh muốn chở tôi đi đâu cũng được. Chạy chậm chậm thôi nhé!”

Tân hỏi lại:

– “Nghĩa là cô muốn mở một cuộc du lịch bỏ túi trong thành phố?”

– “Đúng!”

Trước khi cho xe chuyển bánh, Tân nói: “Cô chưa cho biết sẽ trả tôi bao nhiêu tiền. Chúng ta nên sòng phẳng dứt khoát trước khi bắt đầu.

– Cô khách đáp:

– “Tôi sẽ trả anh như đã trả cho những người trước anh.”

– “Nghĩa là...”

– “Nghĩa là mỗi giờ tôi trả anh hai đô la.”

– “Cô trả vậy hơi nhiều đấy!”

Cô khách nhắc lại câu hỏi của tôi khi nãy:

– “Nghĩa là...”

– “Tôi tính cô một đô la một giờ thôi.”

Cô khách một lần nữa tỏ ra ngạc nhiên nhưng không nói gì.
Hôm qua cô trả cho anh xích lô đúng như giá anh ta đòi, thế mà khi trả tiền còn nằn nì xin thêm. Còn anh xích lô này thì lại xin bớt. Con người xứ sở này có vẻ phức tạp, khó hiểu thật.
Tân từ từ đạp xe về phía chợ Bến Thành. Tới nơi, anh hỏi khách:

– “Cô đã biết chợ Bến Thành này chưa?”

Và không chờ khách khách trả lời, anh nói tiếp:

– “Đây là ngôi chợ lớn nhất của thành phố Saigon và có một bề dầy lịch sử.”

Cô khách mỉm cười. Từ lúc lên xe tới giờ. Tân mới thấy khách cười:

– “Tôi biết. Hôm trước một người bạn Việt-Nam đã dẫn tôi vào trong chợ ăn món bún thịt nướng, lạ miệng và ngon lắm! Nhất là cái món nước “sốt” mặn mặn với ngọt ngọt và hơi cay.

– “Cô ăn được cả nước mắm?”

– “Cũng hơi... khó chịu một chút lúc đầu.”

Thấy sự trao đổi nói năng có vẻ thân mật cởi mở, Tân hỏi:

– “Tôi hơi tò mò, xin lỗi trước. Cô tới Saigon du lịch hay làm việc?”

– “Tôi tới Saigon có chút việc riêng, tiện thể làm chuyến du lịch luôn.”

– “Cô tới đây lần đầu?”

Khách khẽ gật và đôi mắt xanh biếc của cô chớp chớp. Bây giờ Tân mới có dịp quan sát người đẹp. Cô khoảng dưới ba mươi tuổi, thân hình thon thả dong dỏng cao bó gọn trong chiếc áo pull trắng và chiếc quần gin mầu xanh đậm. Mớ tóc vàng óng ả của cô chẩy dài buông xõa xuống cái lưng ong. Nước da cô trắng hồng mịn màng. Những sợi lông tơ trên hai cánh tay trần tròn lẳn gợi cảm. Tân cũng đã có dịp vuốt ve những cánh tay như thế, nhưng xa xôi lắm rồi. Theo sự nhận xét sơ khởi của tân thì nhan sắc cô nàng ở mức trung bình nhưng khá quyến rũ ố hình như cô có cái duyên ngầm của các cô gái phương Đông.

– “Cô mới từ Mỹ tới?”

Tân hỏi.

Khách khẽ gật.

– “Tôi đoán cô là người miền Đông nước Mỹ, Nếu không ở Washington DC. thì cũng tiểu bang nào vùng đó.”

Lần này cô nàng ngoái hẳn mình về phía sau nhìn Tân:

– “Anh căn cứ vào đâu mà đoán tôi là người miền Đông?”

Tân hóm hỉnh cười:

– “Giọng nói của cô và nhất là nước da của cô. Chỉ có những người sinh sống ở xứ lạnh mới có nước da trắng hồng như cô.”

Tân nói nịnh thêm.

– “Đúng là nước da lý tưởng các cô gái mơ ước.”

Cô khách càng thêm ngạc nhiên. Một anh đạp xích lô, tức thuộc giới lao động bình dân thất học, mà lại có vẻ hiểu biết những sự việc ngoài tấm mắt của anh ta. Rồi còn biết cả nịnh đầm ố món “võ” của bọn đàn ông có học. Cô cười nhẹ trả lời Tân:

– “Anh đoán giỏi đấy! Tôi sinh ra ở thành phố Charlotte tiểu bang North Carolina. Lớn lên đi học đi học và sống ở Washington DC.”

Tới chợ bến Thành cô bảo anh ngừng xe để cô vào chợ mua một món gì đó. Cô hỏi anh có đợi được không. Anh gật đầu. Mươi phút sau cô trở ra trên tay cầm một cái gói bọc giấy nhỏ.

– “Bây giờ cô muốn tôi chở cô đi đâu?”

– “Tùy anh.”

Tân suy nghĩ một chút:

– “Cô đã vào Chợ Lớn chưa?”

– “Hay đấy! Tôi nghe bạn bè nói Chợ Lớn là thành phố của người Hoa như ở Hồng Kông vậy. Nên đi coi cho biết.”

– “Cô đã đến Hồng Kông?”

– “Tôi đến đó hồi còn là con nhóc đi với bố mẹ.”

Tân có vẻ ngập ngừng trước khi nói:

– “Xin lỗi, cô đã lập gia đình?”

– “Phải, tôi đã lập gia đình gần mười năm. Vợ chồng tôi có một con gái.”

Nói xong, cô khẽ thở dài, mặt thoáng buồn, đôi mắt xanh biếc đăm đăm như nhìn vào cõi xa xăm mơ hồ nào đó. Tân thấy vậy không hỏi nữa. Anh lặng lẽ đạp xe trên đường Trần Hưng Đạo rộng dài, dưới trời nắng bắt đầu gay gắt. Những chiếc xe gắn máy của bọn trẻ gầm rú phóng vùn vụt, đôi lúc cô khách sợ hãi kêu lên vì tưởng nó đâm nhào vào mình. Từ đường Đồng Khánh, cô bỏ Tân ngừng xe trước một tiệm tạp hóa. Lúc trở ra cô khoe với Tân một vật nhỏ:

– “Anh thấy đẹp đấy chứ?”

Tân thốt lên:

– “Tưởng gì, cái này bên Mỹ đâu thiếu.”

– “Phải, bên Mỹ không thiếu, nhưng đây là thứ tôi mua ở Chợ Lớn Việt Nam làm kỷ niệm, đồng thời làm quà tặng con gái tôi.”

Dứt lời cô khách lên xe ngồi, Tân đạp tiếp. Chợt cô quay lại hỏi Tân:

– “À, tôi quên hỏi anh. Sao anh biết thứ tôi vừa mua bên Mỹ có nhiều?”

– “Vì tôi đã ở bên đó và có mua nước tặng người yêu. Cái cô vừa mua là do người Tàu Chợ Lớn làm nhái theo đồ của Mỹ.”

– “Ồ, anh đã ở bên Mỹ? Đi du lịch hay du học?”

– “Tôi đi học.”

Cô lại thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên và nhắc lại:

– “Đi học? Thì ra anh sang Mỹ du học!”

– “Không phải! Tôi đi lính được tuyển sang Mỹ học lái máy bay. Tôi sang Mỹ với tư cách sinh viên sĩ quan Không Quân!”

Cô khách người Mỹ đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Cô có vẻ thích thú nghe những điều Tân nói. Cái con người lam lũ nghèo khổ đạp xích lô này đã từng là sĩ quan Không Quân và đã sang Mỹ học? Cô nửa tin nửa ngờ, dò đường:

– “Anh sống ở Mỹ lâu không? Tiểu bang nào nhỉ?”

Tân đưa tay quệt mồ hôi trên trán. Chiếc áo cũ mỏng mầu đen nhiều miếng vá anh mặc ướt đẫm mồ hôi. Tân cảm thấy bắt đầu mệt và khát nước. Chén xôi bắp nhỏ ăn từ sáng sớm, giờ đã tiêu hết. Anh trả lời khách không mấy hào hứng sốt sắng như lúc đầu:

– “Tôi học lái máy bay tại Pensacola tiểu bang Louisiana vào năm 1967. Thời gian huấn luyện khoảng năm rưỡi. Tới năm 1972 tôi lại có dịp đi tu nghiệp ở tiểu bang Texas hơn tám tháng.”

– “Anh còn nhớ tên khóa huấn luyện?”

– “Khóa 67A. Khóa này tôi được huấn luyện cùng với bọn Pilot Hải Quân Mỹ.”

Sau khi thảng thốt kêu lên tiếng “ô”, cô ngưng hỏi và im lặng một lúc lâu.

Tân cũng chẳng quan tâm đến sự im lặng của cô khách. Anh đang mải lo đối phó với những xe cộ chạy hỗn độn, vô trật tự trên đường phố. Chỉ cần sơ ý một chút, có thể gây ra tai nạn thương tích cho người ngồi trên xe. Hai bên lề đường Đồng Khánh, người người đi lại tấp nập. Hàng hóa của các tiệm bầy tràn ra cả lề đường. Rồi những gánh hàng quà rong, những xe bán nước ngọt, trái cây, tạo nên một cảnh hoạt náo vui mắt. Cô khách có lẽ vui lây với không khí nhộn nhịp này, nhất là nhìn những người đàn bà Hoa mặc những bộ quần áo mỏng, giản dị. Cô hỏi Tân:

– “Họ chắc không phải là người Việt?”

– “Vâng, họ là người Hoa. Thành phố này là thành phố của người Hoa dù dưới thời Việt Nam Cộng Hòa hay thời Cộng sản cai trị cũng vẫn thế. Khó mà thay đổi được họ!”

– “Không phải riêng nước anh. Ở bên Mỹ cũng vậy. Một thời gian nào đó, người Hoa sẽ cai trị thế giới.”

Ngưng chút cô nói tiếp:

– “Cả về chính trị và kinh tế. Vì thời đại chúng ta, kinh tế đang chi phối thống lĩnh toàn cầu!”

Tân cãi:

– “Tôi không đồng ý với cô. Người ta đã dùng kinh tế để làm cái roi cai trị, nhưng theo tôi nhất định Cộng sản sẽ thất bại cả về chính trị lẫn kinh tế.”

– “Tôi nghĩ với Cộng sản thì chỉ có thể dùng vũ lực.”

– “Dùng vũ lực, Mỹ đã thất bại ở Cuba trước đây. Chỉ có Cộng sản mới triệt được Cộng sản thôi. Sức tác động bên ngoài không đủ mạnh bằng sự tự hủy hoại từ bên trong.”

Cả buổi trưa hôm đó, cô khách người Mỹ và anh xích lô đạp mải mê tranh luận về nhiều vấn đề thời sự, chính trị, học thuyết, triết lý, chiến tranh, hòa bình, cộng sản, tư bản... quên cả đường phố chật chội xe cộ chen lấn bừa bãi. Năm đó là năm 1985, thành phố Saigon còn nhiều xe đạp, xe gắn máy, ít xe hơi. Riêng anh đạp xích lô quên cả mệt và đói. Anh đang hào hứng. Đã lâu lắm anh không hề dám nói năng thảo luận với bất cứ ai những vấn đề húy kỵ trên. Nói với cô khác lạ này không sợ báo cáo, không sợ xuyên tạc, chụp mũ. Tân yên tâm tự nhủ mình như vậy nên anh “phát ngôn mạnh bạo xả ga”. Gần xế chiều, Tân đạp xích lô chở cô khách Mỹ về khách sạn Đại Lục. Bước xuống khỏi xe khách mới hỏi:

– “Nãy giờ tôi cứ thắc mắc mãi. Anh là sĩ quan Không Quân từng sang Mỹ học lái máy bay, sao lại... lại đi đạp xích lô?”

Tân phì cười trước câu hỏi này. Đúng là một người Mỹ ngây ngô, chẳng biết gì về làn sóng đỏ đang tràn ngập tràn phá hủy hoại khốc liệt cả miền Nam. Anh trả lời:

– “Vì tôi bị Cộng sản bắt đi tù.”

– “À, ra thế! Anh bị tù có lâu không?”

– “Gần mười năm.”

– “Trời! Anh được tha lâu chưa?”

– “Mới sáu tháng.”

– “Ô là! Ở tù Cộng sản chắc là khổ lắm?”

– “Tất nhiên. Chúng tôi đã trải qua những năm tháng sống thời Trung Cổ.”

– “Tại sao các anh không vùng lên phản kháng, chống đối? Dân tộc anh là một dân tộc có cả một lịch sử oai hùng về ý chí quật cường, về truyền thống tranh đấu...”

Tân cười nửa miệng:

– “Đồng thời dân tộc tôi cũng có truyền thống nhẫn nhục chịu đựng gian khổ.”

Cô khách người Mỹ mở bóp lấy hai tờ giấy năm đô la đưa cho Tân và hẹn sáng mai tới đón cô đi chơi tiếp. Tân cầm hai tờ giấy bạc ngần ngừ. Anh định đưa trả lại một tờ thì cô khách Mỹ đã bước vào trong khách sạn.

Sáng hôm sau đúng chín giờ, Tân đạp xe tới góc đường Lê Lợi - Tự Do đã nhìn thấy cô khách đứng chờ. Cô giơ tay vẫy chào anh rồi bước lại ngồi lên xe.

– “Hôm nay cô muốn đi đâu?”

– “Đi đâu cũng được. Tôi muốn có nhiều thì giờ để trò chuyện với anh.”

– “Hôm qua cô trả tôi nhiều tiền quá. Công của tôi chỉ đáng nửa số tiền ấy thôi! Thế là hậu hĩnh lắm rồi. Hôm nay tôi sẽ đạp để trừ vào số tiền cô trả dư hôm qua.”

Cô khách Mỹ chỉ cười và chớp chớp đôi mắt xanh biếc không có ý kiến gì, nhưng trong đầu cô nẩy một câu hỏi: sao lại có anh chàng gàn dở thế nhỉ? Đã nghèo khổ mà lại còn chê tiền?

Còn Tân bây giờ mới nhìn thấy đôi mắt xanh mầu ngọc bích và trong sáng như mắt mèo đẹp tuyệt vời của cô. Trong đôi mắt ấy anh đọc thấy nhiều thứ lắm: hiền hòa, dịu dàng, nhân bản và cả nỗi đau tiềm tàng ẩn sâu. Đúng, đôi mắt là linh hồn của con người. Các cụ mình xưa nhận xét thật tài tình tinh vi. Xe chạy ra bờ sông Saigon trước khách sạn Majectic. Cô khách ngỏ ý muốn ngồi chơi nơi vườn hoa. Tân nói đùa:

– “Tuy ngồi chơi, tôi vẫn tính tiền cô theo giờ đạp xe đấy!”

– “Tốt thôi, không có gì đáng phải bàn cãi!”

Để an toàn, khỏi lo lắng, Tân đặt chiếc xích lô ngay cạnh chỗ ghế ngồi và khóa bánh xe lại bằng dây xích. Anh nói với cô khách Mỹ:

– “Cho chắc ăn!”

Cô khách cười:

– “Xe để sát bên cạnh anh, còn kẻ nào dám cả gan lấy cắp!”

– “Bần cùng sinh đạo tặc cô ạ! Dân Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ này. Mà bây giờ thì cả nước đều “bần cùng” nên bất cứ việc gì cũng có thể “sinh đạo tặc”. Họ không ăn cắp nữa mà là ăn cướp. Đã tới mức ăn cướp thì họ đâu còn sợ cái gì. Lão Lê-Nin nói đúng đấy, nếu mất, họ chỉ mất cái cùm thôi!”

Cả hai cùng cất tiếng cười vui vẻ. Bờ sông Saigon lúc nào cũng tụ tập đông người. Thấy khách ngoại quốc, bọn trẻ nhỏ chuyên bán những đồ lặt vặt rẻ tiền cho du khách, xúm lại vây quanh hai người mời mọc, gạ gẫm, nài nỉ. Chúng nói những câu tiếng Mỹ bồi ngây ngô ngộ nghĩnh. Rồi đám bán hàng rong xúm xít như ruồi bu. Tân khó chịu lắm, luôn tay xua đuổi thì bị mắng trả tục tĩu. Còn cô khách Mỹ cứ cười cười lấy làm vui thích hoạt cảnh này. Cô mua một gói đậu phụng rang cho mình, một gói cho Tân và mỗi người một chai côca -cola. Lâu lắm Tân mới uống lại thứ nước ngọt của “đế quốc Mỹ” này. Sao mà ngon ngọt đến thế. Mười mấy năm trời khi ở trong tù và cả lúc về ngoài đời anh chưa một lần được uống lại. Tiền ăn còn lo chưa nổi lấy đâu tiền uống côca -cola. Khi bóc gói đậu phụng, anh thất vọng. Nó đã bị hư từ lâu, nhưng người ta vẫn đem bán. Cô khách nói:

– “Nếu ở bên Mỹ, nhà sản xuất bị kiện sặc gạch đấy!”

Vứt hai gói đậu phụng hư xuống sông xong, hai người ngồi nhìn trời đất. Một lúc lâu cô khách chợt hỏi:

– “Trong khi ở Mỹ, anh có quen thân người bạn Mỹ nào không?”

– “Có chứ! Bạn cùng khóa thì nhiều lắm, nhưng thân thiết thì chỉ một hai người.”

– “Anh còn nhớ tên?”

– “Nhớ chứ. Một anh tên là Tom Hamilton, một anh tên là Edward Carter. Không biết anh chàng này có họ hàng gì với lão Tổng Thống Jimmy Carter không!”

Cô khách Mỹ nói nhanh:

– “Edward Carter! Anh có nhớ sai tên không? Anh ta người ra sao?”

Tân vỗ vỗ trán như gọi những hình bóng cũ trở về:

– “Anh ta cao lớn hơn tôi một chút và cũng tuổi tôi, năm nay được ba mươi sáu tuổi. Anh em cùng khóa thường nói đùa nếu cái mũi tôi cao một chút, dài hơn một chút, và nước da trắng thì đúng là anh em sinh đôi với Edward Carter.”

Cô khách Mỹ chăm chăm nhìn thẳng vào mặt Tân như quan sát, như dò xét. Rồi cô không giấu được một cái thở dài. Tân ngạc nhiên hỏi:

– “Sao? Nếu tôi đoán không lầm thì có thể cô quen biết hoặc có họ hàng với anh chàng Edward Carter này.”

Cô khách không trả lời. Cô lơ đãng nhìn sang phía bên kia bờ sông. Miệng cô lầm bầm mấy tiếng gì đó, Tân nghe không rõ. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn hút.

– “Anh hút thuốc gì mà có mùi khét thế?”

Cô khách Mỹ hỏi.

– “Đây là thuốc rê. Thứ thuốc rẻ tiền nhất của người Việt Nam. Lúc ở trong tù, đối với chúng tôi thuốc này là loại quý đấy cô ạ! Chúng tôi còn hút cả lá chuối khô và rễ cây nữa kìa!”

– “Khổ cực vậy, thiếu thốn vậy mà các anh chịu đựng được để còn giữ được mạng sống trở về đời, tài thật!”

– “Không ai, kể cả chúng tôi cũng không tin là mình sống nổi. Nhưng như vừa nói với cô đấy. Dân tộc tôi có sức chịu đựng gian khổ, bền bỉ dẻo dai. Hơn trăm năm nay chưa lúc nào dân tộc sống trong thanh bình yên ổn, trong no ấm sung sướng. Chiến tranh cứ tiếp diễn liên miên, hết ngoại xâm lại tới nội chiến, rồi cả nước chịu ảnh tù đầy đói rách nhục nhã. Nếu như người Mỹ của cô thì ít ra cũng chết nửa nước.”

– “Sao anh không lái máy bay chạy ra ngoại quốc như một số người đã làm?”

– “Tôi còn cha mẹ già. Cha mẹ tôi nhất định không chịu rời bỏ quê hương. Biết rằng ở lại sẽ phải chịu cảnh tù đầy và có thể bị giết chết nữa, nhưng tôi không thể bỏ mặc cha mẹ. Hơn nữa tôi còn con nhỏ mới sinh.”

– “Bây giờ chắc con anh đã khá lớn. Thế còn vợ anh? Chị ấy vẫn một lòng đợi anh về? Tôi đọc sách báo thấy họ hết lời ca ngợi người đàn bà Á-Đông lúc nào cũng giữ trọn vẹn tình nghĩa vợ chồng. Dù chồng chết, còn trẻ vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con.”

Tân lắc đầu thở dài, vứt mẩu thuốc xuống đất: “Tôi không có cái diễm phúc ấy. Sau khi tôi bị tù, vợ tôi để lại con cho cha mẹ tôi nuôi, đi lấy chồng khác.”

