Sunday, May 23, 2021

Đánh Vần Tiếng Việt - Trước và sau 1975

 



Đánh Vần Tiếng Việt - Trước và sau 1975






Tiếng Việt Vỡ Lòng: Đánh Vần

Aug 8, '09


Phàm lệ: Để viết và đọc bài này, chúng ta mặc nhiên tuân thủ qui trình nghe-nói-đọc-viết trong việc học ngôn ngữ. Và bài này chỉ nhằm hình thành quan điểm để dạy đọc chữ Việt cho người đã biết nói tiếng Việt.


Hai tiếng “đánh vần” thường được dịch sang tiếng Anh là “spell” thực ra không đúng. “Spell” chỉ có nghĩa là gọi tên lần lượt từng chữ cái trong một chữ mà thôi. Người Âu Châu không có khái niệm “đánh vần” của Việt Nam vì họ không bao giờ “đánh vần”.


“Đánh vần” là một danh từ bình dân, có chữ “đánh” dùng trong “đánh tráo”, “đánh đu”, “đánh đàn”... Chữ “đánh vần” dùng để chỉ hoạt động nối các vần có sẵn với phụ âm đầu để thành tiếng trong khi học Việt Ngữ, hoạt động này còn được gọi là “ghép vần”. Tuy nhiên muốn “đánh vần” thì phải thuộc lòng cách phát âm của tất cả các vần mà việc thuộc lòng này lại đòi hỏi một quá trình học khá vất vả. Việc “đánh vần” chỉ có thể làm được sau khi “học vần” tức là học ghép âm để tạo vần.



Vần là một đơn vị âm độc lập bắt đầu bằng nguyên âm và có thể kết thúc bằng phụ âm, không phân biệt thanh điệu. (Thí dụ “người” và “cưới” có cùng vần “ươi”; “răng”, “trắng”, “bằng” có cùng vần “ăng”; và dĩ nhiên “a”, “ca”, “ba” có vần “a”.) Vần ở đây không giống vần (theo trắc bằng) trong thi ca. Sự “hiệp vần” là việc sắp xếp vần trắc bằng[1] giống nhau ở một số vị trí trong các câu thơ kế tiếp nhau. Khái niệm về “vần” thì ngôn ngữ nào cũng có (có thể tra trong appendix “Rhyme” của các tự điển). 


Đặc điểm của vần Việt Ngữ:


Vần có thể chỉ là một nguyên âm. (Như đã biết, có 11 nguyên âm viết bởi 12 mẫu tự. Tuy nhiên ă và â không thể đứng một mình để tạo thành vần vì hai chữ cái này có âm ngắn.) Có chín vần nguyên âm đơn.


1

2

3

4

5

6

7

8

9

a

e

ê

i

o

ô

ơ

u

ư


Vần có thể là nguyên âm đôi. (Không cần xét đến việc các chữ cái biến thành bán nguyên âm khi ghép). Hai âm nguyên kề nhau tạo thành vần nguyên âm đôi (có một số tổ hợp không có trong tiếng Việt như “ae”, “oê”, “io”... và có một số tổ hợp chỉ hiện hữu nếu có thêm âm sau như iê/yê, oă, uô, uâ, ươ): Có 24 vần nguyên âm đôi (nhị trùng âm, diphthong):


1

ai

hai

2

ao

bao

3

au

đau

4

ay

tay

5

âu

câu

6

ây

cây

7

eo

beo

8

êu

rêu

9

ia

bia

10

iu

thiu

11

oa

hoa

12

oe

khoe

13

oi

coi

14

oo

boong

15

ơi

bơi

16

ôi

đôi

17

ua

cua

18

huê

19

ui

chui

20

quơ tay

21

uy

duy

22

ưa

cưa

23

ưi

gửi

24

ưu

mưu

 

Vần có thể là nguyên âm ba. (Vần “uya” khi có phụ âm sau thì biến thành “uyê”, vậy nên “uya” không bao giờ có phụ âm sau. Vần “iêu” khi không có phụ âm phía trước mà vẫn thành tiếng thì viết thành “yêu”: “i” đổi thành “y”.) Có mười vần nguyên âm ba (tam trùng âm, triphthong):


1

iêu

liêu xiêu

2

oai

xoài, khoai

3

oay

loay hoay

4

oeo

ngoằn ngoèo

5

uôi

đuôi

6

uya

khuya

7

uây

nguẩy

8

uyu

khúc khuỷu

9

ươi

đười ươi

10

ươu

hươu


Vần có thể có phụ âm cuối. Có tám phụ âm được dùng ở cuối chữ. Chúng không được phát âm trọn vẹn mà chỉ vừa đủ để gây ảnh hưởng vào nguyên âm đứng trước. (Thế nên có người gọi các phụ âm này bằng những thuật ngữ như “tắc”, “bập vào”, “bật ra”... để nhấn mạnh rằng các phụ âm cuối này không ảnh hưởng đến nguyên âm của tiếng kế tiếp nếu có.)


1

c

ác, éc, óc, ắc

2

ch

ách, ếch, ích

3

p

áp, úp, ấp, ắp, híp, xếp

4

t

át, hét, hót, cắt, cất

5

m

am, im, bom

6

n

an, in, con

7

ng

đang, sung, leng-keng

8

nh

đanh, binh, lênh-đênh


Chỉ có một số các tập hợp nguyên âm ghép với một số phụ âm cuối nhất định chứ không ghép tự do (ví dụ không có vần “unh”; không có vần “oă” nhưng tổ hợp “oă” lại gắn với phụ âm thành “oăn” hay “oăt”, “oăc”...), thế nên số vần có phụ âm cuối không phải là

(9 nguyên âm + 24 nhị trùng + 10 tam trùng) x 8 phụ âm = 43 x 8 = 344 vần, mà trong thực tế chỉ có khoảng 163 vần. Nói “khoảng” là vì càng ngày càng có thêm vần mới được xử dụng. (Xem bảng vần ở cuối bài).

Vần tiếng Việt luôn mang thanh (ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng). Nhưng các vần có phụ âm cuối “c”, “ch”, “p”, “t” thì chỉ mang hai thanh là thanh-sắc và thanh-nặng. Nếu đếm tất cả vần mang thanh khác nhau trong thực tế sử dụng thì có khoảng 640 vần. (Không phải 160 x 6 = 960 vần).

Ghép vần:

Dùng một vần có sẵn để ghép vào sau một phụ âm nào đó để tạo thành tiếng thì được gọi là ghép vần:

Ghép vần “ười” với phụ âm “c” sẽ được tiếng “cười”; ghép vần “uống” với phụ âm “l” sẽ được tiếng “luống”, vân vân.