– “Ồ, tôi xin lỗi. Tôi không có ý khơi lại sự đau buồn của anh. Nhưng tôi hơi tò mò, thế anh có oán hận người vợ không?”

– “Cô ấy còn trẻ nên phải lấy chồng khác, đó là sự thường, có gì mà oán hận. Chỉ có điều hơi buồn là cô ấy lấy kẻ thù của chúng tôi.”

Đôi mắt xanh biếc của cô khách Mỹ chớp chớp. Cô có vẻ xúc động về chuyện riêng tư của Tân.

– “Còn cha mẹ anh?”

Tới lượt Tân thở dài nuốt nước bọt như cố nén nỗi đau buồn xuống đáy lòng:

– “Cha mẹ tôi đều mất khi tôi còn ở trong tù!”

Cô khách Mỹ kêu lên:

– “Thế còn đứa nhỏ?”

– “May mắn cho nó được ông bà ngoại thương xót đem về nuôi, mặc dù ông bà cũng rất nghèo khổ. Ít ra thì cũng còn có những đốm lửa trong đêm tối phải không? “.

Và lần này chính Tân ngạc nhiên trố mắt nhìn cô khách Mỹ. Cô lấy khăn giấy chậm nước mắt. Cô khóc. Rồi cô đưa đôi mắt xanh biếc đẫm nước mắt nhìn Tân nói:

– “Tôi tên Jacqueline Hunter. Còn anh?”

– “Tôi là Tân, Đỗ Tân, cựu đại úy phi công Việt Nam Cộng Hòa. Rất hân hạnh được quen biết cô.”

Sau một lúc suy nghĩ đắn đo, Jacqueline nói:

– “Anh có thể cho tôi địa chỉ để khi về Mỹ may ra tìm được mấy người bạn cũ của anh. Biết đâu họ chẳng hết lòng lo giúp đỡ can thiệp cho anh.”

– “Cám ơn Jacqueline. Tôi ở số nhà.... Hẻm... Đường.... Thành phố Saigon.”

Họ còn ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Jacqueline có ý mời Tân đi dùng bữa trưa, nhưng anh từ chối, mặc dù bụng đang đói. Xuống xe cô móc bóp rút ra tờ giấy một trăm đô đưa Tân, nói:

– “Anh cầm lấy để chi dùng. Rất tiếc tôi không thể giúp anh hơn.”

Tân từ chối ngay:

– “Cám ơn Jacqueline. Tôi cũng rất tiếc không thể nhận số tiền này. Tôi không muốn nhận một sự thương hại, hay một sự bố thí.”

– ”Không, đây là một tấm lòng. Anh hãy nhận lấy ở đây một tấm lòng.”

Dứt lời Jacqueline nhét tờ giấy bạc một trăm đô vào tay Tân và bước nhanh vào trong khách sạn. Trước khi khuất hẳn, cô quay lại nói với Tân:

– “Tạm biệt Tân, người bạn mời quý mến của tôi.”

Tân nhìn tờ giấy bạc một trăm đô nằm trong tay sững sờ. Một số tiền quá lớn và quá bất ngờ đối với anh. Chừng như định thần lại được, Tân phóng mình bước nhanh như chạy vào khách sạn, miệng gọi lớn:

– “Jacqueline! Jacqueline! Tôi không thể! Tôi không nhận số tiền này. Tôi xin trả lại cô!”

Nhưng Jacqueline đã mất hút. Anh bảo vệ khách sạn thấy gã xích lô chạy xồng xộc vào trong khách sạn miệng la lối ầm ĩ liền chặn Tân lại, nói lớn, giọng hách dịch:

- “Anh kia! Ra khỏi đây lập tức!”

Tân giơ tờ giấy một trăm đô nói:

– “Tôi đưa tiền trả cô khách Mỹ!”

– “Cái gì ạ, Cô ta đánh rơi tiền à?”

– “Không, cô ấy trả tiền cuốc xe cho tôi một trăm đô, trong khi giá chỉ có năm đô.”

Anh bảo vệ ngẩn người ra nói:

– “Lạ nhỉ? Đi cuốc xe có năm đô mà trả một trăm đô? Có khi là đô giả đấy! Đưa đây tôi coi nào!”

Nhưng Tân không đưa làm anh bảo vệ khách sạn nổi giận:

– “Thôi, cút cha anh đi. Một trăm đô mà chê à? Anh đạp xe cả năm liệu có kiếm được nổi số tiền này không? Gặp con mụ Mỹ điên khùng vớ món bở thì hãy chuồn mau đi, không nó đổi ý ra đòi lại, thì chỉ có nước ăn cám, anh bạn ạ!”

Tân cầm tờ giấy bạc một trăm đô chậm rãi bước ra khỏi khách sạn. Một trăm đô, đúng là số tiền không nhỏ, nhưng công sức của anh bỏ ra đâu có xứng đáng để nhận sồ tiền này. Thôi sáng mai tới trả cô ta vậy. Cả đêm đó Tân không ngủ được. Anh cứ trằn trọc “đánh vật” mãi với tờ giấy bạc một trăm đô. Tại sao lại có thể như thế nhỉ? Đi cuốc xe áng giá năm đô, cô ta trả một trăm đô. Chẳng lẽ là bạc giả như anh chàng bảo vệ khách sạn nói? Không! Nhất định không phải rồi! Cần gì cô ta phải làm cái việc lươn lẹo dối trá, Vậy tại sao cô ta trả cho mình cả một trăm đô? Thương hại? Bố thí? Một tấm lòng? Dù có là gì đi chăng nữa thì sáng mai cũng vẫn phải trả lại tiền cho cô ấy.

Tân thở dài. Tắt đèn. Bật đèn. Vuốt ve ngắm nghía tờ giấy bạc một trăm đô. Tờ giấy mầu xanh lá cây như sáng rực trong đêm. Một trăm đô đâu có nhỏ. Có khác gì tiền từ trên trời rơi xuống. Nhưng nhất định ngày mai phải trả lại cô ta, cô Jacqueline quý hóa: Tôi rất trân trọng tấm lòng của cô nhưng tôi không thể nhận số tiền này. Chúng ta chỉ mới có hai ngày quen biết, đâu đã có ân tình nghĩa trọng gì. Cám ơn lòng tốt của cô. Cám ơn người đàn bà ở phương trời xa đến. Nghĩ tới những người cùng chung nòi giống sống quanh tôi, cô làm tôi thấy đau đớn tủi nhục.

Hôm sau mới tám giờ sáng, Tân đã đạp xe tới chỗ cũ để đợi Jacqueline, mặc cho một người khách Tây phương đang vẫy tay gọi xe bên kia đường. Anh sốt ruột chờ, đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, thỉnh thoảng thọc tay vào túi quần để yên trí tờ giấy bạc một trăm đô vẫn còn nằm trong đó. Chín giờ đã tới. Rồi chín giờ mười phút. Chín giờ mười lăm phút. Không thấy bóng dáng Jacqueline đâu cả. Chín giờ hai mươi phút. Tân thấy anh bảo vệ khách sạn hôm qua bước lại phía anh. Chẳng lẽ tên này gặp mình kiếm cớ gây sự để đoạt tờ giấy một trăm đô? Tiền bạc làm con người mờ mắt dễ trở thành bất lương. Anh bảo vệ khách sạn tới bên Tân dừng lại và hỏi vẫn giọng hách dịch:

– “Có phải anh là người hôm qua chở cô khách Mỹ?”

Tân gật. Anh ta đưa Tân một mảnh giấy:

– “Này cầm lấy! Thư của cô ta đấy!”

Dứt lời anh ta bước về khách sạn.
Thư là một mảnh giấy nhỏ có in tiêu đề khách sạn. Jacqueline viết bằng tiếng Anh:

“Tân mến! Hôm nay tôi có việc bất thần phải đáp máy bay đi Hà Nội. Chúc vui khỏe. Hẹn gặp lại.”

Cô ký tên một chữ tắt “J”.

2

Những ngày và cả những tháng sau đó Tân vẫn thường đậu xe góc đường Lê Lợi - Tự Do có ý chờ người đẹp Mỹ Quốc bất thần xuất hiện. Anh biết vô vọng nhưng vẫn cứ mong, cứ đợi. Rồi Tân tự an ủi đó là một giấc mơ, một giấc mơ đẹp có thật và sẽ không bao giờ hiện ra lần nữa. Anh chợt nhớ hai câu thơ của nhà văn Duyên Anh mà anh được nghe trong trại tù: “Đời rất hiếm hoi lần Bụt hiện. Cho nên đoạn kết thảm vô cùng.” Đời mình chưa đến đoạn kết, nhưng đến nước này thì đúng là “thảm vô cùng” rồi, còn chờ còn mong gì nữa “lần Bụt hiện”. Rồi anh lại lẩn thẩn nghĩ tới bốn chữ “Hồn Bướm Mơ Tiên” - tên một cuốn truyện của nhà văn Khái Hưng. Hồn Bướm Đỗ Tân đang mơ tới nàng tiên Jacqueline Hunter. Tiên đã về vùng đất Thiên đường của Hạ giới, còn bướm thì vẫn mơ màng nơi chốn địa ngục trần gian. Buổi tối, lúc ấy gần mười hai giờ đêm Tân mới về tới nhà. Hôm nay xui xẻo chỉ chạy được ba “cuốc” xe ngắn, vừa đủ tiền chi cho hai bữa ăn. Tới trước cửa nhà Tân thấy chị chủ nhà đứng ngay trước cửa có vẻ đợi anh. Tân hơi chột dạ. Hôm nay là ngày mùng năm đầu tháng nhưng anh vẫn chưa có tiền trả tiền thuê buồng. Bà ta đợi mình về để đòi đây. Số tiền Jacqueline cho anh đã tiêu hết, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Tân định cất tiếng xin khất ít ngày thì chị chủ nhà đã tươi cười đưa anh một tờ giấy, nói:

– “Chú Tân có tin vui nè!”

Tân cười nhạt:

– “Tin vui? Tôi làm gì có tin vui. Giỡn làm chi chị Tư?” Chị cho tôi nợ tiền thuê buồng mấy ngày nữa nghe!”

Chị chủ nhà vẫn cười cười nói:

– “Tôi nói thiệt mà! Giấy gọi chú lên Tân Sơn Nhứt lãnh quà từ Mỹ gửi.”

Tân sửng sốt:

– “Quà ở Mỹ gửi? Lạ nhỉ?”

Từ ngày ra tù về Tân chưa hề nhận được một lá thư nào từ ngoại quốc gửi về, nói chi đến việc nhận quà! Anh có nghe tin cánh Không Quân bên Mỹ tổ chức quyên góp tiền bạc cứu trợ, nhưng chưa tới tay anh. Có lẽ vì anh chưa liên lạc được với họ. Tân khấp khởi mừng thầm yên trí đây là quà của “các bạn ta” gửi. Anh cầm tờ giấy báo tin vui bước vào nhà đến bên ngọn đèn điện vàng vọt yếu ớt. Chị chủ nhà bước theo sau luôn miệng hỏi:

– “Sao? Quà của ai gửi vậy?”

Bỗng Tân đưa tay trái đặt lên ngực. Tim anh đập nhanh, dồn dập. Anh coi lại tờ giấy báo tin lần nữa Thật bất ngờ ngoài cả sức tưởng tượng của Tân. Người gửi quà là Jacqueline. Số quà nặng tới hai mươi ký. Ngày hôm sau Tân phải chạy vạy mới mượn được đủ tiền dự phỏng để đóng thuế. Tất nhiên trong số tiền này có cả tiền của chị chủ nhà. Chị cứ luôn miệng lẩm bẩm:

– “Trời đâu có phụ kẻ hiền lành.”

3

Washington DC. ngày... tháng... năm....

Tân thân mến,

Khi nhận được thư này tôi hy vọng Tân đã nhận được gói quà tôi gửi. Chắc Tân ngạc nhiên lắm? Những quần áo, vật dụng, radio, cassette không phải của mình tôi đâu mà còn là của một số bạn bè phi công cùng khóa với Tân gửi đấy! Khi ở Hà Nội về nước, tôi liền liên lạc ngay với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth ở Dallas nên có được một số địa chỉ các bạn đồng khóa với Tân. Biết tin anh họ mừng lắm. Sau khi nghe tôi kể hiện cảnh của anh, họ buồn rầu khổ sở và tức tốc hè nhau góp gửi cho anh một số tiền cũng như vật dụng quần áo. Về tiền được hơn một ngàn đô. Tôi đang tìm cách gửi sao cho sớm đến tay anh mà không bị mất. Tôi mong anh sẽ hài lòng về số quà tặng “đó là những tấm lòng của bạn bè” chứ không phải “sự thương hại hay bố thí” như một lần anh đã hiểu lầm. Sở dĩ chúng tôi gửi tiền và mua những món đồ cho anh là do một người bạn Việt Nam chỉ dẫn. Anh ta bảo những thứ này ở Việt Nam đang bán được giá cao. Bây giờ tôi xin nói một chút về tôi chắc anh sẵn lòng nghe? Tôi đến Việt Nam không phải để du lịch. Tôi đến Việt Nam với mục đích duy nhất tìm kiếm tung tích chồng tôi. Chồng tôi chính là Đại Úy Phi Công Edward Carter thuộc Lực Lượng Hải Quân Hoa Kỳ, người học cùng khóa và là bạn thân của anh.”

Coi tới đây Tân ngừng lại. Bất ngờ quá! Anh cố hình dung lại người bạn phi công cùng khóa Edward Carter. Sau khi mãn khóa về nước, Tân có thư từ qua lại với anh ta, nhưng chỉ được hai năm sau đó mất liên lạc. Anh nhớ mang máng là Edward Carter được thuyên chuyển tới Đệ Thất Hạm Đội ở Thái Bình Dương. Lúc học ở Mỹ, Tân và Edward Carter có nhiều kỷ niệm, nhất là những buổi cuối tuần được nghỉ đi kiếm bồ bịch, mải vui quá ngày phép, hai người bị phạm kỷ luật. Tân thở dài. Mới đó đã mười mấy năm trôi qua. Tân coi tiếp thư: “Trong một phi vụ oanh tạc vùng Thanh Hóa, máy bay của chồng tôi bị bắn hạ. Anh được báo cáo mất tích.” Tân lại ngưng coi và đặt lá thư xuống cái bàn gỗ nhỏ cũ kỹ đặt nơi đầu giường. Anh chống tay lên cằm, suy nghĩ trong xúc động. Edward bị bắt sống hay bị chết? Nếu bị bắt sống thì nhất định Jacqueline đã biết tin, vì tất cả tù binh Mỹ đều bị nhốt trong “khách sạn Hilton ” ở Hà Nội. Tân cầm thư coi tiếp:

“Tôi không tin thông báo của chính phủ. Bản danh sách quân nhân Mỹ mất tích còn quá dài. Tôi phải tự đi tìm chồng tôi vì tôi tin chồng tôi chưa chết. Chúng tôi mới lập gia đình có một đứa con gái. Khi chồng tôi mất tích nó được hai tuổi.

Tôi đến Việt Nam lần vừa rồi là lần thứ hai. Lần trước tôi đến Hà Nội và đi nhiều nơi, kể cả Thanh Hóa. Mất hơn một tháng chẳng kiếm được tin tức gì. Một người bạn viết thư cho tôi biết ở Saigon có một “tuy-ô” cung cấp người Mỹ mất tích rất đáng tin cậy. Thế là chẳng cần đắn đo suy nghĩ, tôi vội vã book vé bay sang Việt Nam liền. Tôi đã bị lừa nhưng được gặp anh. Đúng như người bạn Mỹ của anh nhận xét. Nếu cái mũi cao thêm một chút, dài thêm một chút, và nước da trắng thì anh đúng là bản sao của chồng tôi. Sao lại có thể có hai người giống nhau như thế và sao lại có sự tình cờ gặp gỡ giữa tôi và anh như thế nhỉ? Hôm đầu tiên ngồi trên chiếc xích lô của anh, tôi ngoái lại nhìn anh, không khỏi giật mình sửng sốt. Suýt chút nữa thì tôi kêu tên chồng. Anh có biết không, trong lúc liên lạc với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth tôi mới biết thêm anh là người đạt số điểm cao nhất ở khóa đó. Ông chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện già đã về hưu vẫn còn nhớ tới anh và không ngớt lời ca ngợi anh một thanh niên thông minh giầu nghị lực, một phi công đầy triển vọng tài ba. Nói để anh mừng nhé. Các bạn người Mỹ của anh đang vận động với chính phủ Hoa Kỳ can thiệp cho anh sang Mỹ định cư đấy. Công việc này tất nhiên rất khó khăn và nhiều trở ngại, nhưng ai có quyền cấm người ta hy vọng nhỉ, có phải thế không? Từ nay tôi sẽ liên lạc thường xuyên với anh qua thư từ. Anh cần những gì có thể cho tôi biết để tôi và các bạn anh cố gắng giúp. Dưới đây là một số địa chỉ các bạn cùng khóa với anh. Anh nhớ viết thư cho họ nhé. Có mấy người mang cấp bậc Đại Tá rồi đấy. Họ sẽ có thư cho anh, nếu không có gì trở ngại về phía anh.

Chúc anh vui khỏe.

J.


Photo:

Ít ngày sau, đúng như thư Jacqueline viết, có một người lạ đem đến cho Tân hơn một ngàn đô. Tân cầm số tiền trong tay mà vẫn ngỡ như mình nằm chiêm bao. Anh không nén được xúc động, tay cầm cây bút run run khi viết mấy chữ biên nhận tiền. Rồi anh thấy đôi mắt mình cay cay... Anh đã không cầm được nước mắt. Đêm đó Tâm nằm mơ thấy mình chở Jacqueline trên xe xích lô. Tới một quãng vắng vẻ Jacqueline bảo anh ngừng xe lại rồi nàng rời khỏi xe, bất thần ôm chầm lấy anh hôn thắm thiết. Khi Tân giật mình thức giấc anh cảm thấy như mùi nước hoa, mùi da thịt của nàng còn phảng phất đâu đây.

4

Tân đi tù khoảng hơn năm thì vợ anh đi lấy chồng khác, một cán bộ ngoài Bắc vào. Chính chị đã dẫn người này lên tận trại tù ép buộc Tân ký giấy ly dị với hứa hẹn sẽ can thiệp cho anh về sớm. Tân chẳng tin vào cái sự hứa hẹn này nhưng với một người vợ sớm thay lòng đổi dạ như vậy, anh không còn gì để lưu luyến cầm giữ. Anh chỉ lo ngại cho đứa con nhỏ mới ba tuổi. Nhưng anh yên tâm phần nào khi biết con mình được ông bà ngoại đem về nhà nuôi. Khi Tân từ trại tù vùng cao nguyên trở về Saigon, anh tới ngay nhà ông bà già vợ. Con gái anh đã hơn mười tuổi, gầy và hơi xanh. Nó ôm chầm lấy bố khóc như mưa. Tân định ở nhờ ông bà già vợ ít ngày nhưng căn phòng quá nhỏ hẹp mà lại chứa những năm người: ông bà già vợ, vợ chồng người em vợ và con gái Tân nên không còn chỗ cho anh. Sau bữa cơm đạm bạc chỉ có rau muống muối mè (để đãi mừng chàng rể ở tù về), Tân phải kiếm cớ đi chỗ khác ngủ, mặc dù ông bà già vợ cố giữ lại “ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”. Đêm đó, đêm đầu tiên được sống tự do ngoài đời, Tân đã phải nằm ngủ trong mái hiên của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô và phải chen chúc với đám ăn mày, xì ke ma túy. Sáng dậy gói quần áo nhỏ Tân mang từ trại tù về cũng bị “chôm” mất. Tân đi kiếm nhà một người bạn tù về trước anh và được người này giới thiệu việc làm: rửa chén đĩa một tiệm phở. Làm được mấy ngày chưa kịp lãnh lương tuần Tân bị thôi việc. Anh đã làm sứt mẻ và vỡ quá nhiều chén đĩa trong khi rửa.

Mãi Tân mới kiếm được một việc tương đối “độc lập tự do” và hợp với “khả năng” của đa số tù cải tạo về: đạp xích lô. Tuy “lao động” vất vả cực nhọc lại không ”vinh quang” chút nào Tân cũng kiếm được đủ ngày hai bữa ăn và thuê một cái buồng nhỏ trong xóm nhà lá để đêm về có chỗ ngủ. Hôm nào chạy được khá tiền một chút, anh mời cả gia đình bố mẹ vợ và cô con gái đi làm một chầu phở bình dân. Cuộc sống khó khăn chật vật nhưng Tân vẫn lấy làm hài lòng vì dù sao vẫn còn hơn gấp trăm lần trong trại tù cải tạo, có làm không có ăn. Tân cho rằng khi con người đã trải qua cuộc sống trong tù cải tạo của cộng sản rồi thì tất cả mọi sự trên cõi đời này đều... nhẹ như lông hồng!