Một vần không ghép sau phụ âm nào cũng có thể tạo thành tiếng (tiếng này bắt đầu bằng nguyên âm): những tiếng “ao”, “ủa”, “ăn”, “uống”... chẳng hạn.

Việc “ghép vần” chỉ có thể làm được sau khi “học vần” tức là học ghép âm để tạo vần.

Có hai cách học vần:

a) Thính thị trực tiếp: Người học nghe phát âm của từng vần và nhớ thuộc lòng, không giải thích, không cần nhận xét tại sao vần phải được phát âm như thế. Cách này hiện rất phổ biến và hầu như là cách duy nhất để dạy tiếng Việt cho người ngoại quốc.

- Ưu điểm: là dễ dạy vì giáo viên không cần có kiến thức về ngữ âm, và không cần đi sâu vào chi tiết; nhất là khi gặp các ngoại lệ viết một đàng đọc một nẻo thì không cần giải thích.

- Nhược điểm: dẫn tới cách phát âm địa phương, đôi khi bị “nhà quê hóa”: Thầy có giọng Nghệ An thì học trò sẽ phát âm giọng Nghệ An. Rất khó học vì phải thuộc lòng đến 163 vần. Không thể phát âm được các vần tuy hợp lý nhưng không có trong tiếng Việt (như vần “ưm”, “oao” “uyn” “uýp”, “uốp”, “uym” hoặc “uêu”, “uên”). Quan trọng nhất là cách này thường dẫn đến yếu kém về chính tả (vì có nhiều âm đọc na ná như nhau).

b) Ráp từng chữ cái: Người học tự ráp các âm có trong vần từ trái sang phải, hình thành cách phát âm của mình rồi đối chiếu với vần nghe được từ người dạy. Cách này được áp dụng ở miền Nam trước những năm 1970 nhưng không biết tại sao nay chỉ còn được áp dụng bởi các gia sư hay các bậc phụ huynh dạy con tiếng Việt.

Ví dụ để học vần “oa”, người học đọc to âm “o” rồi kéo dài vào âm “a” sau nó. (Không đọc thành hai tiếng “o” và “a” rời rạc.) Gặp vần “uông”, người học đọc “u” kéo dài vào “ô” rồi “ng(ờ)” và thành “uông”.

- Nhược điểm: Người học khó hình dung được phương pháp. Dẫn đến khó dạy (khó dạy cũng vì giáo viên phải nắm vững ngữ âm học). Có nhiều ngoại lệ nên nếu sắp xếp thứ tự bài dạy không chính xác sẽ dẫn người học đến ngộ nhận. Không thể dùng cách này để giúp người ngoại quốc học tiếng Việt vì sẽ đưa họ tới cách phát âm nhừa nhựa, lơ lớ, trọ trẹ và cũng vì họ dễ đưa đặc điểm phát âm của tiếng mẹ đẻ vào.

- Ưu điểm: Người học chỉ cần nhớ âm của bộ mẫu tự Việt nên dễ học, có thể đọc được bất kỳ âm nào viết được trong tiếng Việt, không bao giờ quên vì không cần vận dụng trí nhớ. Người học có cách phát âm riêng của mình và thường là rất phân biệt nên không mắc lỗi chính tả khi viết. Ưu điểm quan trọng là việc học theo phương pháp này dẫn đến một lối phát âm rõ ràng, gọi là “lối phát âm chính tả” thường thấy trong giới khoa bảng trong bất kỳ ngôn ngữ nào (phải vào các trường đại học phương Tây mới thấy lối phát âm này, chứng tỏ người Tây phương học cách phát âm khoa bảng rất trễ, không như người Việt ta, nếu áp dụng phương pháp này thì ngay học sinh cấp Hai/trung học đã bắt đầu có cách phát âm khoa bảng rồi.) (Tạm dùng chữ “khoa bảng” để dịch chữ “academic”.)

Ghép Âm

Ưu điểm của chữ Việt, một thứ chữ phiên âm, là nó cho phép người dùng ráp âm xuôi theo chiều đọc (từ trái sang phải) để tạo thành tiếng, đúng với cách đọc phiên âm của hệ thống IPA (International Phonetic Alphabet). Tuy có vài ngoại lệ nhưng các ngoại lệ này cũng dễ nhớ và không nhiều.

Do đó, việc ghép âm để tạo thành vần có thể được thực hiện chung với phụ âm đầu chữ và trở thành cách “đánh vần xuôi”, không đơn thuần chỉ là “ghép âm xuôi”.

Ghép âm xuôi từng âm từ trái qua phải, giống cách đọc phiên âm quốc tế, sau đó ghép thêm dấu giọng và thành tiếng: ví dụ: Rờ – ư – Rư – ơ – Rươ – u – Rươu – nặng – Rượu (đánh vần bằng âm của chữ chứ không phải bằng tên chữ).



bước 1

bước 2

bước
3

bước
4

bước 5

Ngoài

ng

ngo

ngoa

ngoai

ngoài

rượu

r

rươ

rươu

rượu

nghiêng

ngh

nghi

nghiê

nghiêng


Người học trước tiên cần nhớ âm của từng mẫu tự, cộng thêm âm của các phụ âm đơn và các phụ âm ghép như “ch”, “gi”, “gh”, “kh”, “nh”, “ph”, “qu”, “th” và “tr”. Cũng cần nhớ đặc tính của từng phụ âm cuối, phân biệt chúng với nhau bằng cách đặt môi, lưỡi đúng chỗ.

Lại cần phải chú ý đặc điểm của “y” và bốn ngoại lệ phát âm liên quan đến “a”. Cụ thể như sau:

- “y” mang âm nguyên [i:] nhưng nó làm nguyên âm đứng trước (nếu có) ngắn lại. Nên phải đọc nhanh âm nguyên trước “y”:

    “tay” đọc thành [tăi], trong khi “tai” đọc là [tai]

    “tuy” đọc thành [twi/tŭi], trong khi “tui” đọc là [tui]

    “tây” đọc thành [tâi], trong khi “tơi” đọc là [tơi]

- “cau” đọc là [kău]: âm a bị ngắn lại, khác với “cao” đọc là [kao/kau].

- “kia” đọc là [ki:ơ/kiâ] chứ không phải [ki:a]

- “xưa” đọc là [xươ/xưâ] chứ không phải [xư:a]

- “xua” đọc là [xuơ/xuâ], khác với “xoa” đọc là [xoa/xwa]

(Ghi chú: “ă” là “a” ngắn, “â” là “ơ” ngắn, “ŭ” là “u” ngắn.)