Có được số tiền “ngoại viện” Tân đem một nửa “phân phối” cho bố mẹ vợ, bạn bè và cả chị chủ nhà. Riêng cô con gái Tân dẫn đi may một lúc mấy bộ quần áo và mua cho chiếc xe đạp để đi học. Tân viết thư gửi Jacqueline bầy tỏ lòng biết ơn. Với các bạn bè người Mỹ cũng vậy. Và cứ thế mỗi tháng Tân nhận được một lá thư của Jaqueline cùng một số tiền hoặc hàng hóa, có lần có cả đồ hộp thức ăn, sữa. Tạm thời qua cơn bĩ cực nhưng Tân vẫn không chịu rời chiếc xích lô. Hàng ngày anh vẫn đạp xe ra phố, không phải để chở khách như trước mà là phương tiện để anh đi đó đây thăm bạn bè ăn nhậu. Thỉnh thoảng anh đạp xe tới góc phố Lê Lợi - Tự Do tưởng nhớ tới Jacqueline và những ngày đầu gặp gỡ. Đôi mắt xanh biếc và mái tóc vàng óng ả chẩy dài xuống lưng của Jacqueline hình như lúc nào cũng hiển hiện trước mắt Tân. Có lý nào cô nàng yêu mình? Tân băn khoăn, thắc mắc, khắc khoải mãi với câu hỏi này. Và đôi lúc anh thấy nhoi nhói nơi tim khi nghĩ rằng chẳng qua cô nàng thương hại mình thôi. Trong những lá thư gửi Jacqueline, Tân đã bóng gió viết về tình cảm của mình đối với nàng, nhưng có lẽ nàng không hiểu sự tế nhị này của người Á Đông. Trong thư hồi âm, Jacqueline vẫn viết nhiều về những ngày ở Việt Nam và hỏi Tân về lịch sử, phong tục, tập quán, phong cảnh và những món ăn của người Việt. Rồi cô hỏi Tân thích nhất món ăn gì của Mỹ và nếu được sang Mỹ định cư thích sống ở đâu. Mỗi lần nhận được thư Jacqueline là buổi tối hôm đó Tân nằm mơ thấy mình sống trên đất Mỹ. Lúc thì lái máy bay, có lúc thì đi hộp đêm với bạn bè người Mỹ nhẩy đầm nhậu nhẹt say khướt. Nhưng nhiều nhất vẫn vẫn là mơ thấy sóng đôi với Jacqueline, hết đi ngắm tuyết ở vùng đồi trắng xóa miền Đông, tới shopping ở các chợ miền Nam Cali nắng ấm. Khi thức giấc Tân thấy tiếc và muốn giấc mơ cứ thế kéo dài mãi.

Buổi sáng hôm đó Tân sửa soạn đạp xích lô đi “tiếu ngạo giang hồ” có một anh công an tìm gặp. Anh ta trố mắt ngạc nhiên khi thấy người mình đi tìm gặp lại là một anh đạp xích lô. Anh ta hỏi đi hỏi lại mãi có đúng tên là Đỗ Tân không rồi mới cho biết lý do. Có ông dân biểu Mỹ muốn gặp. Tân choáng người. Một dân biểu Mỹ muốn gặp anh? Rồi trực giác bén nhậy của Tân cho biết đây là một tin lành. Tân đạp xích lô theo anh công an đến khách sạn Đại Lục nơi trước đây Jacqueline ở. Mọi người làm trong khách sạn đều nhìn Tân với cặp mắt nghi ngờ và kiêng nể. Thì ra ông dân biểu Mỹ là cựu phi công học cùng khóa với Tân. Máy bay của ông bị bắn trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc và bị nhốt “khách sạn Hilton” hơn năm năm thì được thả. Về Mỹ ông ứng cử và đắc cử dân biểu. Jacqueline đã gặp ông trình bầy hoàn cảnh Tân và nhờ ông can thiệp với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Ông sang đây với một phái đoàn bàn thảo chương trình viện trợ nhân đạo cho Việt Nam, trong đó có “chút việc riêng tư” là can thiệp cho Tân sang Mỹ định cư. Trước khi gặp nhà chức trách, ông muốn gặp Tân để “nhận diện” người bạn đồng khóa năm xưa.

5

Anh Hoàng thân quý,

Sau khi chia tay anh ở phi trường Tân Sơn Nhất. thấm thoát thế mà đã hơn ba tháng trôi qua. Sở dĩ hôm nay mới viết thư cho anh vì khi đặt chân tới đất Mỹ, khỏi kể nhiều anh cũng thừa biết là tôi bận lắm. Sau khi nghỉ ngơi cho tỉnh người, đồng thời cũng là để gột sạch “bụi bậm xã hội chủ nghĩa” (còn bám chút đỉnh nơi thân thể), tôi và Jacqueline lo tổ chức lễ cưới. Rồi chúng tôi đi Washington DC tới bức tường đá đen ghi tên các chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. Chúng tôi dành ít phút cúi đầu tưởng niệm dưới hàng chữ ghi tên Carter. Sau đó chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật ở Honolulu. Tiếp theo chúng tôi đi thăm chỗ tôi học lái máy bay năm xưa ở hai bang Lousiana, Texas và các bạn phi công cùng khóa. Ông bạn cựu phi công đương kim dân biểu đã giới thiệu cho tôi một job hợp với khả năng: lái máy bay cho một đồn điền. Còn Jacqueline vẫn tiếp tục nghề cũ y tá bệnh viện. Con gái tôi được Jacqueline và con gái cô quý mến lắm. Hai đứa ngoài giờ học cứ quấn quýt bên nhau như hai chị em ruột. Như anh biết đấy, khi ra đi tôi đã mang theo chiếc xích lô mà tôi phải mua lại với một giá mắc người chủ mới chịu bán. Cứ chủ nhật hoặc những ngày nghỉ lễ, tôi đạp xích lô chở Jacqueline và hai đứa nhỏ chạy lòng vòng trên các đường nhỏ trong thành phố. Đây là một chiếc xe độc đáo duy nhất có ở thành phố này, nên đạp tới đâu cũng được người Mỹ vui vẻ ngắm nghía và trầm trồ giơ tay chào. Có nhiều người bắt tôi xuống xe để cho họ đạp thử và suýt nữa thì làm lật cả xe. Lâu dần người Mỹ quen mắt với chiếc xe xích lô của tôi. Chúng tôi đặt chiếc xích lô ngay trong phòng khách. Nhờ nó, tôi và Jacqueline thành duyên chồng vợ nên chúng tôi vô cùng quý và trân trọng giữ gìn nó.

Hiện tại chúng tôi đang sống tràn trề hạnh phúc. Mùa xuân của cuộc đời tuy đến muộn nhưng chúng tôi bằng lòng lắm với những gì mình đang có, đang sống. Thiên đường có thật anh Hoàng ạ! Và chúng tôi đang tắm trong suối nguồn tươi mát của Thiên Đường.

Xin chúc anh và gia đình mọi điều tốt đẹp. Thỉnh thoảng rảnh rỗi anh nhớ viết thư cho tôi nhé.

Quý mến,

Đỗ Tân.

21 Tháng Giêng 2011

12:00





 

Thursday, June 9, 2022

Các Sư Ðoàn Không Quân Của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa



Các Sư Ðoàn Không Quân Của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa


Lâm Vĩnh Thế

Lời Nói Ðầu:

    Tác giả bài viết này không phải là một người đã từng phục vụ trong Không Lực QLVNCH.  Bài viết này được biên soạn xuất phát từ lòng ngưỡng mộ của tác giả đối với Quân Chủng này, và nó được viết ra nhằm giúp những độc giả ở bên ngoài Quân Chủng có thể hiểu rõ phần nào cách thức tổ chức của các Sư Ðoàn Không Quân của Không Lực VNCH.  Trong quá trình biên soạn, tác giả đã tham khảo rất nhiều tác phẩm Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa cũng như các bài viết của các tác giả Không Quân đã đăng trong các Trang Web như Hội Quán Phi Dũng, Cánh Thép, vv.  Tác giả xin được đặc biệt cảm tạ những hướng dẫn về tài liệu và góp ý vô cùng quý báu của tác giả Nguyễn Hữu Thiện, một cựu sĩ quan Không Lực VNCH, thành viên Ðặc trách biên soạn trong Ban Thực Hiện của bộ quân sử nói trên.  Những sai sót chắc chắn không thể tránh được trong bài viết nầy hoàn toàn thuộc trách nhiệm của người viết.  Người viết rất mong được các độc giả đã từng phục vụ trong Không Lực VNCH, đặc biệt là các vị sĩ quan niên trưởng của Quân Chủng, giúp thêm ý kiến để bổ sung những điểm còn thiếu sót hay điều chỉnh những điểm sai trong bài viết.  Người viết xin thành thật cảm tạ.  

    Không Quân (viết tắt KQ) của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là một quân chủng đã phát triển vượt bực trong suốt thời gian Chiến Tranh Việt Nam.  Từ một bộ phận nhỏ của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam còn lệ thuộc rất nhiều vào lực lượng không quân của Quân Ðội Viễn Chinh Pháp (1951-1955), KQ Việt Nam Cộng Hòa đã liên tục phát triển nhanh chóng và đến giữa thập niên 1970 đã được xem như là không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới về số lượng phi cơ (sau Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Cộng).  Lịch sử hình thành và phát triển của KQ VNCH có thể được chia làm năm thời kỳ như sau: 1

  • Thời kỳ thành lập: 1951-1955
  • Thời kỳ phát triển: 1956-1964
  • Thời kỳ hiện đại hóa: 1965-1968
  • Thời kỳ bành trướng: 1969-1972
  • Thời kỳ sau Hiệp Ðịnhh Paris: 1973-1975

Vào cuối năm 1974, KQ VNCH đã có một quân số là 61.147 người, gồm 65 phi đoàn với tổng số 2071 phi cơ đủ loại, và được tổ chức thành 6 Sư Đoàn KQ bố trí trên khắp lãnh thổ của VNCH như sau: 

  • Sư Ðoàn 1: đóng tại Ðà Nẵng, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Nguyễn Ðức Khánh, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn I, và gồm 3 Không Ðoàn Chiến Thuật 41, 51, và 61.
  • Sư Ðoàn 2: đóng tại Nha Trang, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Lượng, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn II, và gồm 2 Không Ðoàn Chiến Thuật 62 và 92.
  • Sư Ðoàn 3: đóng tại Biên Hòa, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn III, và gồm 3 Không Ðoàn Chiến Thuật 23, 43, và 63.
  • Sư Ðoàn 4: đóng tại Cần Thơ, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn IV, và gồm 3 Không Ðoàn Chiến Thuật 64, 74, và 84.
  • Sư Ðoàn 5: là một sư đoàn vận tải, trực thuộc Bộ Tư Lệnh KQ, đóng tại Sài Gòn (căn cứ Tân Sơn Nhứt), với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên, và gồm 2 Không Ðoàn Chiến Thuật 33 và 53.
  • Sư Ðoàn 6: đóng tại Pleiku, sau ngày 16-4-1975 dời về Phan Rang, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn II, và gồm 2 Không Ðoàn Chiến Thuật 72 và 82.

Sư Ðoàn 1 Không Quân

Huy hiệu Sư Ðoàn 1 Không Quân

    Sư Ðoàn 1 KQ được chính thức thành lập vào tháng 9-1970 tại Căn Cứ KQ Ðà Nẵng với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Nguyễn Ðức Khánh, về sau, ngày 1-4-1974, vinh thăng Chuẩn Tướng.

Chuẩn Tướng Nguyễn Ðức Khánh

    Không như phần lớn các tướng lãnh KQ VNCH là những sĩ quan bị động viên và tốt nghiệp các trường sĩ quan trừ bị Nam Ðịnh hay Thủ Ðức sau đó mới chuyển sang KQ, Chuẩn Tướng Khánh tình nguyện vào KQ năm 1954, và trúng tuyển kỳ thi du học ngành phi hành tại Trường Võ Bị Không Quân Pháp Salon-de-Provence, và tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy Hoa Tiêu Khu Trục,2, 3  Tướng Khánh, khi còn mang cấp bậc Trung Tá, trong khoảng 1967-1970, cũng đã từng là Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 41 Chiến Thuật tại Ðà Nẵng, là không đoàn chiến thuật nồng cốt của Sư Ðoàn 1 KQ.

    Sư Ðoàn 1 KQ gồm có tất cả ba Không Ðoàn Chiến Thuật là các Không Ðoàn: 41, 51, và 61.

Không Ðoàn 41 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 41 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 41 Chiến Thuật được thành lập vào đầu năm 1964 với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Phạm Long Sửu.4,5,6  Sau năm 1972, Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Thái Bá Ðệ và Không Ðoàn Phó là Trung Tá Nguyễn Văn Vượng.  Không Ðoàn 41 gồm có tất cả ba phi đoàn với phiên hiệu như sau:
Phi Ðoàn 110,
Phi Ðoàn 120, và
Phi Ðoàn 427.

    Trước khi tìm hiểu thêm về các phi đoàn này chúng ta cần biết là từ khoảng đầu thập niên 1960, KQ VNCH bắt đầu sử dụng một hệ thống phiên hiệu, gồm ba số, để đặt tên cho các phi đoàn, mà con số đầu tiên được quy định như sau:

* số 1 là các phi đoàn quan sát,
* số 2 là các phi đoàn trực thăng,
* số 3 là các phi đoàn đặc nhiệm,
* số 4 là các phi đoàn vận tải,
* số 5 là các phi đoàn khu trục (kể cả phản lực),
*số 6 có thể xem như không được sử dụng (lúc đầu định dành cho thủy phi cơ nhưng không thành, sau đó dùng cho các phi đoàn oanh tạc cơ nhưng cũng không tồn tại được lâu, vì chỉ có một phi đội oanh tạc duy nhứt, sử dụng oanh tạc cơ B-57 Canberra, được thành lập là Biệt Ðội 615 do Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Biện làm Chỉ Huy Trưởng, nhưng sớm bị giải thể vào tháng 4-1966 vì phi cơ B-57 không đáp ứng được nhu cầu chiến trường và bị thiệt hại quá nhiều),
*số 7 là các phi đoàn không thám điện tử, tiếng Anh gọi là Electronic Intelligence = ELINT hay Communications Intelligence = COMINT, một bộ phận của công tác tình báo tín hiệu, Signal Intelligence = SIGINT),
*số 8 là các phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunship, hỏa long hay cường kích), và
*số 9 là các phi đoàn huấn luyện. 

Cách thức đặt phiên hiệu như sau: 

  • Con số hàng trăm (tức số đầu tiên): là con số dành cho ngành
  • Con số hàng chục (tức số thứ nhì): khởi sự là số 1
  • Con số hàng đơn vị (tức số thứ ba): lấy số ngành trừ cho số 1, thì dụ, số của ngành quan sát là số 1, 1-1 = 0; vậy phiên hiệu của phi đoàn quan sát đầu tiên sẽ là 110

Sau khi đã có phiên hiệu của phi đoàn đầu tiên rồi thì cứ cộng thêm 2 sẽ có các phiên hiệu của các phi đoàn kế tiêp.  Do đó, phiên hiệu của tất cả các phi đoàn của KQ VNCH được quy định như sau: 7

  • Ngành quan sát: 110, 112, 114 …

  • Ngành trực thăng: 211, 213, 215 …

  • Ngành đặc nhiệm: 312, 314

  • Ngành vận tải: 413, 415, 417 …

  • Ngành khu trục: 514, 516, 518 …

  • Ngành oanh tạc: 615
  • Ngành không thám điện từ: 716, 718

  • Ngành yểm trợ hỏa lực: 817, 919, 821
  • Nganh huấn luyện: 918, 920 …

    Theo hệ thống phiên hiệu của KQ VNCH vừa trình bày trên đây, hai Phi Ðoàn 110 và 120 là hai phi đoàn quan sát.  

Phi Ðoàn 110, trong thời Pháp thuộc, mang tên là 1er GAOAC (Group Aérien d’Observation et d’Accompagnement au Combat, gọi tắt là GAO) được thành lập ngày 1-10-1952 tại Nha Trang, chuyển về TSN năm 1953, di chuyển ra Huế năm 1954, về lại TSN năm 1955, di chuyển ra Ðà Nẵng tháng 11 năm 1956, và chính thức trở thành Phi Ðoàn 110 Quan Sát vào tháng 01 năm 1963.  Phi Ðoàn còn được biết dưới nhiều tên khác nhau như Phi Ðoàn 1 Quan Sát, Ðệ Nhất Phi Ðoàn Quan Sát, và Phi Ðoàn Thiên Phong.  Các vị Phi Ðoàn Trưởng lần lượt là: Nguyễn Ngọc Oánh, Trần Phước, Nguyễn Trọng Ðệ, Ngô Tấn Diêu, Phan Văn Mạnh, Võ Trung Nhơn, Lê Sĩ Thắng, Nguyễn Tài Hiệp (Xử Lý Thường Vụ).8

Phi Ðoàn 120, được thành lập vào tháng 5-1971 tại Ðà Nẵng; Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Lê Công Thịnh.

    Cả hai phi đoàn đều được trang bị những loai phi cơ quan sát hiện đại nhứt của thập niên 1970 do Hoa Kỳ cung cấp:

  • Phi cơ O-1 Bird Dog:

Phi cơ quan sát O-1 Bird Dog

Phi cơ O-1 Bird Dog, do hãng Cessna sản xuất, là phi cơ liên lạc được thiết kế lại từ phi cơ L-19 đã được KQ VNCH sử dụng từ giữa thập niên 1950.  O-1 Bird Dog có những đặc tính như sau: 9

  • Chiều dài: 7,88 m
  • Sải cánh: 10,97 m
  • Chiều cao: 2,23 m
  • Trọng lượng: 734 kg
  • Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt Continental O-470-11, 6 xi-lanh, 213 mả lực
  • Vận tốc: bình phi 167 km/giờ; tối đa 185 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 853 km
  • Khả năng cất cánh / đáp: chỉ cần một khoảng cách 170-180 m
  •   Phi cơ U-17 A/B Skywagon:

Phi cơ quan sát U-17 A/B Skywagon

Phi cơ quan sát U-17 A/B Skywagon, cũng do hảng Cessna sản xuất, có những đặc tính như sau: 10

  • Chiều dài: 7,8 m
  • Sải cánh: 10,92 m
  • Chiều cao: 2,3 m
  • Trọng lượng: 783 kg
  • Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt Continental, kiểu A động cơ IO-470, 260 mả lực, kiểu B động cơ IO-520, 300 mả lực
  • Vận tốc: bình phi 210 km/giờ; tối đa 330 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 4 giờ 30 phút
  • Khả năng vận chuyển: có thể chở được 6 người kể cả phi công

    Phi Ðoàn Vận Tải 427, mang danh hiệu Thần Long, được thành lập vào tháng 2-1972 tại Căn Cứ KQ Phù Cát, Bình Ðịnh, thuộc Vùng II, với ban chỉ huy như sau: 11

  • Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Phạm Văn Cần
  • Phi Ðoàn Phó: Thiếu Tá Nguyễn Bá Ðạm
  • Trưởng Phòng Hành Quân: Thiếu Tá Trần Văn Minh
  • Trưởng Phòng Huấn Luyện: Thiếu Tá Hà Văn Hòa
  • Trưởng Phòng An Phi: Thiếu Tá Nguyễn Văn Kim

    Phi Ðoàn 427 là phi đoàn đầu tiên của KQ VNCH được trang bị phi cơ C-7 Caribou do công ty De Havilland (của Canada) sản xuất:

Phi cơ vận tải C-7A Caribou 

    Phi cơ C-7 Carbou là một phi cơ vận tải thuộc loại không cần phi đạo dài (chỉ cần khoảng 300 m thôi) trong lúc đáp và cất cánh (STOL: short takeoff and landing), mang những đặc tính như sau: 12

  • Chiều dài: 22,12 m
  • Sải cánh: 29,13 m
  • Chiều cao: 9,65 m
  • Trọng lượng: 8.283 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney R-2000-7M2, 14 xi-lanh, 1,450 mả lực mổi cái
  • Vận tốc: 348 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 2,103 km
  • Cao độ tối đa: 7.559 m
  • Phi hành đoàn: 3
  • Khả năng vận chuyển: có thể chở được khoàng 1 trung đội binh sĩ, hoặc hai xe Jeep hoặc xe quân sự cở nhỏ                                           

Nhờ khả năng đặc biệt của phi cơ C-7 Caribou, như có thể đáp xuống bất cứ phi đạo nào, bằng cỏ hay đất nện, không cần bằng bê-tông, và chỉ cần dài khoảng 300 m là đủ, Phi Ðoàn 427 đã hằng ngày thực hiện được những phi vụ vô cùng nguy hiểm để tiếp tế và tải thương cho các đơn vị Biệt Ðộng Quân Biên Phòng (cũng như các đơn vị bạn khác) đồn trú tại các địa điểm rừng núi hiểm trở và hẻo lánh trong phạm vi trách nhiệm của Quân Ðoàn I.

Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 41 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 110Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Ngọc Oánh
Cuối Cùng (XLTV): Trung Tá Nguyễn Tài Hiệp
Thiên PhongThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-07.jpg
Phi Ðoàn 120Trung Tá Lê Công Thịnh Bạch YếnThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-08.jpg
Phi Ðoàn 427Trung Tá Phạm Văn CầnThần LongThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-09.jpg

Không Ðoàn 51 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 51 Chiến Thuật

    Ðóng tại Ðà Nẵng, Không Ðoàn 51, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Văn Vượng, gồm có tất cả sáu phi đoàn trực thăng là các phi đoàn 213, 233, 239, 247, 253, và 257.  

So với các ngành liên lạc, vận tải, và khu trục, ngành trực thăng tương đối sinh sau đẻ muộn, nhưng lại là ngành phát triển tương đối nhanh và mạnh mẽ nhứt của KQ VNCH. 13

Thông thường các phi đoàn trực thăng UH-1 đều có 4 phi đội, 3 phi đội trang bị nhẹ (slick) và 1 phi đội võ trang (gun), mỗi phi đội có 8 chiếc, tổng cộng 32 chiếc trực thăng UH-1.  Một vài phi đoàn có thể có đến 38 chiếc trực thăng UH-1.  Các phi đoàn CH-47 Chinook thì cấp số là 16 chiếc.  KQ VNCH, tính đến trước ngày 30-4-1975, đã tiếp nhận từ quân đội Mỹ tổng cộng khoảng 800 trực thăng UH-1 và 100 trực thăng CH-47 Chinook.  Các phi cơ trực thăng UH-1 của KQ VNCH đã được sử dụng trong rất nhiều phị vụ khác nhau, từ đổ quân (trong các cuộc hành quân trực thăng vận), tải thương, cho đến tiếp tế (các đơn vị, tiền đồn bị địch bao vây), và cứu nạn (truy tầm và tiếp cứu các phi công bị địch bắn rơi), vv.

Phi Ðoàn 213 là phi đoàn kỳ cựu nhứt của Không Ðoàn 51.  Phi đoàn được thành lập vào ngày 1-10-1961 với 20 chiếc trực thăng H-34 và với thành phần Ban Chỉ Huy như sau:

  • Chỉ Huy Trưởng: Ðại Úy Nguyễn Xuân Trường
  • Chỉ Huy Phó: Ðại Úy Nguyễn Hữu Hậu
  • Sĩ quan Kỹ Thuật: Trung Úy Ngô Khắc Thuật
  • Trưởng Phòng Hành Quân: Thiếu Úy Nguyễn Văn Trang

Trực thăng H-34 mang những đặc tính như sau: 14

Phi cơ trực thăng H-34

  • Chiều dài: 17,28 m
  • Chiều cao: 4,85 m
  • Trọng lượng: 3.583 kg
  • Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt (rotor) Wright R-1820-84 radial engine, có đường kính 17,07 m, 1.525 mả lực 
  • Vận tốc: tối đa 278 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 293 km
  • Cao độ tối đa: 1.495 m
  • Phi hành đoàn: 2 phi công chánh và phụ
  • Khả năng vận chuyển: từ 12 (loại A) đến 18 binh sĩ (loại C); hoặc 8 cáng tải thương

So với trực thăng H-19 do KQ Pháp để lại thì H-34 đã mạnh hơn, bay nhanh hơn và có tầm hoạt động rộng hơn.  Từ sau 1965, khi quân Mỹ đã vào Việt Nam, và chiến thuật trực thăng vận được áp dụng gần như cho tất cả các cuộc hành quân lớn nhỏ, trực thăng H-34 đã dần dần được thay thế bởi trực thăng UH-1 có tầm hoạt động rộng hơn và có trang bị hỏa lực.

Các phi đoàn trực thăng còn lại của Không Ðoàn 51 đều được thành lập sau 1970. Tất cả các Phi Ðoàn này (trừ Phi Ðoàn 247) cùng với Phi Ðoàn 213 đều sử dụng trực thăng UH-1.  Phi Ðoàn 247 là phi đoàn duy nhứt của Không Ðoàn 51 Chiến Thuật sử dụng phi cơ CH-47 Chinook.

    Phi cơ trực thăng CH-47 Chinook là loại trực thăng lớn có khả năng vận tải và tiếp tế rất quan trọng.

Phi cơ trực thăng CH-47

    Trực thăng Chinook mang những đặc tính như sau: 15

  • Chiều dài: 30,1 m
  • Chiều cao: 5,7 m
  • Trọng lượng: 10.185 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt (rotor) Lycoming T55-GA-714A turboshaft, 4.733 mả lực mổi cái
  • Vận tốc: bình phi 240 km/giờ, tối đa 315 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 741 km
  • Cao độ tối đa: 5.640 m
  • Phi hành đoàn: 3 người gồm phi công chánh, phi công phụ, và cơ phi
  • Khả năng vận chuyển: từ 33 đến 55 binh sĩ; 12.700 kg vật dụng
  • Trang bị hỏa lực: có thể trang bị 3 đại liên 7,62 mm loại M24/FN MAG ở phía sau và 2 bên sườn 

Trực thăng UH-1, với biệt danh (nickname) là “Huey,” là loại trực thăng đa dụng, và về sau đã trở thành một biểu tượng của Chiến Tranh Việt Nam. Có thể nói mà không sợ sai lầm là khi nói đến Chiến Tranh Việt Nam thì cái hình ảnh đầu tiên mà mọi người Mỹ cũng như Việt nghĩ đến là chiếc trực thăng Huey. Trên thực tế, cái tính cách làm cho quân đội Mỹ khác hẳn quân đội Pháp chính là tính cơ động của quân Mỹ, và việc đó chính là do việc lục quân Mỹ sử dụng triêt để các phi cơ trực thăng trong các cuộc hành quân của họ.  QLVNCH, từ sau 1965, cũng mang tính di động cao này, với những cuộc hành quân trực thăng vận lớn nhỏ trên khắp lãnh thổ.  Tuy nhiên, trực thăng Huey không phải chỉ được sử dụng để chuyển quân thôi, mà còn được sử dụng trong rất nhiều công tác khác, như thám thính, yểm trợ hỏa lực, khai quang, tải thương, tiếp tế, tiếp cứu, vv.  Chính vì thế, trực thăng UH-1 đã có rất nhiều kiểu (model) khác nhau, 1A, 1B, 1D, 1H, vv mỗi kiểu thích hợp cho một loại công tác khác nhau.16,17 Phần lớn phi cơ trực thăng của KQ VNCH là loại UH-1H.   

Phi cơ trực thăng UH-1 Huey

Phi cơ trực thăng UH-1 mang những đặc tính như sau: 18

  • Chiều dài: 17,4 m
  • Chiều cao: 4,39 m
  • Trọng lượng: 2.365 kg
  • Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt (rotor, có đường kính 14,63 m) loại Lycoming T53-L-11 turboshaft, 1.100 mã lực mổi cái
  • Vận tốc: bình phi 201 km/giờ, tối đa 217 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 507 km
  • Cao độ tối đa: 5.910 m
  • Phi hành đoàn: 1-4 người gồm phi công chánh, phi công phụ, cơ phi, xạ thủ đại liên
  • Khả năng vận chuyển: 14 binh sĩ, hoặc 6 cáng tải thương, hoặc 1.760 kg vật dụng
  • Trang bị hỏa lực: có thể trang bị 2 đại liên 7,62 mm loại GAU-17/A hai bên sườn, và hai ổ hỏa tiển loại 7 hay 19 hỏa tiển loại 70 mm 

Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn trực thăng của Không Ðoàn 51 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy Trường Danh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 213Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Xuân Trường
Cuối cùng: Trung Tá Cao Quang Khôi
Song ChùyThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-14.jpg
Phi Ðoàn 233Ðầu tiên: Thiếu Tá Bùi Quang Chính
Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Thanh
Thiên ƯngThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-15.jpg
Phi Ðoàn 239Ðầu tiên: Thiếu Tá Trần Duy Kỳ
Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Anh Toàn
Hoàng ƯngThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-16.jpg
Phi Ðoàn 247Trung Tá Nguyễn Văn MaiLôi PhongThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-17.jpg
Phi Ðoàn 253Ðầu tiên: Thiếu Tá Phạm Ðăng Luân
Cuối cùng: Thiếu Tá Hùynh Văn Phố
Sói ThầnThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-18.jpg
Phi Ðoàn 257Trung Tá Lê Ngọc BìnhCứu TinhThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-19.jpg

Không Ðoàn 61 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 61 Chiến Thuật

    Ðóng tại Ðà Nẵng, Không Ðoàn 61, thuộc Sư Ðoàn 1 KQ, gồm có tất cả bốn phi đoàn khu trục 516, 528, 538, và 550, sử dụng hai loại phi cơ khu trục phản lực A-37B Dragonfly và F5-A/B Freedom Fighter. Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Thái Bá Ðệ.

    Phi Ðoàn 516 là phi đoàn kỳ cựu nhứt của Không Ðoàn 61:

  • Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Phạm Long Sửu
  • Gọi là Phi Ðoàn II Khu Trục, mang danh hiệu là Phi Hổ
  • Ðược thành lập từ tháng 12-1961 tại Nha Trang, và được trang bị phi cơ T-28 
  • Năm 1964 di chuyển ra Ðà Nẵng, và được trang bị phi cơ A1-H Skyraider 
  • Năm 1968, tất cả đoàn viên của phi đoàn được gởi sang Mỹ để xuyên huấn về phi cơ khu trục phản lực A-37B Dragonfly

Các phi đoàn còn lại của Không Ðoàn 61 đều được thành lập sau năm 1970:

  • Phi Ðoàn 528, danh hiệu Hổ Cáp, thành lập năm 1970, Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Cao Văn Khuyến, và được trang bị phản lực cơ A-37B Dragonfly
  • Phi Ðoàn 538, danh hiệu Hồng Tiễn, thành lập cuối năm 1972, Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Phạm Ðình Anh, và được trang bị phản lực cơ F-5A và F-5B.  Qua năm 1973, Phi Ðoàn 538 được trang bị bằng phản lực cơ F-5E Tiger II, tối tân hơn và chuyên biệt về không chiến. (Ghi chú quan trọng: Về mặt quản lý, Phi Ðoàn này trực thuộc Không Ðoàn 63 Chiến Thuật của Sư Ðoàn 3 KQ tại Biên Hòa; Phi Ðoàn này được đưa ra đóng tại Ðà Nẵng là để đề phòng phản lực cơ MIG của Bắc Viêt xâm nhập)
  • Phi Ðoàn 550, danh hiệu Nhện Ðen, thành lập cuối năm 1972, Chỉ Huy Trưởng đầu Tiên là Thiếu Tá Lê Trai, và được trang bị phản lực cơ A-37B Dragonfly 

Phản lực cơ A-37B Dragonfly mang những đặc tính như sau: 19

Phi cơ khu trục phản lực A-37B Dragonfly

  • Chiều dài: 8,62 m
  • Sải cánh: 10,93 m
  • Chiều cao: 2,70 m
  • Trọng lượng: 2.817 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ phản lực loại General Electric J85-GE-17A  turbojet, với sức đẩy 2.850 pounds mổi cái
  • Vận tốc: bình phi 787 km/giờ, tối đa 816 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 1.480 km
  • Cao độ tối đa: 12.730 m
  • Phi hành đoàn: 1 phi công 
  • Trang bị hỏa lực: 

. 1 đại liên 7,62 mm loại GAU-2B/A ở trước mủi 

. 8 ổ để gắn đại liên ở dưới cánh

. 4 ổ để gắn hỏa tiễn Sidewinder ở dưới cánh

. 8 quả bom loại 500 cân Anh

Trang bị hỏa lực của Phản lực cơ A-37B Dragonfly

    Phản lực cơ F-5A/B Freedom Fighter mang các đặc tính sau đây: 20

Phi cơ khu trục phản lực F-5A/B Freedom Fighter

  • Chiều dài: 14,45 m
  • Sải cánh: 8,13 m 
  • Chiều cao: 4,08 m
  • Trọng lượng: 4.349 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ phản lực loại General Electric J85-GE-13  turbojet, với sức đẩy 4.080 pounds mổi cái
  • Vận tốc: bình phi 0.84 Mach (1.037 km/giờ), tối đa 1,4 Mach (1.728 km/giờ)
  • Tầm hoạt động: 2.253 km
  • Cao độ tối đa: 15.240 m
  • Phi hành đoàn: 1 phi công 
  • Trang bị hỏa lực: 

. 2 đại liên 20 mm loại GAU-2B/A ở trước mủi

. 2 ổ hỏa tiễn Sidewinder

. có thể mang nhiều loại bom khác nhau

    Dưới đây là bảng tóm lực thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 61 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 516Ðầu tiên: Ðại Úy Phạm Long SửuPhi HổThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-24.jpg
Phi Ðoàn 528Ðầu tiên: Thiếu Tá Cao Văn KhuyênHổ CápThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-25.jpg
Phi Ðoàn 538Ðầu tiên: Thiếu Tá Phạm Ðình Anh Hồng TiễnThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-26.jpg
Phi Ðoàn 550Ðầu tiên: Thiếu Tá Lê Trai Nhện ÐenThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-27.jpg

Sư Ðoàn 2 Không Quân

Huy hiệu Sư Ðoàn 2 Không Quân

    Sư Ðoàn 2 KQ được chính thức thành lập vào tháng 7-1970 tại Nha Trang, với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Nguyễn Văn Lượng, về sau, vào ngày 1-11-1972, vinh thăng Chuẩn Tướng.

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Lượng

    Cũng như phần lớn các tướng lãnh KQ VNCH, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Lượng bị động viên vào Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh, tốt nghiệp (tháng 6-1952) với cầp bậc Thiếu Úy. Tháng 12-1952, ông trúng tuyển vào KQ, theo học và tốt nghiệp Khóa 2 Hoa Tiêu Quan Sát tại Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang vào tháng 8-1953.21

    Sư Ðoàn 2 KQ gồm có hai Không Ðoàn Chiến Thuật là Không Ðoàn 62 và Không Ðoàn 92.

Không Ðoàn 62 Chiến Thuật 

Huy hiệu Không Ðoàn 62 Chiến Thuật

      Không Ðoàn 62 được thành lập vào tháng 3-1964 tại Pleiku, và đến tháng 1-1965 thì dời về Nha Trang.  Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Trần Văn Minh, về sau là Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân.22  Không Ðoàn Phó là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tần, về sau là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 KQ.  Không Ðoàn 62 gồm có tất cả 4 phi đoàn và 1 biệt đội: Phi Ðoàn 114, Phi Ðoàn 215, Phi Ðoàn 219, Biệt Ðội 259C, và Phi Ðoàn 817.

    Phi Ðoàn 114, theo phiên hiệu do KQ VNCH sử dụng, là một phi đoàn quan sát, mà tiền thân là Phi Ðoàn 3 Quan Sát được thành lập vào tháng 12-1961 tại Ðà Nẵng, được đổi tên Phi Ðoàn 114 vào tháng 1-1963, di chuyển lên Pleiku cuối năm 1963, và sau cùng về Nha Trang từ tháng 1-1965.  Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Phan Quang Phúc.  Phi Ðoàn 114 cũng sử dụng hai loại phi cơ quan sát là O-1 và U-17 như các Phi Ðoàn 110 và 120, thuộc Sư Ðoàn 1 KQ đã trình bày bên trên.

    Phi Ðoàn 215, phi đoàn thứ nhì mang phiên hiệu này, là một phi đoàn trực thăng.  Phi Ðoàn 215 thứ nhứt được thành lập vào đầu năm 1963 tại Tân Sơn Nhứt để phụ trách huấn luyện nhưng không có kết quả tốt nên đã bị giải tán vào tháng 5-1964.  Ðến tháng 9-1964, một phi đoàn trực thăng mới được thành lập tại Ðà Nẵng và được mang phiên hiệu 215 này, với danh hiệu Thần Tượng và ban chỉ huy gồm:

  • Ðại Úy Trần Minh Thiện: Chỉ Huy Trưởng
  • Trung Úy Ðặng Trần Dưỡng: Chỉ Huy Phó
  • Thiếu Úy Nguyễn Văn Trang: Trưởng Phòng Hành Quân
  • Thiếu Úy Phạm Bính: Phụ Tá

Phi Ðoàn 215 cùng với Phi Ðoàn 213, đều sử dụng trực thăng UH-1, phụ trách huấn luyện và hành quân cho đến đầu năm1965 thì chuyển về Nha Trang.  

Phi Ðoàn 219, mang danh hiệu Long Mã, được thành lập tại Ðà Nẵng vào đầu năm 1966 do sự sáp nhập của hai biệt đội trực thăng H-34 chuyên thả các toán Lôi Hổ của Lực Lượng Ðặc Biệt. Trong thời gian đầu, Phi Ðoàn 219 trực thuộc Biệt Ðoàn 83 đóng tại Tân Sơn Nhứt cho đến khi Biệt Ðoàn 83 bị giải tán vào năm 1969 thì chuyển sang trực thuộc Không Ðoàn 62 Chiến Thuật.  Khi mới thành lập Phi Ðoàn 219 có ban chỉ huy đầu tiên như sau:

  • Ðại Úy Hồ Bảo Ðịnh: Chỉ Huy Trưởng
  • Ðại Úy Trần Văn Luân: Chỉ Huy Phó
  • Ðại Úy Nguyễn Văn Nghĩa: Trưởng Phòng Hành Quân
  • Ðại Úy Nguyễn Phi Hùng: Sĩ Quan Phụ Tá
  • Trung Úy Nguyễn Hữu Lộc: Sĩ Quan Huấn Luyện
  • Trung Úy Ðỗ Văn Hiếu: Sĩ Quan An Phi

Sau khi thành lập, Phi Ðoàn 219, sử dụng trực thăng H-34, vẫn tiếp tục thực hiện các phi vụ thả các toán Lôi Hổ. Cuối năm 1971, cũng như các Phi Ðoàn 213 và 215, Phi Ðoàn 219 chuyển sang sử dụng trực thăng UH-1.

    Biệt Ðội 259C là Biệt Ðội C của Phi Ðoàn 259, mang danh hiệu Nhân Ái, là một phi đoàn sử dụng trực thăng UH-1 và chuyên về tải thương.  Phi Ðoàn 259 gồm có tất cả 8 biệt đội mang ký hiệu từ chữ A đến chữ H, và trú đóng tại các Căn Cứ KQ như trong bảng liệt kê sau đây:

  • Phi Ðội 259A: Phù Cát (Bình Ðịnh)
  • Phi Ðội 259B: Pleiku
  • Phi Ðội 259C: Nha Trang
  • Phi Ðội 259D: Phan Rang
  • Phi Ðội 259E: Biên Hòa
  • Phi Ðội 259F: Cần Thơ
  • Phi Ðội 259G: Tân Sơn Nhứt
  • Phi Ðội 259H: Bình Thủy 

    Phi Ðoàn 817, theo hệ thống phiên hiệu của KQ VNCH, là một phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunship, cường kích hay hỏa long) được trang bị phi cơ AC-47D Spooky như trong hình dưới đây:

    Phi cơ AC-47D Spooky chính là một chiếc phi cơ DC-3 Dakota được trang bị hỏa lực hùng hậu để thực hiện các phi vụ yểm trợ hỏa lực cho các đơn vị bạn hay các tiền đồn hẻo lánh bị địch bao vây.  Loại phi cơ này mang những đặc tính như sau: 23

  • Chiều dài: 19, m
  • Sải cánh: 28,9 m
  • Chiều cao: 5,2 m
  • Trọng lượng: 8.2 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney R-1830-90C, 1,200 mả lực mổi cái
  • Vận tốc: bình phi 280 km/giờ; tối đa 375 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 3,500 km
  • Cao độ tối đa: 7.450 m
  • Phi hành đoàn: 7 người, gồm, phi công chính, phi công phụ, navigator, cơ phi, loadmaster, và 2 xạ thủ đại liên 
  • Trang bị hỏa lực:

. 3 đại liện 7,62 ly loại GAU-2/M134 minigun, có thể bắn với vận tốc 2000 viên/phút

. hoặc 10 đại liên 7,62 ly loại Browning AN/M2 

.  48 hỏa châu loại Mk 24  

    Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 62 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 114Ðầu tiên: Ðại Úy Phan Quang Phúc
Cuối cùng(XLTV): Trung Tá Võ Văn Oanh
Sao MaiThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-32.jpg
Phi Ðoàn 215Ðầu tiên: Thiếu Tá Trần Minh Thiện
Cuối cùng: Trung Tá Khưu Văn Phát
Thần TượngThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-33.jpg
Phi Ðoàn 219Ðầu tiên: Thiếu Tá Hồ Bảo Ðịnh
Cuối cùng: Trung Tá Phạm Ðăng Luân
Long MãThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-34.jpg
Biệt Ðội 259CThiếu Tá Nguyễn Minh Lương Nhân ÁiThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-35.jpg
Phi Ðoàn 817 Trung Tá Huỳnh Quang TòngHỏa Long This image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-36.jpg

Trong cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 của QLVNCH tấn công sang Hạ Lào để phá hủy các căn cứ hậu cần trên đường mòn Hồ Chí Minh của địch quân trong 2 tháng 2 và 3-1971, các phi đoàn trực thăng của KQ VNCH đã tham chiến, thực hiện rất nhiều những phi vụ đổ quân, tiếp tế, và tải thương, và đã chịu nhiều thiệt hại. Rất tiếc hiện nay vẫn chưa có một tài liệu nào tổng kết những thiêt hại của ngành trực thăng trong cuộc hành quân hết sức quan trọng này.  Bài viết “Chuyến bay tử thần vào Ðồi 31 Hạ Lào” của tác giả Bùi Tá Khánh, một phi công của Phi Ðoàn 219 Long Mã, ghi lại những hy sinh bị thương và hùng tráng của hai phi hành đoàn thuộc Phi Ðoàn 219, mà chính tác giả là một nhân chứng.24  Một chi tiết cần lưu ý là trong bài viết này, tác giả cho biết Phi Ðoàn 219, tại thời điểm này (tháng 2-1971), vẫn còn sử dụng trực thăng H-34 và vẫn còn thuộc Không Ðoàn 51, Sư Ðoàn 1 KQ trú đóng tại Ðà Nẵng.