Ghép vần ngược

Xác định phần nguyên và phụ âm cuối (gọi là “vần”) trước, xong ghép phần phụ âm phía trước vào rồi bỏ dấu để thành tiếng. Ví dụ: iêng – ng(ờ) – iêng – nghiêng.


bước 1

bước 2

bước 3

Ngoài

oai

ngoai

ngoài

rượu

ươu

rươu

rượu

nghiêng

iêng

nghiêng


Cách này thoạt nghe thấy dễ vì chỉ có ba bước, thậm chí hai bước trong từ “nghiêng” không có dấu thanh, nhưng để làm được, người đọc phải thuộc lòng tất cả các vần (lên đến 163 vần.)[2]

Vài nhận xét về cách ghép vần tiếng Việt để phát âm

Không ai đọc một thứ chữ nào mà lại ngồi tỉ mẩn ghép từng chữ thành một chữ, đọc to lên rồi mới hiểu chữ đó. Thực tế quá trình đọc là chụp hình các chữ hay câu văn, nối kết chúng và hiểu nghĩa của câu. Công việc ghép vần chỉ có trong trẻ Việt bắt đầu tập đọc chữ Việt. Khi người ngoại quốc học tiếng Việt, họ có thể không cần dùng công việc thực tập này mà sẽ học thuộc lòng từng chữ một như khi ta học tiếng Anh hay tiếng Pháp. Tuy nhiên, người Việt tập ghép vần và dần thành thói quen, rồi hình thành các quan điểm về hệ thống tiếng Việt. Có thể nói các nhận định về tiếng Việt của các nhà ngữ âm học cũng bị ảnh hưởng do quá trình ghép vần thời niên thiếu.

Sử dụng cách ghép vần ngược để dạy tiếng Việt cho trẻ em từ sau năm 1970 ở miền Nam và không biết từ hồi nào ở miền Bắc dẫn đến sự sợ hãi môn ngữ âm ở sinh viên đại học ngữ văn ngày nay. Nó cũng làm các nhà nghiên cứu ngữ âm tưởng lầm chữ Việt cũng giống như các thứ chữ của ngôn ngữ khác trong hệ thống La Tinh, đặc biệt là tiếng Anh hay tiếng Pháp có cách viết một đàng đọc một nẻo. Rồi họ phải mượn các ký hiệu phiên âm của IPA để phiên âm lại chữ Việt. Điều này giống chuyện tìm cách phiên âm các ký hiệu phiên âm.

Không thể đánh vần xuôi trong tiếng Anh. Khi đọc lên mà cứ phát âm từ từ theo thứ tự chữ cái thì rối tung: ha đọc là [ha], nhưng hat đọc là [hæt], rồi hate lại đọc là [hêt]; hay he đọc là [hi] nhưng her là [hơ:] và here lại là [hiơ:]. Chưa nói đến việc những chữ có cách phát âm đúng luật rất hiếm. Thế nên người học tiếng Anh có cái khổ là phải học thêm bộ ký tự phiên âm quốc tế. (Khốn thay bộ ký tự này lại ngày càng cải thiện, thay đổi liên tục.) Hay tiếng Pháp: “femme” lại đọc là [fa:m], “un” đọc là [œõ] nhưng “une” lại là [yšn]. Thế nên con nít Anh và Pháp lệ thuộc vào cách đánh vần ngược khi học mẫu giáo: tất cả những chữ có đuôi giống nhau thì phát âm giống nhau: cat, bat, hat, fat, pat, rat cùng vần [æt]; bate, hate, fate, late, rate cùng vần [êt]; une, lune, prune cùng vần [yšn]; vân vân... Nhưng tiếng Việt không thế: tổ hợp “oa” chẳng hạn, dù sau nó có thế nào đi nữa thì nó vẫn mang âm [oa] như “oan” [oan], “oai” [oai], “oam” [oam], “oạch” [oạch], người đọc có thể yên chí về âm của phần đã ráp được, chỉ lo đi tiếp tới âm phía sau cho đến khi xong chữ.

Có ý kiến cho rằng việc ghép vần xuôi cho ra cách phát âm buồn cười do đọc chậm quá, như “cười” biến thành “cư-ời” hay “cừa-i”. Điều này có thể xảy ra nhưng do người đưa ra ý kiến đó chưa hiểu cách đọc phiên âm hoặc chưa có kinh nghiệm tự thân đọc phiên âm khi học ngoại ngữ. Nếu người này tra phiên âm tiếng Anh rồi đọc to lên thì mọi người sẽ “cưa-ì” vào mặt anh ta. Chẳng hạn “scout” có phiên âm [skaut] lại đọc thành “sờ-ca-út” hay “sờ-cau-tờ” hoặc thậm chí “sậc-cáo-tờ” (nghe như “suck out her”) thì người ta sẽ không biết anh ta bú cái gì ra. Ý kiến nói trên phát xuất chẳng qua là từ thói quen “lấy thúng úp voi” đó thôi.

Muốn đọc phiên âm trước hết phải từ từ, sau khi các âm đã lần lượt vang đủ trong đầu rồi mới phát âm nhanh lên, phải chấp nhận việc nhị trùng âm biến thành hai vần, rồi đọc nhanh hai vần đó thì sẽ có nhị trùng âm; trường hợp tam trùng âm cũng thế: từ ba vần thành hai trong đó có một nhị trùng, rồi mới thành một vần tam trùng âm do phát âm nhanh một lèo cả ba âm rời rạc với nhau.

Điều tệ hại của việc dạy ghép vần ngược là nó làm phân hóa đến tận gốc rễ cách phát âm của người dân, ai cũng cho tiếng địa phương mình dùng là chuẩn. Dẫn tới quái tượng “giọng chuẩn Hà Nội”, “giọng chuẩn Sài Gòn”. Thế thì thế nào là giọng chuẩn Huế, chuẩn Mỹ Tho, chuẩn Quảng Nam?... Mới đây ở Việt Nam lại thấy có ý kiến nên lấy giọng Hà Nội làm giọng chuẩn cho xướng ngôn viên đài truyền hình Việt Nam. Hãy nghe giọng Hà Nội bây giờ: “Chủng em giất xung xưởng được chân chọng mời bác vào xơi chẻn giệu.”[3] Nếu đây là giọng chuẩn thì mai kia cứ phải đúng từng chữ và từng dấu giọng này mà viết tiếng Việt, đúng như cái câu trên, “Chủng em... giệu”! Sách “Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị” phải được làm lại từ đầu đến cuối. Mà rồi khi cứ cố tình bắt lấy đây là giọng chuẩn thì cả nước có sẽ nói được cái giọng chuẩn này không nếu như con nít cứ tiếp tục học cách đánh vần ngược.

Sự phân hóa này xảy ra do người học bắt chước hoàn toàn đặc điểm phát âm của người dạy. Thầy người Nam dạy phát âm “cau” giống “cao”, “anh” giống “ăn”; trong khi thầy người Bắc lại đọc “rượu” như “diệu”, “cừu” thành “kìu”, “nướu” thành “niếu”... và vô số lỗi phát âm nữa của từng vùng.

Cần nhớ là -- khi ghép vần xuôi, mọi người đọc đều chỉ cần tôn trọng có 12 âm nguyên căn bản mà thôi. Trong chừng mực nào đó có thể nói dù thầy đọc mẫu sai, trò vẫn có thể phát đúng âm do trò đọc theo chữ trên giấy chứ không nhái lại theo thầy. (Có em học trò lớp Hai đã bắt lỗi cô giáo khi cô đọc chữ “mênh mông” là “mên môông”.)

Nếu tất cả học sinh đều học theo cách này thì trong tương lai sự khác biệt giữa các “giọng chuẩn” sẽ ngày càng thu hẹp lại. Điều này đã xảy ra trong khuôn viên các trường đại học Mỹ: dù sinh viên là người miền nào đi nữa thì khi phát ngôn chính thức họ cũng phát âm đúng theo phiên âm trong tự điển. Có thể so sánh với cách phát âm của các vị giáo sư trẻ Việt Nam, mỗi vị một vẻ, để thấy là dân ta chưa chú trọng đến điều này.

Và những người chủ trương ghép vần ngược (nhắc lại: ghép vần ngược là cách ghép phụ âm đầu với vần biết sẵn) sẽ làm sao để đọc từ “hừm” khi chữ này lần đầu tiên xuất hiện trong các sách truyện, dịch âm chữ “hm” của tiếng Pháp? Hay khi cặp chữ “màn/mùng tuyn” xuất hiện trên thị trường để chỉ loại màn/mùng chống muỗi bằng sợi tổng hợp nhẹ bền thời đó thì họ đọc từ “tuyn” thế nào? Làm sao họ đọc chữ “goào” gần đây phiên âm từ chữ “wow”, một thán từ của Anh? Các vần “ưm”, “uyn”, “oao”, vân vân tuy đều có thể đọc được nhưng lại không có trong ngôn ngữ Việt thuần, tức là không có trong bộ vần mẫu, thì làm sao học cách đọc được. Mặc dù vẫn có vần “uynh” (khuynh đảo, khuỳnh khuỳnh hai cánh tay...),[4] và vẫn có chữ “quào” (phát xuất từ vần “oào”) ráp bởi “qu” và “ào”, mà tiếng Bắc là “cào”.[5]

Một ví dụ nữa là chữ “tuýp” trong “đèn tuýp” mà người miền Nam hay gọi là “đèn típ”, hay tên nhà văn Mỹ đã được phiên thành “Mác Tuên”; vần “uýp” và “uên” cũng không có mặc dù có chữ “quên”, nhưng “quên” là do ráp “ên” vào với “quờ” chứ không phải “uên” vào với “cờ”.

Nhìn vào đặc điểm này của việc ghép vần ngược để thấy rằng phương pháp này làm hạn chế sự sáng tạo trong cách viết chữ Việt, đóng khung tiếng Việt trong số vần đã có, làm tiếng Việt ngày càng “giàu đẹp” theo hướng ngược lại.[6]

Nói cho cùng, trong thực tế không ai ghép vần ngược, mà, khi tập đọc navy theo cách ghép vần ngược, chữ “khoai” chẳng hạn, ai cũng đọc theo thứ tự sau đây mà không để ý đó là mượn cách ghép xuôi: “o, a, i, oai, khờ, oai, khoai.” Rõ ràng ba bước đầu tiên là xuôi. Rồi bước cuối cùng cũng là xuôi khi ghép hai yếu tố phụ âm và vần vào với nhau. Đã xuôi lại còn ngược làm gì cho khổ người học khi bắt anh ta mỗi lần nhìn vào một chữ là phải nhìn phía sau trước. Vì: Khi ngưng ở “oai” để nhìn lại phụ âm “khờ”, người học đôi khi quên tuốt là mình vừa ghép được vần gì trước đó để bây giờ ghép với “khờ”. Nếu dạy lớp Một, ai cũng thấy điển hình này.

Cách ghép vần xuôi tuyệt đối không làm người học mắc phải lúng túng này. Nó liên tục từ đầu đến khi xong chữ. Nó cũng tạo sự dễ dàng cho việc phát âm được tất cả các vần có thể có khi dùng bộ chữ Việt. Và một ưu điểm nữa là sau khi đã thành thạo phương pháp ghép vần xuôi, người học có thể đọc phiên âm quốc tế để biết cách phát âm ngoại ngữ, không như ví dụ “sậc-cáo-tờ” ở trên.


Lợi điểm của cách học vần xuôi khi áp dụng vào việc viết

Đọc thông chưa chắc sẽ viết thạo. Thử tượng tượng khi bạn phải viết tiếng Anh mà không có tự điển bên cạnh. Nếu coi chữ Việt như các thứ chữ bình thường khác, ta cũng sẽ rất ngại viết tiếng Việt khi không có một cuốn tự điển tốt trong tầm tay. Bản thân người viết đã từng đến dự một buổi lễ có tựa đề to tướng dán trên sân khấu là “Hội Nghị Tổng Kết Nghành Giáo Dục Huyện Bình Chánh” (sic). May quá, chữ kia không phải “ngị”! Sai sót này cũng giống trong một giai thoại về Tổng Thống Clinton của Hoa Kỳ khi làm giám khảo một kỳ thi chính tả cho một trường tiểu học nào đó, ông đã chấm đúng cho một học sinh viết số nhiều của khoai tây là “potatos”.[7] Vấn đề ở đây là cuộc thi của trường tiểu học đó là trò trẻ con và ông Clinton không phải là một nhà giáo dục. Không thể vin vào giai thoại này để xuê xoa nói là đến tổng thống còn sai nói chi dân thường.[8] Vấn đề chính tả ở bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều khó khăn và đặc biệt trong việc viết chữ Việt bây giờ, mặc dù lẽ ra nó đã không khó đến thế.

Một khi nắm vững cách ghép vần, có thể nói việc viết một chữ tiếng Việt là quá dễ, ít nhất là về mặt ngữ âm, không xét đến các qui luật chính tả của các chữ có gốc Hán. Điều này hẳn nhiên là một điểm ưu việt tuyệt đối so với các thứ chữ khác trên thế giới. Cứ việc theo sát cách đọc mà viết ra, xuôi theo thứ tự phát âm. Thí dụ khi phải viết chữ “hếu” trong “trắng hếu”, chứ không phải “hiếu” trong “trung hiếu”. Trong chữ trước, “trắng hếu”, khi nói lên không có âm hưởng của “i” nên trong từ không có chữ “i”. Còn rõ ràng khi phát âm chậm từ sau, “trung hiếu”, ta nghe rõ ràng có âm “i” trước âm “ê” rồi tận cùng bằng âm “u”. Kể cũng buồn cười, xét vấn đề ngược lại, ngày nay chúng ta sẽ bảo viết “con tim” là sai vì tất cả các ca sĩ đều hát và phát âm là “con tiêm”, hay “chiều tím” sẽ phải viết lại thành “chiều tiếm”. Nếu như chúng ta không nghiêm khắc nhận xét và phê bình các quái tượng không biết học hết cấp Một /bậc tiểu học chưa, mà đã trở thành thần tượng của bao nhiêu thiếu niên mê ca nhạc.