Không Ðoàn 92 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 92 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 92 được thành lập vào giữa năm 1972 và đóng tại Phan Rang, với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá (sau thăng cấp lên Ðại Tá) Lê Văn Thảo, gồm có ba phi đoàn khu trục phản lực cơ A-37 là các Phi Ðoàn 524, 534, và 548, và một Biệt Ðội tải thương là Biệt Ðội 259D với phi cơ trực thăng UH-1.

    Phi Ðoàn 524, mang danh hiệu Thiên Lôi, mà tiền thân là một Biệt Ðội của Phi Ðoàn 516, được thành vào ngày 15-9-1965 tại Nha Trang, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Nguyễn Quang Ninh, và Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Sử Ngọc Cả.  Phi Ðoàn 524 là phi đoàn đầu tiên tiếp nhận khu trục phản lực cơ A-37.

    Phi Ðoàn 534, mang danh hiệu Kim Ngưu, cũng là một phi đoàn khu trục phản lực cơ A-37, được thành lập vào giữa năm 1972 tại Phan Rang với Phi Ðoàn Trường đầu tiên và cũng là duy nhứt (cho đến ngày 30-4-1975) là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thi (về sau thăng Trung Tá)

    Phi Ðoàn 548, mang danh hiệu Ó Ðen, cũng được trang bị khu trục phản lực cơ A-37, được thành lập vào cuối năm 1972 tại Phan Rang, với Phi Ðoàn Trường đầu tiên là Thiếu Tá Trần Mạnh Khôi (sau thăng Trung Tá).

Ngoài các phi đoàn khu trục phản lực cơ vừa kể trên, Không Ðoàn 92 Chiến Thuật còn có Biệt Ðội tải thương 259D với phi cơ trực thăng UH-1.

    Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 92 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrườngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 524Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Quang Ninh
Cuối cùng: Trung Tá Sử Ngọc Cả
Thiên LôiThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-38.jpg
Phi Ðoàn 534Trung Tá Nguyễn Văn ThiKim NgưuThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-39.jpg
Phi Ðoàn 548Trung Tá Trần Mạnh KhôiÓ ÐenThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-40.jpg
Biệt Ðội 259DThiếu Tá  Tô Thành NhânNhân ÁiThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-41.jpg

Sư Ðoàn 3 Không Quân

Huy hiệu Sư Ðoàn 3 Không Quân

    Sư Ðoàn 3 KQ được thành lập vào tháng 5-1970 tại Biên Hòa với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Hỳnh Bá Tính, về sau, vào ngày 1-11-1972, vinh thăng Chuẩn Tướng.  Chuần Tướng Tính tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Văn Duyệt) của Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức (tháng 6-1952) với cấp bậc Thiếu Úy, trúng tuyển vào KQ, và tốt nghiệp khóa huấn luyện hoa tiêu tại Marrakech, Maroc, Bắc Phi, trờ thành một trong những phi công đầu tiên của KQ VNCH.  Trước khi đảm nhận chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 3 KQ, Tướng Tính đã từng giữ các chức vụ: Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn 2 Quan Sát tại Nha Trang và Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 74 Chiến Thuật tại Cần Thơ.25

Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính

Sư Ðoàn 3 KQ gồm có ba không đoàn là các Không Ðoàn 23 Chiến Thuật, Không Ðoàn 43 Chiến Thuật, và Không Ðoàn 63 Chiến Thuật.

Không Ðoàn 23 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 23 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 23 Chiến Thuật được thành lập vào giữa năm 1964 tại Biên Hòa, với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Phạm Long Sửu, và Không Ðoàn Phó là Thiếu Tá Phạm Phú Quốc.  Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Hoàng Thanh Nhã.  Không Ðoàn 23 gồm có tất cả 4 phi đoàn: 2 phi đoàn quan sát là các Phi Ðoàn 112 và Phi Ðoàn 124 sử dụng các phi cơ O-1 Bird Dog và U-17 Skywagon; và 2 phi đoàn khu trục là các Phi Ðoàn 514 và Phi Ðoàn 518 sử dụng phi cơ khu trục A-1 Skyraider.

    Phi Ðoàn 112, mà tiền thân là Phi Ðoàn 2 Quan Sát và Trợ Chiến được thành lập vào tháng 1-1952 tại Nha Trang, di chuyển về Tân Sơn Nhứt tháng 10-1959, đổi tên thành Phi Ðoàn 112, danh hiệu là Thanh Xà, vào tháng 1-1963, và sau cùng chuyển về Biên Hòa tháng 6-1964.  Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Võ Dinh (cấp bậc sau cùng là Chuẩn Tướng, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân 26), và Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Lý Thành Ba). 

    Phi Ðoàn 124, phi đoàn quan sát cuối cùng của KQ VNCH, mang danh hiệu Thần Ðiểu, được thành lập vào cuối năm 1971 tại Biên Hòa, với Phi Ðoàn Trưởng là Trung Tá Võ Trung Nhơn.

    Phi Ðoàn 514, mang danh hiệu Phượng Hoàng, là phi đoàn khu trục kỳ cựu nhứt của Không Lực VNCH.  Tiền thân của nó chính là Phi Ðoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát được thành lập vào năm 1956, trang bị phi cơ F-8F Bearcat, với Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Huỳnh Hữu Hiền (về sau thăng cấp Ðại Tá và là Tư Lệnh Không Quân trong một thời gian ngắn, 1962-1963).  Năm 1960, phi đoàn đổi tên thành Phi Ðoàn 514, trang bị phi cơ A1-H Skyraider, với Chỉ Huy Trưởng là Ðại Úy Nguyễn Quang Tri.  Ðại Tá Tri là một trong những phi công khu trục đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Không Quân Pháp nổi tiếng Salon-de-Provence, là vị chỉ huy đã đào tạo rất nhiều phi công khu trục tài ba cho KQVNCH.  Một trong những phi công này là ông Lê Bá Ðịnh về sau là Thiếu Tá Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn khu trục 530 Thái Dương và Trung Tá Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 72 Chiến Thuật thuộc Sư Ðoàn 6 KQ ở Pleiku.  Ðại Tá Tri về sau thăng lên cấp Ðại Tá, và là Phụ Tá Tư Lệnh KQ đặc trách về Phòng Không tại Bộ Tư Lệnh KQ.  Sau khi sang Mỹ trong diện HO, Ðại Tá Tri là người chủ trương hai Trang Web nổi tiếng trong giới cựu quân nhân Không Quân là Bạn Già Không Quân Cánh Chim Tự Do.  Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng của Phi Ðoàn 514 Phượng Hoàng là Trung Tá Nguyễn Văn Vượng. 

Phi Ðoàn 518, danh hiệu Phi Long, được thành lập vào đầu năm 1964, trang bị phi cơ khu trục A1-H Skyraider, với Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Phạm Phú Quốc (là một trong 2 phi công đã ném bom Dinh Ðộc Lập vào ngày 27-2-1962; ngày 19-4-1965, lúc đó đã thăng lên cấp Trung Tá và đang giữ chức vụ Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 23 Chiến Thuật, ông đã hy sinh khi chỉ huy 6 phi tuần Skyraider trong một phi vụ Bắc Phạt oanh tạc Hà Tỉnh).  Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Lê Quốc Hùng

Phi cơ khu trục A1-H Skyraider mà hai Phi Ðoàn 514 và 518 được trang bị chính là phi cơ khu trục AD-6 của hảng Douglas như trong hình dưới đây:

    Phi cơ khu trục A1-H Skyraider mang những đặc tính như sau: 27

  • Chiều dài: 11,84 m
  • Sải cánh: 15,25 m 
  • Chiều cao: 4,78 m
  • Trọng lượng: 5.429 kg
  • Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt loại Wright R-3350-26WA, với sức đẩy 2.700 mã lực
  • Vận tốc: bình phi 319 km/giờ, tối đa 518 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 2.115 km
  • Cao độ tối đa: 8.685 m
  • Phi hành đoàn: 1 phi công 
  • Trang bị hỏa lực: 

. 4 đại liên 20 mm loại AN-M3 

. 15 rack để gắn bom hay hỏa tiễn dưới cánh và thân mình tối đa là 3.600 kg

    Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 23 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðòan 112Ðầu tiên: Ðại Úy Võ Dinh
Cuối cùng: Trung Tá Lý Thành Ba
Thanh XàThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-46.jpg
Phi Ðoàn 124Trung Tá Võ Trung Nhơn Thanh ÐiểuThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-47.jpg
Phi Ðoàn 514Ðầu tiên: Ðại Úy Huỳnh Hữu Hiền
Cuối cùng: Trung Tá Dương Bá Trát
Phượng HoàngThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-48.jpg
Phi Ðoàn 518Ðầu tiên: Thiếu Tá Phạm Phú Quốc
Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Quan Vĩnh 
Phi LongThis image has an empty alt attribute; its file name is su-doan-khong-quan-49.jpg

Không Ðoàn 43 Chiến Thuật

Huy hiện Không Ðoàn 43 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 43 Chiến Thuật, được thành lập tại Biên Hòa, là một không đoàn chuyên về trực thăng, gồm có tất cả 6 phi đoàn và 1 biệt đội là: 1 phi đoàn trang bị trực thăng CH-47 Chinook là Phi Ðoàn 237, 5 phi đoàn trang bị trực thăng UH-1 là các Phi Ðoàn 221, 223, 231, 245, 251, và Biệt Ðội 259E phụ trách tải thương cũng trang bị trực thăng UH-1.  Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Vũ Quang Triệu.

    Dưới đây là bảng liệt kê các đơn vị của Không Ðoàn 43 Chiến Thuật với tên họ các vị chỉ huy trưởng, cùng với danh hiệu và huy hiệu:

Ðơn VịChỉ Huy TrườngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 221Ðầu tiên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn TrọngLôi Vũ
Phi Ðoàn 223Trung Tá Trần Văn LuânLôi Ðiểu
Phi Ðoàn 231Trung Tá Nguyễn Hữu LộcLôi Vân
Phi Ðoàn 237Ðầu tiên: Trung Tá Hồ Bảo Ðịnh Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Phú ChínhLôi Thanh
Phi Ðoàn 245Trung Tá Nguyễn Hữu LaiLôi Bằng
Phi Ðoàn 251Trung Tá Dương Quang LễLôi Thiên
Biệt Ðội 259EÐầu tiên: Thiếu Tá Ðặng Kim Quy Cuối cùng: Thiếu Tá Huỳnh Văn Du Nhân Ái

Vào mùa hè 1972, Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức, Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn 221 (từ tháng 1-1973, là Trung Tá Không Ðoàn Phó, Không Ðoàn 64 Chiến Thuật, thuộc Sư Ðoàn 4 KQ ở Cần Thơ), là người chỉ huy tất cả các cuộc hành quân trực thăng vận (đổ quân), tiếp tế, và tải thương của Phi Ðoàn 221 cho chiến trường An Lộc.28

Không Ðoàn 63 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 63 Chiến Thuật

    Ðây là một không đoàn gồm toàn khu trục phản lực cơ F-5.  Do đó Không Ðoàn 63 Chiến Thuật cũng được biết đến dưới biệt danh (nickname) là Không Ðoàn F-5 và hồm có tất cả 6 Phi Ðoàn sử dụng phản lực cơ F-5: đó là các Phi Ðoàn 522, 536, 538 (biệt phái cho Sư Ðoàn 1 KQ tại Ðà Nẵng, như đã ghi chú bên trên), 540, 542, và 544, với danh hiệu, huy hiệu, và chỉ huy trưởng như sau:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 522Ðại Úy Nguyễn Quốc HưngThần Ưng
Phi Ðoàn 536Thiếu Tá Ðàm Thượng VũThiên Ưng
Phi Ðoàn 538Thiếu Tá Phạm ÐÌnh AnhHồng Tiễn
Phi Ðoàn 540Thiếu Tá Nguyễn Tiến ThànhHắc Ưng
Phi Ðoàn 542Thiếu Tá Trịnh Bửu QuangKim Ưng
Phi Ðoàn 544Thiếu Tá Nguyễn Văn TườngHải Ưng

Sư Ðoàn 4 Không Quân

Huy hiệu Sư Ðoàn 4 Không Quân

    Sư Ðoàn 4 KQ được thành lập vào tháng 3-1970 tại Cần Thơ với Sư Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Tá Nguyễn Huy Ánh, về sau, vào ngày 1-11-1971, vinh thăng Chuẩn Tướng. Tướng Ánh là dân chính trúng tuyển vào KQ, được gửi sang Pháp theo học các khóa huấn luyện hoa tiêu, và tốt nghiệp thủ khoa khóa 1955 với cấp bậc Thiếu Úy.  Ông cũng là một trong những phi công trực thăng đầu tiên được huấn luyện tại Hoa Kỳ. Trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 4 KQ, Tướng Ánh đã từng là Phi Ðoàn Trưởng các Phi Ðoàn trực thăng 215, 211, và Không Ðoàn Trưởng các Không Ðoàn Chiến Thuật 74 và 62.  Chuẩn Tướng Ánh tử nạn trực thăng vì công vụ ngày 27-4-1972, và được truy thăng lên cấp Thiếu Tướng 29

Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh

    Sau đó Ðại Tá Nguyễn Hữu Tần, đang giữ chức vụ Tham Mưu Phó Hành Quân tại Bộ Tư Lệnh KQ, được đề cử thay thế Thiếu Tướng Ánh làm Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 4 KQ vào cuối tháng 4-1972.  Ngày 1-4-1974, Ðại Tá Tần vinh thăng Chuẩn Tướng.  Tướng Tần tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Lợi) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh (tháng 6-1952) với cấp bậc Thiếu Úy; sau đó chuyển sang KQ, theo học và tốt nghiệp Thủ Khoa Khóa 5 Hoa Tiêu Quan Sát (1956) tại Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang.  Trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Lệnh Sư Ðoàn 4 KQ, ông đã từng giữ các chức vụ: Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn 1 và Phi Ðoàn 2 Quan Sát, Không Ðoàn Phó Không Ðoàn 62 Chiến Thuật lúc mới thành lập do Trung Tá Trần Văn Minh (sau là Trung Tướng Tư Lệnh KQ) là Không Ðoàn Trưởng.30 

Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần

    Sư Ðoàn 4 KQ gồm có 3 không đoàn là Không Ðoàn 64 Chiến Thuật, Không Ðoàn 74 Chiến Thuật, và Không Ðoàn 84 Chiến Thuật.

Không Ðoàn 64 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 64 Chiến Thuật

Không Ðoàn 64 Chiến Thuật đóng tại Cần Thơ, với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá Trương Thành Tâm (trước là Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn trực thăng 217), gồm có tất cả 3 phi đoàn và 1 biệt đội trực thăng: 2 phi đoàn trực thăng UH-1 là Phi Ðoàn 217 và Phi Ðoàn 255, 1 phi đoàn trực thăng CH-47 Chinoook là Phi Ðoàn 249, và 1 biệt đội tải thương là Biệt Ðội 259F cũng sử dụng trực thăng UH-1.

    Phi Ðoàn 217, mang danh hiệu Thần Ðiểu, là một trong những phi đoàn trực thăng đầu tiên của KQ VNCH khi chuyển từ trực thăng H-19 của KQ Pháp giao lại sang trực thăng H-34.  Thành lập tại Ðà Nẵng vào tháng 4-1964, Phi Ðoàn 217 có ban chỉ huy đầu tiên như sau: 31

  • Chỉ Huy Trưởng: Ðại Úy Ong Lợi Hồng (cấp bậc sau cùng là Ðại Tá, Sư Ðoàn Phó Sư Ðoàn 4 KQ)
  • Chỉ Huy Phó: Trung Úy Mai Văn Hải
  • Sĩ Quan Hành Quân: Thiếu Úy Nguyễn Văn Phú Hiệp
  • Sĩ Quan An Phi: Thiếu Úy Hồng Văn Tý
  • Sĩ Quan Kỹ Thuật: Chuẩn Úy Trần Phước Hội

Sau đó phi đoàn chuyển về đóng tại Tân Sơn Nhứt một thời gian rồi chuyển về và đổn trú vĩnh viễn tại phi trường Trà Nóc ở Cần Thơ. Một thời gian sau, Phi Ðoàn 217 có ban chỉ huy mới với Thiếu Tá (về sau thăng lên Trung Tá) Trương Thành Tâm làm Phi Ðoàn Trưởng và Ðại Úy Nguyễn Thanh Hải (về sau thăng lên Trung Tá, công tác tại Phòng Thanh Tra, phụ trách về An Phi, tại Bộ Tư Lệnh KQ) là Phi Ðoàn Phó. Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Nguyễn Văn Vọng. Sau khi về Trà Nóc một thời gian, Phi Ðoàn 217 chuyển sang trang bị trực thăng UH-1.

Phi Ðoàn 255, mang danh hiệu Xà Vương, là một trong những phi đoàn trực thăng UH-1 được thành lập sau cùng (đầu năm 1973) của KQ VNCH, với Phi Ðoàn Trưởng là Trung Tá Nguyễn Kim Huờn.

Phi Ðoàn 249 là phi đoàn trực thăng CH-47 Chinook được thành lập sau cùng (tháng 12-1972) của KQ VNCH, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Tống Phước Hào (về sau thăng cấp lên Trung Tá).

Ðơn vị cuối cùng của Không Ðoàn 64 Chiến Thuật là một phi đội UH-1 chuyên thực hiện các phi vụ tải thương: đó là Biệt Ðội 259F mà Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Thành Quới.

Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các đơn vị của Không Ðoàn 64 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 217Ðầu tiên: Ðại Úy Ong Lợi Hồng
Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Vọng 
Thần Ðiểu
Phi Ðoàn 249Ðầu tiên: Thiếu Tá Tống Phước Hào
Thứ nhì: Thiếu Tá Phạm Văn Trung
Cuối cùng: Thiếu Tá Phạm Xuân Việt
Mãnh Long
Phi Ðoàn 255Trung Tá Nguyễn Kim HườnXà Vương
Biệt Ðội 259FThiếu Tá Nguyễn Thành QuớiNhân Ái

Ghi chú: Thiếu Tá Phạm Văn Trung, vào KQ Khóa 63A, đã từng phục vụ tại các phi đoàn trực thăng 215, 219, 237, 241, nhậm chức Phi Ðoàn Trường Phi Ðoàn 249 (Chinook) ngày 10-12-1974, và hy sinh ngày 12-12-1974 tại chiến trường Mộc Hóa khi chiếc Chinook của ông bị trúng hỏa tiễn tầm nhiệt SA7.  Ông được truy thăng lên Trung Tá.32

Không Ðoàn 74 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 74 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 74 Chiến Thuật được thành lập tại Cần Thơ vào tháng 4-1964 với các vị Không Ðoàn Trưởng lần lượt như sau: đầu tiên là Trung Tá Trần Văn Minh (về sau là Trung Tướng Tư Lệnh KQ), thứ nhì là Trung Tá Huỳnh Bá Tinh (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 3 KQ), thứ ba là Trung Tá Nguyễn Huy Ánh (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 4 KQ), và cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Quang Ninh. Không Ðoàn 74 Chiến Thuật gồm có tất cả 5 phi đoàn:

  • 2 phi đoàn quan sát: Phi Ðoàn 116 sử dụng phi cơ O-1 Bird Dog, và Phi Ðoàn 122 sử dụng phi cơ U-17A/B Skywagon
  • 3 phi đoàn khu trục: Phi Ðoàn 520, Phi Ðoàn 526, và Phi Ðoàn 546 tất cả đều trang bị khu trục phản lực cơ A-37B Dragonfly

    Phi Ðoàn 116, mang danh hiệu Sơn Ca (trước là Thần Ưng), được thành lập vào tháng 6-1964 tại Nha Trang, sau đó chuyễn về Cần Thơ vào tháng 7-1964.  Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng (xử lý thường vụ) là Trung Tá Bùi Thanh Sử.