Phụ Lục: Các vần tiếng Việt:

Theo cách sắp thứ tự của Unicode, các dấu âm (dấu mũ, dấu trăng và dấu râu) được kể là các dấu phụ nên bảng vần được liệt kê theo thứ tự sau:


a, ac, âc, ăc, ach, ai, am, âm, ăm, an, ân, ăn. ang, âng, ăng, anh, ao, ap, âp, ăp, at, ât, ăt, au, âu, ay, ây,

e, ê, ec, êc, êch, em, êm, en, ên, eng, ênh, eo, ep, êp, et, êt, êu,

i, ia, ich, iêc, iêm, iên, iêng, iêp, iêt, iêu, im, in, inh, ip, it, iu,

o, ô, ơ, oa, oac, oăc, oach, oai, oăm, oan, oăn, oang, oăng, oanh, oao, oap, oat, oăt, oay, oc, ôc, ơc, oe, oen, oeo, oet, oi, ôi, ơi, om, ôm, ơm, on, ôn, ơn, ong, ông, oong, op, ôp, ơp, ot, ôt, ơt,

u, ư, ua, ưa, uân, uât, uây, uc, ưc, uê, uêch, uênh, ui, ưi, um, ưm, un, ưn, ung, ưng, uơ, uôc, ươc, uôi, ươi, uôm, ươm, uôn, uơn, ươn, uông, ương, ươp, uôt, uơt, ươt, ươu, up, ưp, ut, ưt, ưu, uy, uya, uych, uyên, uyêt, uyêt, uyn, uynh, uyp, uyt, uyu,

y, yêm, yên, yêng, yêt,

(Sáu vần này, thực tế là sáu tiếng và không dùng để ghép, chỉ thêm dấu thanh mà thôi, trừ “y”.)


HỒNG ĐỨC

23/11/2007




[1] Thanh bằng gồm ngang và huyền; thanh trắc gồm các thanh khác.

[2] Xem Phụ Lục. Tuy nhiên ở con trẻ, thuộc lòng 163 vần này không khó; những đứa trẻ thông minh, kết hợp việc nghe đọc truyện và xem truyện có thể thuộc lòng tất cả vần tiếng Việt trong khoảng từ sáu tháng đến một năm. Thậm chí có bé (ở Sơn La) 5 tuổi chỉ xem hát Karaoke cũng thuộc và tự ghép vần để đọc báo được.

[3] Không đưa thêm lỗi “nờ thấp nờ cao” vào câu diễu này vì không nhiều người Hà Nội mắc lỗi này. (?)

[4] Nên có người viết “màn tuynh”

[5] Nhưng “cào” chỉ đơn thuần tả hành động cố cắm sâu vào và kéo rách mà không diễn tả được đường nét cong quẹo của hành động như “quào”.

[6] Mai kia sẽ không có người dám sáng chế ra chữ mới như Nguyễn Ngọc Tư.
Hãy nhớ tới sự sáng tạo khi đọc chữ “ầng ậc” của cô: nó có gì đó giống “ừng ực” của hành động uống, nó làm ta liên tưởng đến nước, nhiều nước, nhưng không phải đang “ùng ục” hay “òng ọc” chảy mà chỉ chực tuôn ra “ồng ộc” vì đã đầy ứ, đầy ắp, nó cũng có gì đó gần với sự tắc nghẹn của “ằng ặc” nhưng câm chứ không thành tiếng, nghẹn là vì muốn tuôn ra mà ra không được. (“... đôi mắt ông đã ầng ậc nước...”)

[7] Đúng ra là “potatoes”.

[8] Điều này làm tôi nhớ là người ta bây giờ hay lấy tổng thống Mỹ ra để so sánh với những kẻ lãnh đạo phát xít mới, quên rằng tổng thống Mỹ chỉ là một người làm công ăn lương cho dân Mỹ mà thôi, mặc dù lương và chức vụ cao. Hết hạn là bị nghỉ việc.




 

 

Lớp đồng ấu

 

 

**************************************

 

■ Nguyên âm đơn


Vần có khi là một nguyên âm. Có 11 nguyên âm viết, viết với 12 mẫu tự. Nhưng vì ă và â không thể đứng một mình để tạo thành vần vì hai chữ cái này có âm ngắn. Có chín nguyên âm đơn.


1

2

3

4

5

6

7

8

9

a

e

ê

i

o

ô

ơ

u

ư


 

@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@@

 

■ Nguyên âm đôi


Nguyên âm đôi
Có 24 vần nguyên âm đôi (nhị trùng âm, diphthong):


1

ai

hai

2

ao

bao

3

au

đau

4

ay

tay

5

âu

câu

6

ây

cây

7

eo

beo

8

êu

rêu

9

ia

bia

10

iu

thiu

11

oa

hoa

12

oe

khoe

13

oi

coi

14

oo

boong

15

ơi

bơi

16

ôi

đôi

17

ua

cua

18

huê

19

ui

chui

20

quơ tay

21

uy

duy

22

ưa

cưa

23

ưi

gửi

24

ưu

mưu


 

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

■ Nguyên âm ba


Nguyên âm ba.
Có mười vần nguyên âm ba (tam trùng âm, triphthong)


1

iêu

liêu xiêu

2

oai

xoài, khoai

3

oay

loay hoay

4

oeo

ngoằn ngoèo

5

uôi

đuôi

6

uya

khuya

7

uây

nguẩy

8

uyu

khúc khuỷu

9

ươi

đười ươi

10

ươu

hươu


 

#############################

 

■ Phụ âm cuối



Phụ âm cuối
Có tám phụ âm được dùng ở cuối chữ.


1

c

ác, éc, óc, ắc

2

ch

ách, ếch, ích

3

p

áp, úp, ấp, ắp, híp, xếp

4

t

át, hét, hót, cắt, cất

5

m

am, im, bom

6

n

an, in, con

7

ng

đang, sung, leng-keng

8

nh

đanh, binh, lênh-đênh


 

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

 

■ Đánh vần xuôi, ráp từng chữ


Ghép âm xuôi/Đánh vần xuôi
Ghép âm xuôi ghép âm để tạo thành vần phụ âm đầu chữ, ghép từng âm từ trái qua phải, giống cách đọc phiên âm quốc tế, sau đó ghép thêm dấu giọng và thành tiếng.



bước 1

bước 2

bước
3

bước
4

bước 5

Ngoài

ng

ngo

ngoa

ngoai

ngoài

rượu

r

rươ

rươu

rượu

nghiêng

ngh

nghi

nghiê

nghiêng



 

======================

 

■ Tên các Phụ Âm


Tên các phụ âm chữ Việt

 

B
C
D
Đ
đê
F
é-phờ
G
giê
H
hát
J
gi
K
ca
L
e-lờ1
M
e-mờ
N
e-nờ
P
Q
cu
R
e-rờ
S
e-sờ2
T
V
W
vê kép
X
ích-xì
Z
giét




..............................


1 Khi đọc nhanh "e-lờ" đã cho đúng hiệu quả.
2 Khi đọc nhanh "e-sờ" đã cho đúng hiệu quả.

 

^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^

 

■ So sánh cách phát âm chữ cái La tinh và chữ cái tiếng Việt


So sánh cách phát âm chữ cái La tinh và chữ cái tiếng Việt


A
K
H
U
Q
Anh
[el]
[kel]
[eltS]
[jU]
[kjU]
Pháp
[a]
[ka]
[aS]
[ỹ]
[kỹ]
Việt
[a]
[ka]
[hat]
|u|
[ku]

Chữ A, K, Q, trong ba thứ tiếng Anh, Pháp, Việt


 





000000000000000000000000000

 



■ Ráp vần và đánh vần sau khi bị Việt cộng đem ra "cải cách tiếng Việt"

 





Cách bỏ dấu, hay đánh dấu thanh của dấu giọng trong tiếng Việt

Cách bỏ dấu truyền thống, thì dấu giọng được bỏ trên mẫu tự nguyên âm áp chót nếu vần kết thúc bằng hai mẫu tự nguyên âm trở lên, kể cả “y” với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy.”
Cách đánh dấu theo truyền thống viết:
.......................................
“hóa, xòe, súy”
.......................................
Sau 1975, Tiếng Việt bị Việt cộng đem ra làm "cải cách tiếng Việt" sửa đổi như sau:
Quy tắc 4. quy tắc độc đoán -- Với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh đặt vào chữ nguyên âm chót.
Ví dụ: Cải cách tiếng Việt của Việt cộng sau 1975 viết:
ho, hoè, hu, loà xoà, loé, suý, thu

Sau một thời gian,
Cuộc cải cách tiếng Việt của 'mấy trự Việt cộng' là một “thành công, thành công, đại thành... gà bới”

Nay người ta có khuynh hướng trở lại bỏ dấu theo cách truyền thống là:
.......................................
ha, hòa, hóa, ha, hòe, hy, ty, ly, thùy, thúy, th th lòa xòa, lòe, xòe, lóe, súy, y, úy.
.......................................

 

==========================

 





Ráp vần để tập đọc

Trước kia, khi ráp vần để tập đọc* (xem phần Tên các phụ âm chữ Việt), chúng ta luôn dạy học trò bỏ dấu sau cùng, như:
Ráp vần và đánh dấu chữ "Lường":
“e lờ ư lư ơ lưa en giê Lương huyền Lường”

Chú ý:
Chữ "L" đọc là "en-lờ" hay "e-lờ" và
chữ "g" đọc là "giê"
và "n" đọc là "en nờ" ráp với chữ "g", đọc là "en giê".
Chữ "ng" được đọc là "en giê"

--------
Ráp vần và đánh dấu chữ "khoái":
“ca hắt o kho a khoa i khoai sắc khoái”

--------
Ráp vần và đánh dấu chữ "thoái":
“tê hắt o tho a thoa i thoai sắc thoái”

--------
Ráp vần và đánh dấu chữ "quyền":
“ku - u - y cà rết - quy - ê - quê - anh nờ - quyên - huyền - quyền ”

Đánh vần trước 1975 tuy có dài lê thê, nhưng có căn bản và cơ sở vững vàng đâu đó, trẻ đọc và biết tại sao khi đánh vần chữ "k hăt h a kha" và chữ "C xê a ca xê hắt cach sắt cách" và khi viết nó phải như thế.

Sau 1975, Việt cộng cho đánh vần rút ngắn, đọc tắt, học sinh thích hơn, nhưng rồi lúc càng ra những rắc rối khác như: chữ k đọc là cờ và chữ c cũng đọc là cờ thì đánh vần như thế nào?

(Chú ý: Sau 1975, Việt cộng đổi các đọc chữ "Q/q" đọc là "kiêu", khi Q đi liền với chữ u thì đọc là "quờ",
ban đầu tưởng dễ, sau đó thì gặp biết bao rắc rối.

Trước 1975, chữ Q / q đọc âm là ku và chữ u thêm vào đánh vần là ku u ê quê, ku u ơ quơ huyền quờ.

Trường hợp âm chữ [tàu Hải Quân HQ-16] (Hắc Ku - 16),
chữ h đọc là hắt hay hát, chữ q đọc là ku

Thí dụ:
Tàu Hải Quân HQ-16 của VNCH (Hắc Ku - 16).

(HQ = Hắc Ku được phát âm là Hắt Ku, viết là Ku chứ không viết là Cu.


Đó là trường hợp phát âm chữ [tàu Hải Quân HQ-16] (Hắc Ku - 16).

Thí dụ: Con chim cu đậu dưới mái nhà chúng em.

Con chim (bird) cu (tên con loại chim, thường thì trong tiếng Việt, tên của động vật không viết hoa.)

Q = viết là Ku (vì là âm của một chữ/vần.

Cu = viết là cu (vì là tên của loài chim.)

KuCu phát âm giống nhau nhưng viết khác nhau.

 


Chúng ta chê Việt cộng ngu {*}, tại sao chúng ta phải theo cách của chúng để 'cải cách tiếng Việt' từ tiếng Việt trong sáng'' đến 'tiếng Việt u minh' của chúng?
{*} Ngu trong cách xây dựng, nhưng 'thiên tài' trong cách phá hoại và giết chóc (việt cộng).

 

***************************************************

 

Tình trạng và cũng là phong trào 'sáng chế chữ nghĩa' ra nhiều chữ kỳ cục, kỳ quặc, quái đảng, kinh hoàng trong thời Việt cộng cai trị.

Dưới đây là điển hình nhà văn Việt cộng Nguyễn Ngọc Tư, được Việt cộng chọn làm nhà văn "nổi tiếng".

Ông/Bà/Nguyễn Ngọc Tư viết:
“... đôi mắt ông đã ầng ậc nước...”