    Phi Ðoàn 122, mang danh hiệu Hoa Mi (trước là Thần Tiễn), được thành lập vào tháng 8-1972, với Phi Ðoàn Trưởng là Trung Tá Trần Trọng Khương.

    Phi Ðoàn 520, mang danh hiệu Thần Báo, được thành lập năm 1964 tại Biên Hòa, với Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Nguyễn Ngọc Biện, trang bị phi cơ khu trục cánh quát A-1H Skyraider, di chuyển về Cần Thơ vào giữ năm 1965, và đến năm 1968 thì chuyển sang trang bị với khu trục phản lực cơ A-37.

    Phi Ðoàn 526, mang danh hiệu Quỷ Vương, được thành lập năm 1971 tại Cần Thơ, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hải.

    Phi Ðoàn 546, mang danh hiệu Thiên Sứ, được thành lập vào cuối năm 1972, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Lê Mộng Hoan.

    Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 74 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 116Trung Tá Bùi Thanh Sử Sơn Ca
Phi Ðoàn 122Trung Tá Trần Trọng KhươngHọa Mi
Phi Ðoàn 520Ðại Úy Nguyễn Ngọc BiênThần Báo
Phi Ðoàn 526Thiếu Tá Huỳnh Hữu HảiQuỷ Vương
Phi Ðoàn 546Thiếu Tá Lê Mộng Hoan Thiên Sứ

Không Ðoàn 84 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 84 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 84 Chiến thuật, được thành lập tại Sóc Trăng sau dời về Cần Thơ, gồm có 3 phi đoàn UH-1 là các Phi Ðoàn 211, 225 và 227, và 1 biệt đội tải thương cũng sử dụng trực thăng UH-1 là Biệt Ðội 259H, với các vị chỉ huy, danh hiệu và huy hiệu như sau:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 211Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Ðức Hớn
Cuối cùng: Trung Tá Trần Quế Lâm
Thần Chùy
Phi Ðoàn 225Trung Tá Lê Văn ChâuÁc Ðiểu
Phi Ðoàn 227Trung Tá Trần Châu RếtHải Âu 
Biệt Ðội 259HThiếu Tá Nguyễn Trọng ThanhNhân Ái

Sư Ðoàn 5 Không Quân

Huy hiệu Sư Ðoàn 5 Không Quân

    Sư Ðoàn 5 KQ được thành lập vào tháng 1-1971 tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Phan Phụng Tiên, về sau, vào ngày 1-11-1972, vinh thăng Chuẩn Tướng.  Tướng Tiên tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Lợi) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh (tháng 6-1952) với cấp bậc Thiếu Úy.  Sau đó ông chuyển sang KQ. Ông tốt nghiệp Khóa 52F1 tại Marrakech, Maroc, Bắc Phi cùng với các ônh Huỳnh Hữu Hiền (về sau là Ðại Tá Tư Lệnh KQ, 1962-1963), Phạm Ngọc Sang (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 6 KQ), và Huỳnh Bá Tính (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 3 KQ). Năm 1954 ông thăng cấp Ðại Úy và làm Chỉ Huy Trưởng Phi Ðoàn 1 Vận Tải.  Ông chính là phi công trưởng lái chiếc vận tải cơ C-47 đưa Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi và các sĩ quan nhảy dù sang tị nạn chính trị tại Cao Miên sau khi cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 thất bại.  Sau khi cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 thành công, ông trở về nước, thăng cấp Thiếu Tá.  Năm 1968, ông thăng cấp Ðại Tá và được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Tân Sơn Nhứt sau khi Ðại Tá Lưu Kim Cương tử trận.33 

Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên

    Sư Ðoàn 5 KQ gồm có hai không đoàn: Không Ðoàn 33 Chiến Thuật và Không Ðoàn 53 Chiến Thuật.

Không Ðoàn 33 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 33 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 33 Chiến Thuật, đóng tại Tân Sơn Nhứt, được thành lập vào tháng 1-1964 với Chỉ Huy Trưởng lần lượt là các sĩ quan cao cấp sau đây:

  • Ðại Tá Hà Xuân Vịnh
  • Ðại Tá Phạm Ngọc Sang
  • Trung Tá Lưu Kim Cương
  • Ðại Tá Dương Thiệu Hùng
  • Ðại Tá Phan Phụng Tiên
  • Ðại Tá Bùi Ðức Mỹ  

Không Ðoàn 33 gồm có tất cả 5 phi đoàn và 1 biệt đội: Phi Ðoàn đặc nhiệm 314, 2 Phi Ðoàn vận tải 429 và 431, 2 Phi Ðoàn không thám điện tử 716 và 718, và Biệt Ðội tải thương 259G.

    Phi Ðoàn đặc nhiệm 314, mang danh hiệu Thần Tiễn, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Trí, trên nguyên tắc là một phi đoàn vận tải, sử dụng một số phi cơ vận tải như C-47, DC-6B, nhưng trên thực tế đây là một phi đoàn đặc nhiệm chuyên phụ trách việc chuyên chở các yếu nhân chính trị và quân sự của chính phủ VNCH.    Do đó trong giới KQ người ta thường gọi Phi Ðoàn 314 là Phi Ðoàn VIP (chữ tắt tiếng Anh mà giới truyền thông Hoa Kỳ thường sử dụng: Very Important Persons = Những Người Rất Quan Trọng).34  

Phi cơ C-47 của Phi Ðoàn 314 Thần Tiễn

Phi cơ DC-6B của Phi Ðoàn 314 Thần Tiễn

    Hai Phi Ðoàn 429 và 431, cùng với Phi Ðoàn 427 (đã đề cập đến trong phần về Sư Ðoàn 1 KQ bên trên) đều là các phi đoàn vận tải sử dụng phi cơ C-7A Caribou.  Cả 3 phi đoàn này đều được thành lập tại Căn Cứ KQ Phù Cát, thuộc tỉnh Bình Ðịnh, đầu tiên là Phi Ðoàn 427 (tháng 2-1972), kế đến là Phi Ðoàn 429 (tháng 4-1972), và sau cùng là Phi Ðoàn 431 (tháng 6-1972).  Tháng 6-1972, Phi Ðoàn 427 di chuyển ra đóng tại Căn Cứ Ðà Nẵng và trực thuộc Không Ðoàn 41 của Sư Ðoàn 1 KQ.  Phi Ðoàn 429, có danh hiệu là Sơn Long, với Chỉ Huy Trưởng là Trung Tá Cung Thăng An, Chỉ Huy Phó là Trung Tá Nguyễn Viết Xương; tháng 4-1973, phi đoàn di chuyển về Căn Cứ Tân Sơn Nhứt và trực thuộc Không Ðoàn 33 Chiến Thuật.  Phi Ðoàn 431, có danh hiệu là Phương Long, với Chì Huy Trưởng là Trung Tá Nguyễn Viết Xương (từ Phi Ðoàn 429 chuyển sang), Chỉ Huy Phó là Thiếu Tá Huỳnh Ngọc Nghĩa, và Trưởng Phòng Hành Quân là Thiếu Tá Nguyễn Ðình Thảo; tháng 11-1972, phi đoàn di chuyển về Căn Cứ Tân Sơn Nhứt và trực thuộc Không Ðoàn 33 Chiến Thuật.35  

    Hai Phi Ðoàn 716 và 718 là những phi đoàn không thám điện tử, tuy là các đơn vị của Sư Ðoàn 5 KQ, nhưng thật ra là những phi đoàn đặt dưới sự điều động của Ðơn Vị 17 của Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu (đặc trách về tình báo tín hiệu –Signal Intelligence hay SIGINT–).36  

    Phi Ðoàn 716 sử dụng phi cơ U-6A Beaver là một kiểu đã được thiết kế lại của phi cơ quan sát L-20 của hảng de Havilland (Canada) như trong hình sau đây:

Phi cơ U-6A Beaver

    Phi cơ U-6A Beaver mang những đặc tính như sau:

  • Chiều dài: 9,24 m
  • Sải cánh: 14,63 m 
  • Chiều cao: 2,74 m
  • Trọng lượng: 1.293 kg
  • Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt Pratt & Whitner loại R-985-AN, với sức đẩy 450 mã lực
  • Vận tốc: bình phi 177 km/giờ, tối đa 225 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 1.239 km
  • Phi hành đoàn: 1 phi công 
  • Trang bị hỏa lực: không có

Phi Ðoàn 718 được chính thức thành lập vào năm 1973 tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt với ban chỉ huy như sau: 37

  • Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Nguyễn Hữu Bách
  • Phi Ðoàn Phó: Thiếu Tá Phan Văn Lộc
  • Phụ trách Ðiều Hành Viên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Thắng

Phi Đoàn 718 thực hiện các phi vụ không thám điện tử (thường có thời gian từ 3 đến 5 giờ đồng hồ), là một phi đoàn có quân số lớn nhất với hơn 500 quân nhân các cấp và 36 phi cơ EC-47 được trang bị với hệ thống ALR-34. Phi hành đoàn âm thầm thi hành nhiệm vụ, không bao giờ tiết lộ việc hành quân kể cả người thân. Nhân viên Phi Đoàn 718 phải qua máy nói sự thật (Polygragh test) và tuân theo những luật lệ đặc biệt như phải giữ bí mật về hoạt động và nhất là không được chụp ảnh của phi cơ bất luận bên trong hay bên ngoài. Vì lý do nầy hình ảnh hoạt động của Phi Đoàn 718 rất hiếm.

Phi cơ EC-47D Dakota

    Phi cơ EC-47D Dakota chính là một dạng phi cơ quân sự, được đặc biệt trang bị thêm các máy móc điện tử dùng trong không thám điện tử, của phi cơ DC-3 Dakota của hảng Douglas nổi tiếng là chiếc phi cơ được thiết kế thành công nhứt trong lịch sử hàng không thế giới (hiện nay DC-3 là phi cơ đang còn được sử dụng có tuổi đời cao nhứt thế giới –ra đời từ năm 1936– ; vào năm 2013 người ta ước lượng vẫn còn có khoảng 2.000 chiếc DC-3 còn đang được sử dụng trên khắp thế giới).  

    Phi cơ EC-47D Dakota mang những đặc tính như sau: 38

  • Chiều dài: 19,43 m
  • Sải cánh: 29,41 m
  • Chiều cao: 5,18 m
  • Trọng lượng: 8.226 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney R-1830-90C, 1,200 mả lực mổi cái
  • Vận tốc: 380 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 2,575 km
  • Cao độ tối đa: 8.045 m
  • Phi hành đoàn: 3
  • Trang bị: không trang bị vũ khí, chỉ có 16 trái khói ở sau đuôi đề chống hỏa tiển tầm nhiệt SA7; bên trong phi cơ trang bị các máy móc điện tử để truy tầm và chận bắt các mẫu truyền tin của địch quân, và đặc biệt là để truy tầm và định vị các máy phát tín hiệu của địch quân thường được gọi tắt là ARDF (airborne radio direction finding), chuyện này rất quan trọng vì máy phát tín hiệu thường là bên cạnh các vị chỉ huy các đơn vị tác chiến ngay tại chiến trường. Sau khi xác định được đường kính của khu vực mục tiêu (khoàng 300 m), các oanh tạc cơ (có khi là cả phi cơ B-52) sẽ được gọi đến để thanh toán mục tiêu.    

Biệt Ðội tải thương 259G, cũng như tất cả các biệt đội thuộc Phi Ðoàn 259, sử dụng phi cơ trực thăng UH-1.

Bên dưới là bảng liệt kê danh hiệu và huy hiệu của các phi đoàn thuộc Không Ðoàn 33 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 314Trung Tá Ðặng Ngọc HiểnThần Tiễn
Phi Ðoàn 429Trung Tá Cung Thăng AnSơn Long
Phi Ðoàn 431Trung Tá Nguyễn Viết XươngPhương Long
Phi Ðoàn 716Ðầu tiên: Thiếu Tá Nguyễn Anh Tuấn
Cuối cùng: Trung Tá Huỳnh Minh Thoại
Hoàng Long
Phi Ðoàn 718Trung Tá Nguyễn Hữu Bách Thiên Long
Biệt Ðội 259GThiếu Tá Trần Quang VõNhân Ái

Không Ðoàn 53 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 53 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 53 Chiến Thuật, với Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Huỳnh Văn Hiến, cũng đồn trú tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt, gồm có tất cả 8 phi đoàn: 

  • 6 phi đoàn vận tải:
  • Phi Ðoàn 413 sử dụng phi cơ C-119 Flying Boxcar; 
  • 3 Phi Ðoàn 421, 423, và 425 sử dụng phi cơ C-123 Provider 
  • 2 Phi Ðoàn 435 và 437 sử dụng phi cơ C-130 Hercules  
  • 2 phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunships, hay cường kích, hỏa long) là Phi Ðoàn 819 với phi cơ AC-119G Shadow và Phi Ðoàn 821 với phi cơ AC-119K Stinger.

Phi Ðoàn 413, mang danh hiệu Xích Long, tiếp nhận 16 phi cơ C-119G vào năm 1968, hoạt động được 3 năm và bị giải tán vào cuối năm 1971, tất cả nhân viên của phi đoàn được điều sang Phi Ðoàn 821 sử dụng phi cơ AC-119K Stinger

Phi Ðoàn 421 được thành lập vào tháng 4-1971 với Phi Ðoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Quế Sơn.  Phi Ðoàn 423 được thành lập vào tháng 7-1971 với Phi Ðoàn Trưởng là Thiếu Tá Mạc Hữu Lộc.  Phi Ðoàn 425 được thành lập vào tháng 12-1974 với Phi Ðoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Thế Thân.  Mổi phi đoàn đều được trang bị 16 chiếc C-123K.  Sau 2 năm hoạt động tổng cộng có tất cả 10 chiếc trong tổng số 48 chiếc C-123K Provider của 3 phi đoàn này đã bị rớt, trong đó có 4 chiếc bị hỏa lực địch bắn hạ.  Cả 3 phi đoàn này bị giải tán vào đầu năm 1973 và toàn bộ phi cơ C-123 đã bị trả lại cho quân đội Mỹ.39

Hai Phi Ðoàn 435 và 437 đều được trang bị giống nhau: mổi phi đoàn 16 chiếc vận tải cơ C-130 Hercules.

Phi cơ C-119 Flying boxcar là loại phi cơ vận tải với 2 động cơ cánh quạt do công ty Fairchild sản xuất như hình dưới đây: 

Phi cơ vận tải C-119 Flying Boxcar

Phi cơ C-119 Flying Boxcar mang những đặc tính như sau: 40

  • Chiều dài: 26,37 m
  • Sải cánh: 33,3 m 
  • Chiều cao: 8,08 m
  • Trọng lượng: 18.053 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney loại 28 xy-lanh R-4360-20W, với sức đẩy 3.500 mã lực mỗi cái
  • Vận tốc: bình phi 174 km/giờ, 242 km/giờ
  • Cao độ tối đa: 7.300 m
  • Tầm hoạt động: 2.849 km
  • Phi hành đoàn: 5 người gồm 2 phi công, 1 điều hành viên (navigator), 1 truyền tin (radio operator), và 1 crew chief 
  • Khả năng vận chuyển: 

. người: 67 binh sĩ, hoặc 35 cáng thương binh 

. hàng hóa: 12.500 kg

    Phi cơ C-123 Provider cũng là 1 phi cơ vận tải với hai động cơ cánh quạt do công ty Fairchild sản xuất như trong hình dưới đây:

Phi cơ vận tải C-123 Provider

    Phi cơ C-123 Provider mang những đặc tính như sau: 41

  • Chiều dài: 23,25 m
  • Sải cánh: 33,53 m 
  • Chiều cao: 10,39 m
  • Trọng lượng: 16.042 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney loại R-2800-99W, với sức đẩy 2.500 mã lực mỗi cái; và 2 động cơ bán phản lực General Electric loại J85-GE-17 turbojet, với sức đẩy 2.850 lbf mỗi cái
  • Vận tốc: bình phi 278 km/giờ, 367 km/giờ
  • Cao độ tối đa: 6.430 m
  • Tầm hoạt động: 1.666 km
  • Phi hành đoàn: 4 người  
  • Khả năng vận chuyển: 

. Người: 60 binh sĩ, hoặc 50 cáng thương binh 

. Hàng hóa: 11.000 kg

Phi cơ C-130 Hercules là phi cơ vận tải lớn nhứt, với bốn động cơ cánh quạt, được Hoa Kỳ chuyển giao cho KQ VNCH trong kế hoạch Enhance Plus sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết vào đầu năm 1973:

Phi cơ vận tải C-130A Hercules

    Phi cơ C-130A Hercules mang những đặc tính như sau: 42

  • Chiều dài: 29, m
  • Sải cánh: 40,4 m 
  • Chiều cao: 11,6 m
  • Trọng lượng: 34.400 kg
  • Ðộng cơ: 4 động cơ cánh quạt loại Allison T56-A-15 turboprops, với sức đẩy 4590 mã lực mỗi cái
  • Vận tốc: bình phi 540 km/giờ, tối đa 592 km/giờ
  • Cao độ tối đa: 7.700 m
  • Tầm hoạt động: 3.800 km
  • Phi hành đoàn: 5 người gồm 2 phi công, 1 điều hành viên (navigator), 1 cơ phi, 1 phụ trách cất hàng (loadmaster) 
  • Khả năng vận chuyển: 

. người: 92 hành khách, hoặc 64 binh sĩ nhảy dù, hoặc 74 cáng thương binh với 5 nhân viên quân y.

. xe cộ: 2-3 xe jeep loại Humvees, hoặc 2 thiết vận xa M113, hoặc 1 đại bác 155 mm loại Caesar self-propelled howitzer

    Phi Ðoàn 821, một phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunships, hay hỏa long hay cường kich), mang danh hiệu Tinh Long, được thành lập khoảng đầu năm 1973 tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt, khi Không Lực Hoa Kỳ chuyển giao tất cả phi ơ AC-119K cho KQ VNCH theo Chương trình “Enhance Plus” sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết.  Ngoài các phi đội đóng tại Tân Sơn Nhứt để yểm trợ cho Vùng III và Vùng IV, Phi Ðoàn 821 còn có thêm 2 Biệt đội, một đóng tại Ðà Nẵng để yểm trợ cho Vùng I và một Biệt Ðội đóng tại Phù Cát để yểm trợ cho Vùng II; sau vụ triệt thoái của Quân Ðoàn II giữa tháng 3-1975, Biệt Ðội đóng tại Phù Cát phải di chuyển về Phan Rang, và vài ngày sau thì di chuyển về Tân Sơn Nhứt luôn.  Phi Ðoàn 821 gồm có một ban chỉ huy như sau: 43, 44

  • Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Hoàng Nuôi
  • Phi Ðoàn Phó: Thiếu Tá Nguyễn Minh Nhựt
  • Sĩ quan hành quân: Thiếu Tá Nguyễn Hồng Sơn (Sơn voi)
  • Sĩ quan huấn luyện: Ðại Úy Nguyễn Văn Chẩn
  • Sĩ quan an phi: Ðại Úy Nguyễn Trọng Quỳnh (thay cho Ðại Úy Nguyễn Phúc Hải tử nạn trong một phi vụ huấn luyện)

Phi Ðoàn 821 gồm khoảng 300 nhân viên bao gồm các hoa tiêu (phi công chánh và phụ), điều hành viên, cơ phi, chuyên viên hỏa châu và xạ thủ đại liên.  Các phi vụ của Phi Ðoàn Tinh Long 821 luôn luôn được thực hiện vào ban đêm để yểm trợ cho các xã ấp, quận ly, tiền đồn, hẻo lánh, xa xôi đang bị Cộng quân lợi dụng việc tiếp viện khó khăn để tấn công và mưu toan tràn ngập. 