Ôi chao! Nước mắt ông "ầng ậc" trào ra? Hay mắt ông "ầng ậc" trào nước?

.....Mai kia sẽ không có người dám sáng chế ra chữ mới như Nguyễn Ngọc Tư. Hãy nhớ tới sự sáng tạo khi đọc chữ “ầng ậc” của cô: nó có gì đó giống “ừng ực” của hành động uống, nó làm ta liên tưởng đến nước, nhiều nước, nhưng không phải đang “ùng ục” hay “òng ọc” chảy mà chỉ chực tuôn ra “ồng ộc” vì đã đầy ứ, đầy ắp, nó cũng có gì đó gần với sự tắc nghẹn của “ằng ặc” nhưng câm chứ không thành tiếng, nghẹn là vì muốn tuôn ra mà ra không được. (“... đôi mắt ông đã ầng ậc nước...”) (trích)

 

***************************************************

 

Đọc thêm:

Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs12082015vi.html

 

Việt cộng và Chữ Việt sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/viet-cong-va-chu-viet-sau-1975-viec-sua.html

 

Chữ Nghĩa Việt Cộng
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chu-nghia-viet-cong.html

 

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/tieng-viet-va-tieng-vem-tieng-viet-va.html

 

Đánh Dấu Tiếng Việt trước và sau 1975
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/anh-dau-tieng-viet.html

 

◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙

 



►► Cách Bỏ Dấu Tiếng Việt -- Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2019/04/cach-bo-dau-tieng-viet-tren-trang-web.html


►► Âm và Chữ --- Trong Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/am-va-chu-trong-tieng-viet-truoc-va-sau.html




►► Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/04/tieng-viet-ten-mau-tu-xin-ke-hau-qui-vi.html


►► Đánh Vần Tiếng Việt - Trước và sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2019/06/tieng-viet-vo-long-anh-van-aug-8-09.html


►► I và Y / i Ngắn và y Dài - Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/tieng-viet-i-va-y-hong-uc-ngay-sau-ngay.html


 





Bảng Chữ Cái Tiếng Việt

Vietnamese Alphabet


*

Chữ

Tên chữ

*

Letter

Name

1

a

a

2

ă

á

3

â

4

b


5

c


6

d


7

đ

đê

8

f

e-phờ /
ép-phờ

9

e

e

10

ê

ê

11

g

giê

12

h

hát

13

i

i

14

j

gi

15

k

ca

16

l

e-lờ /
en-lờ

17

m

e-mờ / em-mờ

18

n

en-nờ /
anh nờ

19

o

o

20

ô

ô

21

ơ

ơ

22

p


23

q

cu

24

r

e-rờ

25

s

e-sờ/ét-sờ

26

t


27

u

u

28

ư

ư

29

v

30

W

vê kép

31

x

ích-xì

32

y

i-cà-rết /
i-cờ-rếch

33

[z]

[giét / dét]




 

 


  Bảo tồn tiếng Việt - không dùng chữ Việt Cộng




 

Wednesday, May 19, 2021

Bỏ Dấu Tiếng Việt -- Trước và Sau 1975

Bỏ Dấu Tiếng Việt -- Trước và Sau 1975

 









Bỏ Dấu Tiếng Việt -- Trước và Sau 1975




Trên trang web của Trung Tâm Tự Điển Học “Vấn đề đánh dấu thanh tiếng Việt” của tác giả Dũng Vũ2 thì Vũ Xuân Lương và Hoàng Phê là đồng tác giả của qui tắc. (Có lẽ vì Dũng Vũ thấy đăng chính thức trong vietlex.com mà Hoàng Phê là “chủ tịch vĩnh viễn” chăng?) Tác giả Dũng Vũ đã có những nhận xét và phê bình cái qui tắc này một cách khoa học và xác đáng cũng như có phê bình thêm về qui tắc bỏ dấu của một tác giả khác nữa là Đoàn Xuân Kiên3 sau khi đã nêu ra các đặc điểm ngữ âm của tiếng và chữ Việt.

Bài viết này không nhằm mục đích đánh giá lại cái qui tắc của Vũ Xuân Lương bằng các phương pháp khoa học như Dũng Vũ đã làm mà chỉ có ý đưa ra vài suy nghĩ về văn hóa và người làm văn hóa Việt Nam.

Cần biết rằng vietlex.com là trang web chính thức của Trung Tâm Tự Điển Học,4 một trung tâm của nhà nước và đảng Cộng Sàn Việt Nam, nên những bài viết, những qui luật mà trung tâm này phổ biến sẽ có ảnh hưởng rất sâu rộng trong tầng lớp sinh viên học sinh và giáo viên cũng như giới trí thức trong nước. Chắc chắn rằng cái qui tắc này đã trở thành qui luật ở những tòa soạn báo chí, ở những nhà xuất bản, ở những cơ sở đang làm công việc chuyển văn bản thành dữ liệu điện toán và đang dần biến thành thói quen của mọi tầng lớp dân chúng khi phải “đánh máy”.

Một số trí thức trẻ hải ngoại cũng bị thuyết phục hoặc bị mê hoặc bởi cái qui tắc này sau khi họ thắc mắc về cách đánh dấu tiếng Việt, truy tìm bài viết về vấn đề này trên Internet và chỉ thấy bài của Vũ Xuân Lương là đơn giản, là có vẻ có qui luật và dễ nhớ nên áp dụng theo. Còn bài viết của Dũng Vũ thì quá phức tạp, chứng minh dài dòng, lại có mấy cái biểu đồ cái nào cũng giống cái nào, chả biết đưa ra để làm gì, bèn không đọc kỹ, hoặc có đọc cũng chả hiểu bèn bỏ qua, hoặc cho rằng tác giả (DV) là một người khoe mẽ, ra cái điều hiện đại có máy móc ghi biểu đồ tần số âm thanh, bèn có ác cảm với tác giả và không quan tâm chứ đừng nói tới áp dụng các đề nghị của tác giả.

Rồi lại có bài của Cao Xuân Hạo đánh giá rất cao bài viết của Dũng Vũ cũng tại trang web Mạng Giáo Dục nói trên. Nhưng đây cũng lại là một bài viết dài dòng văn tự, cốt yếu cũng chỉ để trình bày các ý kiến của ông (Cao Xuân Hạo) trong lãnh vực gọi là “âm vị học” của tiếng Việt (và cũng phần nào muốn tỏ ra rằng học sinh ngày trước ở miền Bắc đã được học một thứ tiếng Việt hiện đại hơn miền Nam, do công của ông (Cao Xuân Hạo) làm ra.