Phi Ðoàn Tinh Long 821 được trang bị phi cơ AC-119K Stinger mang những đặc tính sau đây: 45

  • Chiều dài: 26,36 m
  • Sải cánh: 33,31 m
  • Chiều cao: 8,13 m
  • Trọng lượng: 36.468 kg
  • Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Wright R-3350s, 3.500 mả lực mổi cái; và 2 turbojet General Electric J85-GE-17, sức đẩy 1.293 kg mổi cái 
  • Vận tốc: 330 km/giờ
  • Tầm hoạt động: 5 giờ đồng hồ
  • Cao độ tối đa: 2.133 m
  • Phi hành đoàn: 10 người gồm 1 phi công chánh, 1 phi công phụ, 1 điều hành viên (navigator), 1 quan sát viên (night observation sight NOS operator), 1 chuyên viên radar, 1 cơ phi, 1 chuyên viên hỏa châu, và 3 xạ thủ đại liên
  • Trang thiết bị và hỏa lực hỏa lực: 

­ 4 khẩu đại liên 7,62 mm loại SUU-11A với 21.500 viên đạn; về sau được thay bằng loại MXU-470/A

­ 2 khẩu đại liên 20 mm loại M61-A1 với 3.000 viên đạn (hai  loại đại liên này đều được điều khiển bằng máy vi tính)

­ 24 hỏa châu loại MK-24 với máy phóng LAU-74/A 

      ­ 1 đèn rọi có độ sáng 1,5 triệu nến   

­ 3 loại máy radar: APQ-136 (forward looking radar), AAD-4 (forward looking infrared radar), và AN/APQ-133 (beacon tracking radar)

­ máy chống radar địch APR-25/26 (electronic countermeasures (ECM) warning device)

    Trong tháng 4-1975, cũng như một số đơn vị khác của Sư Ðoàn I đã di tản về đồn trú tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt, Phi Ðoàn 821 vẫn còn tiếp tục chiến đấu và hy sinh trong ngày cuối cùng của cuộc chiến như trong bài viết sau đây: 46

“… Khoảng 7 giờ sáng ngày 29 tháng 4, Tinh Long 7, chiếc AC-119K cuối cùng, đang tiêu diệt VC ở vòng đai phi trường Tân Sơn Nhât, bị trúng hỏa tiễn SA-7 bốc cháy và nổ tung trên bầu trời, phi hành đoàn hy sinh… “

    Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 53 Chiến Thuật:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 413Chưa tìm đượcXích Long
Phi Ðoàn 421Thiếu Tá Nguyễn Quế SơnChưa tìm được
Phi Ðoàn 423Thiếu Tá Mạc Hữu LộcChưa tìm được
Phi Ðoàn 425Thiếu Tá Nguyễn Thế ThânChưa tìm được
Phi Ðoàn 435Trung Tá Lâm Văn PhiếuChưa tìm được
Phi Ðoàn 437Trung Tá Mạc Mạnh CầuChưa tìm được
Phi Ðoàn 819Ðầu tiên: Thiếu Tá Ðặng Văn Ðức
Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Hồng 
Hắc Long
Phi Ðoàn 821Trung Tá Hoàng NuôiTinh Long

Sư Ðoàn 6 Không Quân

Huy hiệu Sư Ðoàn 6 Không Quân

    Sư Ðoàn 6 Không Quân được thành lập vào tháng 6-1972 tại Pleiku, về sau, sau khi Ban Mê Thuột thất thủ và Quân Ðoàn II phải triệt thoái khỏi Pleiku giữa tháng 3-1975, phải di chuyển về Phan Rang.  Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Phạm Ngọc Sang, về sau, vào ngày 1-4-1974, vinh thăng Chuẩn Tướng.  Tướng Sang tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Văn Duyệt) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức (tháng 6-1952) vơi cấp bậc Thiếu Úy.  Tháng 10-1952, ông trúng tuyển vào KQ, được gởi sang Pháp và Maroc theo học các khóa hoa tiêu vận tải, và thăng cấp Trung Úy trong thời gian này.  Ðầu năm 1955 ông về nước và tháng 10 thăng cấp Ðại Úy và giữ chức vụ Chỉ Huy Trường Phi Ðội liên lạc (tiền thân của Phi Ðoàn đặc vụ 314 sau này).  Trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 6 KQ, ông đã từng giữa các chức vụ: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang và Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 33 Chiến Thuật tại Tân Sơn Nhứt.47  

Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang

    Sư Ðoàn 6 Không Quân gồm có hai không đoàn là Không Ðoàn 72 Chiến Thuật và Không Ðoàn 82 Chiến Thuật.

Không Ðoàn 72 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 72 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 72 Chiến Thuật, đồn trú tại Pleiku, với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Lê Bá Ðịnh và cuối cùng là Trung Tá Lê Văn Bút (trước là Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn trực thăng 229), gồm có các phi đoàn sau đây: Phi Ðoàn quan sát 118, 2 Phi Ðoàn trực thăng 229 và 235, Phi Ðoàn khu trục 530, và Biệt Ðội tải thương 259B, với các vị chỉ huy, danh hiệu và huy hiệu như sau:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 118Ðầu tiên: Thiếu Tá Võ Công Minh
Thứ nhì: Trung Tá Võ Ý
Cuối cùng (XLTV): Nguyễn Văn Ðược
Bắc Ðẩu
Phi Ðoàn 229Ðầu tiên: Trung Tá Lê Văn Bút
Cuối cùng: Trung Tá Ðoàn Văn Quang
Lạc Long
Phi Ðoàn 235Ðầu tiên: Thiếu Tá Vĩnh Quốc
Cuối cùng: Trung Tá Huỳnh Hải Hồ
Sơn Dương
Phi Ðoàn 530Ðầu tiên: Thiếu Tá Lê Bá Ðịnh
Thứ nhì: Thiếu Tá Nguyễn Văn Mười
Cuối cùng: Thiếu Tá Bạch Diễn Sơn
Thái Dương
Biệt Ðội 259BÐại Úy Trịnh Viết HảoNhân Ái

Không Ðoàn 82 Chiến Thuật

Huy hiệu Không Ðoàn 82 Chiến Thuật

    Không Ðoàn 82 Chiến Thuật, đồn trú tại Căn Cứ KQ Phù Cát (Bình Ðịnh), với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Nguyễn Văn Trương, gồm có các phi đoàn sau đây: Phi Ðoàn 241 với trực thăng CH-47 Chinook, Phi Ðoàn 243 với trực thăng UH-1, Phi Ðoàn 532 với khu trục phản lực cơ A-37, và Biệt Ðội tải thương 259A với trực thăng UH-1, với các vị chỉ huy, hanh hiệu và huy hiệu như sau:

Ðơn VịChỉ Huy TrưởngDanh HiệuHuy Hiệu
Phi Ðoàn 241Trung Tá Ðỗ Văn HiếuThiên Bằng
Phi Ðoàn 243Ðầu tiên: Trung Tá Nguyễn Văn Thân
Cuối cùng: Trung Tá Huỳnh Văn Bông
Mãnh Sư
Phi Ðoàn 532Thiếu Tá Lê TraiGấu Ðen
Biệt Ðội 259AThiếu Tá Nguyễn Hữu NghềNhân Ái

Trong 6 vị tướng Sư Ðoàn Trưởng của 6 sư đoàn KQ VNCH, Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang là vị tướng duy nhứt bị địch quân bắt làm tù binh ngay tại mặt trận ở Phan Rang vào ngày 16-4-1975, như lời kể lại sau đây của chính ông trong một bài viết về trận Phan Rang: 48

“… Lúc 9 giờ tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời Thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Tr/Tướng Nghi, Ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị địch bắt. Chúng dẫn 3 chúng tôi ngược về Nha Trang sáng hôm sau. Trên đường tôi thấy rất nhiều xe địch nằm la liệt dọc hai bên đường, và từng nhóm đồng bào ngơ ngác, thất thiểu, lang thang đi ngược trở về. Tôi bổng cảm nhận rất có tội đối với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành. Ở tại Đồn điền Yersin 2 ngày, chúng đưa chúng tôi ra Đà Nẳng bằng đường bộ. Tại đây, ngày 22.4.1975 chúng đem phi cơ chở chúng tôi ra Bắc, giam tại nhà giam Sơn Tây nơi từng giam giữ tù binh Mỹ. Chúng thả Ông Lewis vào tháng 8.1975, Tr/Tướng Nghi vào năm 1988 và tôi năm 1992….”

Các Ðơn Vị Hỗ Trợ

    Ngoài các Không Ðoàn Chiến Thuật như đã trình bày trên đây, mỗi Sư Ðoàn KQ đều có một bộ chỉ huy (gọi là “Sư Ðoàn Bộ”) với đầy đủ các phòng ban tham mưu (Kế hoạch, An phi, Nhân viên, Tài Chánh, Chiến tranh Chính trị…) và một số Không Ðoàn phụ thuộc như sau:

  • 1 Không Ðoàn Bảo Trì & Tiếp Liệu, mang phiên hiệu như sau:
  • Sư Ðoàn 1: Không Ðoàn 10 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại  Căn Cứ Ðà Nẵng, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Bình Trứ (mất tích vào lúc Ðà Nẵng thất thủ)
  • Sư Ðoàn 2: Không Ðoàn 20 Bảo Trì & Tiếp Liệu tại Căn Cứ Nha Trang 
  • Sư Ðoàn 3: Không Ðoàn 30 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Biên Hòa, với Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Hoành (không rõ họ) 
  • Sư Ðoàn 4: Không Ðoàn 40 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Bình Thủy (Cần Thơ)
  • Sư Ðoàn 5: Không Ðoàn 50 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Tân Sơn Nhứt
  • Sư Ðoàn 6: Không Ðoàn 60 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Cù Hanh (Pleiku), với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá Ðỗ Hữu Sung 
  • 1 (hoặc 2) Không Ðoàn Yểm Cứ, tùy theo số căn cứ có trong khu vực trách nhiệm của Sư Ðoàn:
  • Sư Ðoàn 1: Không Ðoàn Yểm Cứ Ðà Nẵng
  • Sư Ðoàn 2: Không Ðoàn Yểm Cứ Nha Trang, và Không Ðoàn Yểm Cứ Phan Rang với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Trần Ðình Giao
  • Sư Ðoàn 3: Không Ðoàn Yểm Cứ Biên Hòa, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Phùng Văn Chiêu
  • Sư Ðoàn 4: Không Ðoàn Yểm Cứ Bình Thủy (Cần Thơ), với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá (sau lên Ðại Tá) Bùi Quan Khương
  • Sư Ðoàn 5: Không Ðoàn Yểm Cứ Tân Sơn Nhứt, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Trung Sơn
  • Sư Ðoàn 6: Không Ðoàn Yểm Cứ Pleiku, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Phạm Bá Mạo (cùng bị địch bắt làm tù bình cùng với Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang tại Phan Rang) và Không Ðoàn Yểm Cứ Phù Cát với Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Phạm Hữu Phương. 

Mỗi Không Ðoàn Bảo Trì & Tiếp Liệu sẽ có một số Liên Ðoàn về Bảo Trì, Tiếp Liệu và Vũ Khí Ðạn Dược.  Mỗi Không Ðoàn Yểm Cứ sẽ có một số Liên Ðoàn Trợ lực và Phòng Thủ.

Sơ đồ tổ chức của Sư Ðoàn 3 KQ được trình bày sau đây để minh họa cho cơ cấu tổ chức của một Sư Ðoàn Không Quân của VNCH: 





Sơ đồ tổ chức Sư Ðoàn 3 KQ VNCH

(Nguồn: Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, tr. 165)

    Ngoài các đại đơn vị là 6 Sư Ðoàn KQ vừa trình bày bên trên, Không Lực VNCH còn có 3 đại đơn vị tương đương cấp sư đoàn nữa là:

    – Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân, đồn trú tại Căn Cứ Không Quân Biên Hòa, với Chỉ Huy Trưởng (từ đầu đến cuối) là Chuẩn Tướng Từ Văn Bê.  

    – Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, tại Căn Cứ Không Quân Nha Trang, với Chỉ Huy Trưởng cuối cùng là Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Oánh (Chuẩn Tướng Oánh cũng chính là vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trung Tâm khi người Pháp giao lại cho Không Quân VN vào ngày 1-7-1955, lúc ông còn mang cấp bậc Ðại Úy).

    – Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân, tại Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt, với Chỉ Huy Trưởng sau cùng là Ðại Tá Vũ Văn Ước. 

Thay Lời Kết

    Không Quân là một quân chủng rất quan trọng của QLVNCH và đã tham gia chiến đấu rất tích cực cũng như đóng góp không ít xương máu trong cuộc chiến bảo vệ tự do cho Miền Nam trong suốt 20 năm.  Cùng với các quân chủng khác của QLVNCH, với viện trợ của Hoa Kỳ, KQ đã phát triển thành một lực lượng hùng hậu, đáng kể so với các nước trên thế giới.  Rất tiếc, vào những năm tháng cuối của cuộc chiến, vì quân viện từ phía Hoa Kỳ bị cắt giảm nghiêm trọng, các Sư Ðoàn KQ đã không còn đủ khả năng yểm trợ tích cực cho các đơn vị của QLVNCH như trước nữa. Việc hy sinh vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến của một phi hành đoàn AC-119K của Phi Ðoàn 821 Tinh Long tại Tân Sơn Nhứt (29-4-1975) và việc bị địch quân bắt làm tù binh (trong khi ông có thừa phương tiện để thoát thân) của Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 6 KQ tại Phan Rang (16-4-1975) là những điểm son tiêu biểu cho tinh thần cùng chiến đấu và cùng hy sinh với các lực lượng bạn của các chiến sĩ KQ VNCH.    

Ghi Chú:

  1. Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Melbourne: Lý Tưởng Úc Châu, 2005.  Những thông tin tổng quát về lịch sử hình thành và phát triển của các ngành của Không Quân VNCH (quan sát, vận tải, khu trục, và trực thăng), cũng như những thông tin chi tiêt (ngày tháng thành lập, tên họ và cấp bậc của các vị chỉ huy trưởng) về các đơn vị (sư đoàn, không đoàn, phi đoàn, biệt đội) trong tài liệu này đã được sử dụng rất nhiều trong suốt bài viết này.   
  2. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.  San Jose, Calif.: Hương Quê, 2011.  Tr. 391-392.  
  3. Nguyễn Hữu Thiện.  Ngành khu trục trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/content.php?4149-Ng%C3%A0nh-Khu-Tr%E1%BB%A5c-trong-Kh%C3%B4ng-L%E1%BB%B1c-Vi%E1%BB%87t-Nam-C%E1%BB%99ng-H%C3%B2a. Tài liệu này ghi là lúc tốt nghiệp, về nước năm 1957, gia nhập Phi Ðoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát (tiền thân của Phi Ðoàn 514), ông Nguyễn Ðức Khánh chỉ mới mang cấp bậc Chuẩn Úy.
  4. Trần Mạnh Khôi.  Sơ lược về sự thành lập các đơn vị Không Quân, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9293-S%C6%A1-l%C6%B0%E1%BB%A3c-v%E1%BB%81-s%E1%BB%B1-th%C3%A0nh-l%E1%BA%ADp-c%C3%A1c-%C4%91%C6%A1n-v%E1%BB%8B-Kh%C3%B4ng-Qu%C3%A2n  Tài liệu này cung cấp nhiều chi tiết quý hiềm về ngày tháng thành lập cũng như tên họ và cấp bậc của các vị chỉ huy của đơn vị của KQVNCH, và sẽ được sử dụng nhiều lần trong bài viết này. 
  5. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 529.  Theo tài liệu này, ông Phạm Long Sửu sinh tháng 11-1925 tại Hà nội, tốt nghiệp khóa huấn luyện hoa tiêu tại Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang, cấp bậc sau cùng là Ðại Tá.  Sau ngày 30-4-1975, bị tù 13 năm tại VN.  Sau khi sang Hoa Kỳ theo diện HO, ông định cư tại thành phố Glandale, tiểu bang California, và mất năm 2011, thọ 86 tuồi.
  6. Nguyễn Hữu Thiện.  Ngành khu trục trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu đã dẫn, cho biết thêm một số chi tiết về ông Phạm Long Sửu như sau: ông đậu thủ khoa Khóa 1 Hoa Tiêu Quan Sát tại Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang, sau đó được gửi sang Pháp học lái phi cơ khu trục và phản lực tại Salon-de-Provence, và Mecknès, Maroc (Bắc Phi); khi đang mang cấp bậc Ðại Úy, ông trở thành Phi Ðoàn Trường đầu tiên của Phi Ðoàn 2 Khu Trục tại Nha Trang (năm 1964 chuyển ra Ðà Nẵng; tiền thân của Phi Ðoàn 516 Phi Hổ).  Tài liệu này sẽ được sử dụng nhiều trong bài viết này khi đề cập đến các phi đoàn khu trục. 
  7. Nguyễn Hữu Thiện, “Phiên hiệu của các Phi Ðoàn Trong KQVN”, trong Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 352-353 
  8. Võ Ý.  Ngành quan sát không lực VNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?9282-Ng%C3%A0nh-Quan-S%C3%A1t-Kh%C3%B4ng-L%E1%BB%B1c-VNCH&s=cfaed16e0f4ddef9f7e5c62fb3a85ee2  Tài liệu này, mà tác giả đã từng là Phi Ðoàn Trường Phi Ðoàn Quan Sát 118 Bắc Ðẩu, cung cấp khá đầy đủ thông tin về ngành quan sát của KQ VNCH dựa vào một số tài liệu tham khảo cũng như đóng góp của các vị niên trưởng trong KQ.  Tài liệu này sẽ được sử dụng nhiều trong bài viết này khi đề cập đến các phi đoàn quan sát.  
  9. Cessna O-1 Bird Dog, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://en.wikipedia.org/wiki/Cessna_O-1_Bird_Dog
  10. U-17 A/B Skywagon, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://www.redstar.gr/Foto_red/Eng/HAF/HAF_U17.html
  11. Phạm Văn Cần.  Phi Ðoàn 427 – C-7A- Caribou: không vận chiến thuật, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9466-Phi-%C4%91o%C3%A0n-427-c-7a-caribou
  12. De Havilland Canada DHC-4 / C-7 Caribou, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://nhungdoicanh.blogspot.ca/2008/08/de-havilland-canada-dhc-4-c-7-caribou.html
  13. Ðỗ Văn Hiếu. Ngành trực thăng trong Không Lực Việt N am Cộng Hòa,  tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9287-Ng%C3%A0nh-Tr%E1%BB%B1c-Th%C4%83ng-Trong-Kh%C3%B4ng-L%E1%BB%B1c-Vi%E1%BB%87t-Nam-C%E1%BB%99ng-H%C3%B2a  Tài liệu này sẽ được sử dụng nhiều trong bài viết này khi đề cập đến các phi đoàn trực thăng.
  14. Sikorsky H-34, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Sikorsky_H-34#Specifications_.28H-34_Choctaw.29
  15. Boeing CH-47 Chinook, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://vietnamwar.wikia.com/wiki/Boeing_CH-47_Chinook
  16. Frankum, Ronald B.  Historical dictionary of the War in Vietnam.  Lanham, Md.: ScarecrowPress, 2011.  Tr. 196-200.
  17. Nguyễn Kỳ Phong.  Từ điển Chiến Tranh Việt Nam, 1954-1975.  Garden Grove, Calif.: Tự Lực, 2009.  Tr. 421-423
  18. Bell UH-1 Iroquois, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://en.wikipedia.org/wiki/Bell_UH-1_Iroquois
  19. Cessna A-37 Dragonfly, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://en.wikipedia.org/wiki/Cessna_A-37_Dragonfly
  20. Northrop F-5A Freedom Fighter, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://www.wmof.com/f5a.htm
  21. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd,tr. 403.
  22. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 179-180.
  23. Douglas AC-47 Spooky, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://en.wikipedia.org/wiki/Douglas_AC-47_Spooky#Specifications_.28AC-47.29
  24. Bùi Tá Khánh.  “Chuyến bay tử thần vào Ðồi 31 Hạ Lào”, trong Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 281-284.
  25. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd,tr. 450.
  26. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd,tr. 363-365.
  27. Douglas A-1 Skyraider, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://en.wikipedia.org/wiki/Douglas_A-1_Skyraider#Specifications_.28A-1H_Skyraider.29
  28. Nguyễn Văn Ức.  Phi Ðoàn 221 trực thăng,  tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://hoiquanphidung.com/showthread.php?18598-Phi-%C4%90o%C3%A0n-221-Tr%E1%BB%B1c-Th%C4%83ng
  29. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd,tr. 247-248.
  30. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd,tr. 428-429.
  31. Trần Phước Hội.  Thành lập Phi Ðoàn 217: giai đoạn H-34, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9448-Th%C3%A0nh-l%E1%BA%ADp-Phi-%C4%90o%C3%A0n-217
  32. Cố Trung Tá Phạm Văn Trung PÐT PÐ 249, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://hoiquanphidung.com/showthread.php?2061
  33. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd,tr. 449.
  34. Thành-Giang.  Hoa không gian 1: những chị Hằng của Phi Ðoàn 314, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?21896-Hoa-Kh%C3%B4ng-Gian-1-Nh%E1%BB%AFng-ch%E1%BB%8B-H%E1%BA%B1ng-c%E1%BB%A7a-Phi-%C4%90o%C3%A0n-314
  35. Thành-Giang.  Phi Ðoàn 431 Phượng Long, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://lhccshtd.org/LHCCSHTD_SH/kq/thanhgiang/2015/pd431/LSCCSHTD_SH_kq_thanhgiang_2015_pd431_hashPD431PhuongLong_2015AUG09.htm
  36. Lâm Vĩnh Thế.  Tình báo trong Chiến Tranh Việt Nam, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/tinh-bao-trong-chien-tranh-viet-nam
  37. Phi Ðoàn 716 và Phi Ðoàn 718 Thiên Long, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://phong7bttm.blogspot.ca/2016/02/phi-oan-thien-long-718.html
  38. Douglas EC-47D Dakota,  tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  http://www.wings-aviation.ch/11-RTAF/2-Aircraft/Douglas-EC-47/Dakota.htm
  39. Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 148.
  40. Fairchild C-119 Flying Boxcar, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Fairchild_C-119_Flying_Boxcar#Specifications_.28C-119C.29
  41. Fairchild C-123 Provider, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Fairchild_C-123_Provider
  42. Lockheed C-130 Hercules,  tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Lockheed_C-130_Hercules#Specifications_.28C-130H.29
  43. Thương tiếc phi hành đoàn AC-119 Tinh Long 7 KQVNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?3136-Th%C6%B0%C6%A1ng-Ti%E1%BA%BFc-Phi-H%C3%A0nh-%C4%90o%C3%A0n-AC-119-T%E1%BB%89nh-Long-7-KQVNCH
  44. Phi Ðoàn Tinh Long 821: những hy sinh dũng cảm, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://chauxuannguyen.org/2013/03/12/phi-doan-tinh-long-821-nhung-hy-sinh-dung-cam/
  45. AC-119K Stinger, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.ac-119gunships.com/the119s/ac119k/gunshipk.htm
  46. Trần Lý.  Những phi vụ hành quân cuối cùng của Không Quân VNCH trên không phận Sàigòn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm%2015-6-24.htm
  47. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy.  Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd,tr. 425-427.
  48. Phạm Ngọc Sang.  “Trận Phan Rang: hồi ức của Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang,” trong Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 297.  Những người được nói đến trong phần trích dẫn này là:
    1) Ðại Tá Lương: là Ðại Tá Nguyễn Thu Lương, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 2 Nhảy Dù;
    2) Tr/Tướng Nghi: là Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, nguyên Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, tại thời điểm này là Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn III;
    3) Ông Lewis: là một người Mỹ, chuyên viên về truyền tin do Tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài Gòn cử ra để liên lạc. 

Phụ Ðính

Danh Sách Các Phi Ðoàn với Phiên Hiệu và Danh Hiệu

  1. Các Phi Ðoàn Quan Sát
  • Phi Ðoàn 110 Thiên Phong
  • Phi Ðoàn 112 Thanh Xà
  • Phi Ðoàn 114 Sao Mai
  • Phi Ðoàn 116 Sơn Ca
  • Phi Ðoàn 118 Bắc Ðẩu
  • Phi Ðoàn 120 Bạch Yến
  • Phi Ðoàn 122 Họa Mi
  • Phi Ðoàn 124 Thanh Ðiểu

2. Các Phi Ðoàn Trực Thăng

  • Phi Ðoàn 211 Thần Chùy
  • Phi Ðoàn 213 Song Chùy
  • Phi Ðoàn 215 Thần Tượng
  • Phi Ðoàn 217 Thần Ðiểu
  • Phi Ðoàn 219 Long Mã
  • Phi Ðoàn 221 Lôi Vũ
  • Phi Ðoàn 223 Lôi Ðiểu
  • Phi Ðoàn 225 Ác Ðiểu
  • Phi Ðoàn 227 Hải Âu
  • Phi Ðoàn 229 Lạc Long
  • Phi Ðoàn 231 Lôi Vân
  • Phi Ðoàn 233 Thiên Ưng
  • Phi Ðoàn 235 Sơn Dương
  • Phi Ðoàn 237 Lôi Thanh
  • Phi Ðoàn 239 Hoàng Ưng
  • Phi Ðoàn 241 Thiên BẰng 
  • Phi Ðoàn 243 Mãnh Sư
  • Phi Ðoàn 245 Lôi Bằng
  • Phi Ðoàn 247 Lôi Phong
  • Phi Ðoàn 249 Mãnh Long
  • Phi Ðoàn 251 Lôi Thiên
  • Phi Ðoàn 253 Sói Thần
  • Phi Ðoàn 255 Xà Vương
  • Phi Ðoàn 257 Cứu Tinh
  • Phi Ðoàn 259 Nhân Ái

3. Các Phi Ðoàn Ðặc Nhiệm

  • Phi Ðoàn 312
  • Phi Ðoàn 314 Thần Tiễn

4. Các Phi Ðoàn Vận Tải

  • Phi Ðoàn 413 XÍch Long
  • Phi Ðoàn 421 (giải thể đầu năm 1973)
  • Phi Ðoàn 423 (giải thể đầu năm 1973)
  • Phi Ðoàn 425 Kim Long (giải thể đầu năm 1973)
  • Phi Ðoàn 427 Thần Long
  • Phi Ðoàn 429 Sơn Long
  • Phi Ðoàn 431 Phương Long
  • Phi Ðoàn 435
  • Phi Ðoàn 437

5. Các Phi Ðoàn Khu Trục

  • Phi Ðoàn 514 Phượng Hoàng
  • Phi Ðoàn 516 Phi Hổ
  • Phi Ðoàn 518 Phi Long
  • Phi Ðoàn 520 Thần Báo
  • Phi Ðoàn 522 Thần Ưng
  • Phi Ðoàn 524 Thiên Lôi
  • Phi Ðoàn 526 Quỷ Vương
  • Phi Ðoàn 528 Hổ Cáp
  • Phi Ðoàn 530 Thái Dương
  • Phi Ðoàn 532 Gấu Ðen
  • Phi Ðoàn 534 Kim Ngưu
  • Phi Ðoàn 536 Thiên Ưng
  • Phi Ðoàn 538 Hồng Tiễn
  • Phi Ðoàn 540 Hắc Ưng
  • Phi Ðoàn 542 Kim Ưng
  • Phi Ðoàn 544 Hải Ưng
  • Phi Ðoàn 546 Thiên Sứ
  • Phi Ðoàn 548 Ó Ðen
  • Phi Ðoàn 550 Nhện Ðen

6. Các Phi Ðoàn Oanh Tạc

  • Biệt Ðội 615 (giải thể tháng 4-1966)

7. Các Phi Ðoàn Không Thám Ðiện Tử

  • Phi Ðoàn 716 Hoàng Long
  • Phi Ðoàn 718 Thiên Long
  • Phi Ðoàn 720 Hải Long

8. Các Phi Ðoàn Yểm Trợ Hỏa Lực (hay Vận Tải Võ Trang, Gunship, hay Hỏa Long hay Cường Kích)

  • Phi Ðoàn 817 Hỏa Long
  • Phi Ðoàn 819 Hắc Long
  • Phi Ðoàn 821 Tinh Long

9. Các Phi Ðoàn Huấn Luyện

  • Phi Ðoàn 918 Phi Yến (phi cơ quan sát)
  • Phi Ðoàn 920 (phi cơ phản lực T-37)




-----------------------------------------------------------------------------------------------------



------------------------------------------------------------------------------------------------------

Phi Đoàn 718 Thiên Long: 33 Năm Nhìn Lại 1975-2008

09/07/2008

Bài hợp ca với Phi Đoàn 718 Thiên Long.

Westminster (Cổ Ngưu)-Tại nhà hàng Paracel Seafood, tối thứ bảy ngày 5 tháng 7 năm 2008 gần 400 quan khách, đại diện các hội đoàn, đoàn thể, thân hữu và gia đình phi đoàn 718 tham dự đêm dạ tiệc kỷ niệm 33 năm nhìn lại.


Huy hiệu Biệt Đội Thiên Long 718



Hoa tiêu và Trưởng đội của Biệt Đội Thiên Long 718

Bữa tiệc họp mặt gặp gỡ nhau cùng vinh danh kỷ niệm sự ra đời của Quân Đoàn Thiên Long
.................

Điều hợp chương trình Thiên Long Vũ Minh Tuấn. Sau phần nghi thức chào Quốc Kỳ, phút mặc niệm, trong phần mặc niệm ban tổ chức đã dành một phút để tưởng nhớ về những chiến hữu Thiên Long đã hy sinh vì lý tưởng tự do.

Hiện diện trong buổi họp mặt có Phi Đoàn Phó Phan Văn Lộc và Đại Tá John Griffith Phi Đoàn 360 Hoa Kỳ. Tiếp theo Không Quân VNCH.

Thiên Long Phạm Yên Đằng, trưởng ban tổ chức lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn sự hiện diện của toàn thể qúi vị, trong dịp nầy Ông cũng nhắc lại những kỷ niệm một thời cùng các chiến hữu trong Thiên Long Ông nói chúng ta có điều kiện để hằng năm chúng ta gặp nhau nhưng những đồng đội của Thiên Long, những người không may mắn đang sống lây lất tại quê nhà nên hôm nay cũng là dịp để chúng ta gây quỹ, kẻ ít người nhiều để nhớ về đồng đội.

Mở đầu chương trình bản hợp ca "Không Quân Hành Khúc" do các anh chị trong phi đoàn trình diễn. Được biết Phi Đoàn 718 Thiên Long là một phi đoàn chuyên thực hiện các phi vụ "Không thám điện tử" và nhiều phi vụ đặc biệt góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ quê hương trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Buổi tiệc bắt đầu với chương trình văn nghệ do các nghệ sĩ thân hữu giúp vui. Đêm hội ngộ 33 năm nhìn lại trong bầu không khí thân thương thể hiện được tình huynh đệ chi binh của những người đã một thời sống chết bên nhau.

https://vietbao.com/a113088/phi-doan-718-thien-long-33-nam-nhin-lai-1975-2008

Phi Đoàn 718 Thiên Long: 33 Năm Nhìn Lại 1975-2008

https://petruskyaus.net/cac-su-doan-khong-quan-cua-quan-luc-vnch-lam-vinh-the/






 

Phi Đoàn Thiên Long 718
Không Thám Điện Tử



https://i1.wp.com/vnafmamn.com/decals/patch_recon2.jpg
Những câu chuyện cũ và hình ảnh trong đề tài nầy được sưu tầm và tổng hợp từ internet, một số không còn thấy đề tên tác giả vì có lẽ đã qua nhiều lần sao chép. Trong mục đích tìm hiểu và giữ gìn những hình ảnh hào hùng của Không Quân VNCH, xin quý Niên Trưởng và quý Bạn lượng thứ cho những sơ sót nếu có và ước mong được bổ xung hay đính chính, nhất là tên của Tác Giả.

Phi Đoàn 718 EC-47 Không Thám Điện Tử, một phi đoàn hoạt động trong thầm lặng, và hầu hết các đơn vị khác trong Không Lực VNCH không biết gì về những hoạt động của Phi Đoàn 718. Chương trình EC 47 được bí mật thành lập từ 1965-1966 để cung cấp tin tức tình báo cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ mà sự bí mật được vén màn trước khi Hoa kỳ rút chân khỏi chiến trường Việt Nam.

Tại miền Nam Việt Nam, Phi Đoàn 360th TEWS đóng tại phi trường Tân Sơn Nhất, Phi Đoàn 362th TEWS đóng tại phi trường Nha Trang sau dời ra Đà Nẵng.

Trong năm 1971, để chuẩn bị chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, để bàn giao phi cơ EC47 cho Không Lực VNCH nhóm phi hành đầu tiên gồm sáu điều hành viên (Navigator) dưới sự chỉ huy của Đại Úy Nguyễn Văn Thắng đến xuyên huấn tại Phi Đoàn 360th TEWS để trở thành huấn luyện viên tháng 12-1971.

https://i1.wp.com/vnafmamn.com/decals/patch_recon2.jpg Tháng 4-1972 một số hoa tiêu tốt nghiệp tại Hoa Kỳ và nhiều Trưởng Phi Cơ và Cơ Phi các phi đoàn vận tải 314, 415 và 819 Hỏa Long được tuyển chọn sang Phi Đoàn 360th TEWS để xác định hành quân dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Bách. Năm 1973 Phi Đoàn Thiên Long 718 chánh thức hoạt động dưới danh nghĩa Không Lực VNCH, Hoa Kỳ bàn giao trọng trách cho Phi Đoàn này, chỉ còn Phi Đoàn 361th TEWS, đóng tại Utapao, Thái Lan trách nhiệm dọc theo biên giới Tam Biên.

Phi Ðoàn 718 EC-47 Không Thám Ðiện Tử chánh thức thành lập tại căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất và hoạt động trực tiếp Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu cho đến tàn cuộc chiến. Tổ chức đầu não của Phi Ðoàn 718 gồm có:

– Phi đoàn trưởng: Trung Tá Nguyễn Hữu Bách
– Phi đoàn phó:Thiếu Tá Phan Văn Lộc
– Phụ trách Ðiều Hành Viên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Thắng.

https://i2.wp.com/vnafmamn.com/aircraft/C47_VNAF36.jpg

Phi Đoàn 718 EC-47 Không Thám Điện Tử không những là một phi đoàn tác chiến mà là một phi đoàn có quân số lớn nhất với hơn 500 quân nhân các cấp và 36 phi cơ EC-47 được trang bị với hệ thống ALR-34. Phi hành đoàn âm thầm thi hành nhiệm vụ, không bao giờ tiết lộ việc hành quân kể cả người thân. Nhân viên Phi Đoàn 718 phải qua máy nói sự thật (Polygragh test) và tuân theo những luật lệ đặc biệt như phải giữ bí mật về hoạt động và nhất là không được chụp ảnh của phi cơ bất luận bên trong hay bên ngoài. Vì lý do nầy hình ảnh hoạt động của Phi Đoàn 718 rất hiếm.

Dưới mắt ngườì ngoài, mỗi chuyến bay chỉ là một phi vụ C47 vận tải. Phi cơ không trang bị vũ khí ngoại trừ máy móc điện tử bên trong và 16 trái flare ở sau đuôi để chống hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Phi vụ có vẻ rất yên bình, thực ra rất nguy hiểm vì phi cơ phải bay lượn trên vùng địch trong một thời gian dài, trung bình 3 giờ đến 5 giờ. Khi Hiệu Thính Viên Đơn vị 17 khám phá ra mục tiêu, phi cơ phải lại gần để chấm tọa độ thông thường ở trên những họng súng phòng không hoặc SA7.

Tùy theo nhu cầu chiến trường có hai loạì phi vụ khác nhau.
– Phi vụ ưu tiên 1 hay là search and destroy mission. Sau khi xác định bán kính của mục tiêu chừng 300 m oanh tạc cơ được gọi đến thanh toán thông thường là F4 của USAF, đôi khi cả B52. Sau ngày Mỹ rút quân phi vụ ưu tiên 1 không còn search and destroy nữa, tin tức nhận được lập tức chuyển xuống cho Bộ chỉ huy hành quân các vùng chiến thuật.

– Phi vụ hàng ngày (Routine mission) thông thường là để theo dõi sự chuyển quân của địch và các dự kiện gởì về Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu.

Từ ngày thành lập đến tháng 4.1975, có tất cả 3 phi vụ đều cùng mang phi vụ Thiên Long 13 và cùng bay trên vùng trời biên giới Việt Miên đã lâm nạn.

– Chiếc đầu tiên vào ngày 26-10-1973, do Trưởng Phi Cơ Tr/Úy Lăng Đức Triều và Hoa Tiêu phó Th/Úy Trần Văn Vân điều khiển, đã trúng đạn phòng không bên máy cánh phải, phải bay về phi trường TSN bằng một máy, đáp khẩn cấp bằng bụng. Kết quả Trưởng Phi Cơ bị tử nạn, riêng Hoa Tiêu phó Th/Úy Trần Văn Vân bị thương nặng, tưởng đã chết, đưa vào nhà xác sau nhờ Th/Tá Phi Đoàn Phó Phan Văn Lộc phát giác đem từ nhà xác ra cứu sống trong tình trạng “thập tử nhất sinh”.

https://i0.wp.com/vnafmamn.com/aircraft/C47_VNAF6.jpg

– Chiếc phi cơ thứ hai có tail code là WR 0013, phi vụ 0913 vào ngày 9-5-1974 cất cánh từ phi trường TSN lúc 13:00 hoạt động tại vùng Mỏ Vẹt, Tây Ninh bị phòng không của địch bắn trúng cánh trái. Nhờ vào sự bình tỉnh và kinh nghiệm của phi hành đoàn gồm có:

– Trung Úy Nguyễn Ngọc Oanh - Trưởng Phi Cơ,
– Trung Úy Đoàn Văn Nô - Hoa Tiêu và
– Trung Úy Lê Thước - Điều Hành Viên
đã về đáp khẩn cấp an toàn tại phi trường Tây Ninh, nhưng phi cơ bị gãy cánh trái và xác chiếc phi cơ nầy đã để lại phi trường Tây Ninh sau khi chuyên viên tháo gỡ các máy móc điện tử trên tàu.

– Sự mất mát lớn lao của Phi Đoàn Thiên Long 718 là trong vi vụ Thiên Long 13 ngày 13-5-1974 bị trúng hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 bắn rơi trên vùng trời Tây Ninh, gần núi Bà Đen và Mỏ Vẹt. Phi vụ nghiệt ngã và đau thương này cũng mang số phi vụ 13, phi cơ mang “tail code” WT 0019 cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất lúc 13 giờ đúng, ngoại trừ điều hành viên là Th/Úy Trương Tử Ân nhảy dù sống sót và bị địch bắt giữ làm tù binh, phi hành đoàn còn lại đều bị tử nạn. Th/Úy Ân bị dẫn bộ đưa ra Bắc ngày 19-7-1974 và được trả về Nam vào khoảng năm 1972.

Tóm lại, các hoạt động của Phi đoàn Thiên Long 718 là hoạt động tình báo, bí mật không phải ai cũng biết. Dù trưởng thành trong một thời gian quá ngắn, Phi Ðoàn 718 EC-47 Không Thám Ðiện Tử đã tích cực đóng góp tin tức tình báo cho và các chiến trường, khám phá và hủy diệt nhiều mục tiêu địch rất hữu hiệu.

Phi co khong tham dien tu EC-47, PD718 KQVNCH.jpg


Phi Cơ Không Thàm Điện Tử EC-47- Phi Đoàn 718- KQVNCH Hình: Phi Cơ Không Thám Điện Tử EC-47- Phi Đoàn 718 - KQVNCH

“…For the Indochina war, the C-47 continued her transport duties but took on additional missions, such as electronic reconnaissance and gunship. The electronic reconnaissance aircraft came in three styles, the EC-47N, EC-47P and EC-47Q. Their mission was to collect communications intelligence (COMINT) by intercepting enemy communications and conduct airborne radio direction finding (ARDF) against those communications to locate the enemy. It must be understood that the ARDF was locating the communications transmitter, which was thought to be close to a tactical commander and his forces. For the most part, the EC-47s targeted low powered high frequency communications which were routinely used by the tactical NVA and other enemy units….”



Nguồn:
https://dongsongcu.wordpress.com/2016/06/12/phi-doan-thien-long-718-khong-tham-dien-tu/ data-image-title="Phi co khong tham dien tu EC-47, PD718 KQVNCH"




Hình ảnh xưa: Binh Chủng Không Quân QLVNCH


Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Binh Chủng Không Quân




































































































































































































































































































Trận Chiến Xuân Lộc






















0


1




2




3






4






5




6


7




8














Tổ Quốc


Trấn giữ


***
 photo camera.png photo camera.png

Nghe đến danh từ Queen-Bee, Delta-Alpha 1, 2, các phi công sừng sỏ xuất sắc nhứt của Không Lực Hoa Kỳ và U.S. Army Aviation cũng phải chào thua bái phục. Ðâu cần phải mang trên ngực cánh “hoa tiêu lãnh đạo” có vòng nguyệt quế và tinh cầu.


***

 




Không Quân VNCH


 

 

Những bài liên quan về Không Quân VNCH:


1- Phi Đoàn Thiên Long 718 - Không Thám Điện Tử

 

2-Phi Vụ Của Biệt Đoàn Thần Phong (Không Đoàn 83 Tác Chiến Đặc Biệt)

 


3- Không Lực Việt Nam Cộng Hòa

 

4- Phi Công Biệt Kích Queen Bee

 


5- Các Sư Ðoàn Không Quân Của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

✈ ✈ Quy Luật Giao Chiến (ROE) Của Không Lực Hoa Kỳ Tại Việt Nam
https://caybut2.blogspot.com/2015/09/nhung-quy-luat-giao-chien-roe-cua-khong.html