Và điều quan trọng nhất là chưa một vị học giả có tên tuổi nào đứng ra kêu gọi hay đề xướng một qui tắc bỏ dấu đơn giản cho xã hội sử dụng ngoài “giáo sư” Hoàng Phê và “chuyên viên” Vũ Xuân Lương. (Các dấu ngoặc kép ở đây có lý do của nó, xin được trình bày sau.)

Kể cũng đúng thôi, vấn đề đánh dấu giọng này mà các vị trí thức lão thành thường cho là khỏi phải bàn -- vì xưa nay đã ổn rồi -- nên không cụ nào lên tiếng. Các cụ không thể nào tưởng tượng là ngày nay lại có kẻ dám sửa lại những điều cha ông đã làm thành thói quen, thành qui luật từ bao lâu nay, nên khi có ai đó giúp các cụ “đánh máy”, in ra thấy kỳ kỳ thì các cụ cũng chỉ lắc đầu bảo tụi trẻ bây giờ đánh máy kém quá, lỗi tùm lum, hoặc các cụ cho là máy điện toán không dễ dùng như máy đánh chữ, rồi các cụ đành chịu vì có yêu cần sửa lại cũng rất khó khăn, thôi thì có chữ đọc là được rồi, không nhằm nhò gì ba cái dấu chỗ này chỗ kia.

Thế mà không đơn giản như các cụ tưởng, sau lưng các cụ người ta đang tìm mọi cách để chứng minh là những gì -- tất cả những gì -- mà các cụ và cha anh các cụ đã làm đều sai, đều dở, đều tệ hại và cần phải được sửa lại. Với cái tựa đề “Quy tắc đánh dấu...” cứ y như là “qui tắc giao thông” vậy, nó có vẻ khẳng định đây là những qui tắc đã được đề ra bởi cơ quan thẩm quyền sau những nghiên cứu, dùng thử và đánh giá nghiêm túc. Nhưng không phải vậy.

Được đăng trên một trang web như thế, nó sẽ làm người đọc tưởng đây là quyết định hay nghị định gì gì đó mới ra của “Hàn Lâm Viện Ngôn Ngữ Việt Nam”, một cơ quan mà sau hơn 30 năm xây dựng “một quê hương giàu đẹp”, một đất nước “độc lập tự do hạnh phúc” ắt là phải có mặt và hoạt động để hướng dẫn người dân sử dụng ngôn ngữ tự do trong vòng tiến bộ để ngôn ngữ ngày càng đẹp hơn hầu đem lại nhiều hạnh phúc hơn cho nhân dân trên cái quê hương đó. Nhưng hình như cái cơ quan đó chưa hề tồn tại hoặc có tồn tại mà chưa hề hoạt động. Và qua các mâu thuẫn trong lập luận, áp đặt trong kết luận, cái “quy tắc” này đã nói lên một cái gì khác ngoài vấn đề chữ nghĩa.

Những “quy tắc” tưởng chừng “mới”.

Bản qui tắc của Vũ Xuân Lương có vẻ rất đơn giản chỉ với bốn trang giấy in mà gồm đủ các qui tắc và phần giải thích lý do phải áp dụng, chưa kể phần mào đầu và phần định nghĩa các thuật ngữ trong lãnh vực ngữ âm học. Sự đơn giản này hấp dẫn giới trẻ vốn thích những gì thực tế. Bản qui tắc này gồm năm qui tắc, xin tóm lược như sau:

Quy tắc 1. Với những chữ chỉ có một nguyên âm, “thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm đó. Vd: á à, ì ạch, ọ ẹ, ủ rũ, ọp ẹp, ục ịch, hà, lán, giá, giục, quả, quỹ, quỵt... (u và i trong gi và qu không được kể là nguyên âm mà hợp với g và q thành các tổ hợp phụ âm.)” (trích nguyên văn).

Quy tắc 2. Với những chữ có nguyên âm mang dấu phụ (gọi là “dấu âm” thì đúng hơn – HĐ chú) như Ă, Â, Ê, Ô, Ơ, Ư “thì dấu thanh đặt ở nguyên âm mang dấu phụ đó (riêng ƯƠ, dấu đặt ở Ơ). Vd: ế ẩm, ồ ề, ở rể, ứ ừ, chiền chiện, cuội, cừu, duệ, duềnh, giội, giường, ngoằng, quyệt, ruỗng, rượu, siết, suyển, tuẫn tiết, tiến triển...”

Quy tắc 3. Với những chữ có hai nguyên âm và kết thúc bằng phụ âm “thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm chót. Vd: choàng, hoạch, loét, quẹt, suýt, thoát, xoèn xoẹt...”

Quy tắc 4. Với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh được đặt vào con chữ nguyên âm chót. Ví dụ: hoạ, hoè, huỷ, loà xoà, loé, suý, thuỷ...”

Quy tắc 5. những chữ kết thúc bằng hai hay ba nguyên âm “khác với oa, oe, uy, thì dấu thanh được đặt vào nguyên âm áp chót. Vd: bài, bảy, chĩa, chịu, của, đào hào, giúi, hoại, mía, ngoáy, ngoáo, quạu, quẹo, ngoẻo, chịu, chĩa...”

Ngoài qui tắc số 4 thì bốn qui tắc kia đưa đến kết quả giống hệt với cách bỏ dấu xưa nay của cha anh chúng ta trước khi những “người con ưu tú” bắt đầu “chỉ đạo văn hóa” của dân tộc. Tất cả những ai đã từng quen với chiếc máy đánh chữ hoặc đọc nhiều sách báo cũ đều thấy rằng sách báo hiện tại dưới sự chỉ đạo của “đỉnh cao trí tuệ” của Đảng có cách xếp chữ chẳng khác gì ngày trước. Vì sự xuất hiện của các vần oa, oe, uy rất hiếm nên thường không ai thấy có sự khác biệt. Vậy nên mới nói “mới mà không mới”.

Áp đặt võ đoán

Theo cách xếp chữ cũ (từ nay xin gọi là cách bỏ dấu truyền thống), thì dấu giọng sẽ bỏ trên mẫu-tự-nguyên-âm áp chót nếu vần kết thúc bằng hai mẫu tự nguyên âm trở lên. Nói “mẫu tự nguyên âm” là để kể cả “y” vào trong trường hợp này. Thế nên cách truyền thống viết “hóa, xòe, súy” chứ không phải cải cách thành “hoá, xoè, suý” như qui tắc số 4 của Vũ Xuân Lương.

giải thích cho sự “cải cách” này, tác giả Vũ Xuân Lương đã phải áp đặt qui luật dấu thanh phải được đặt trên nguyên âm mà không giải thích tại sao lại cần phải như vậy. (Mặc dù chưa bao giờ có ai đặt dấu trên phụ âm tiếng Việt ngoại trừ khi viết tắt: “Ngã” hay “ngø” thay cho “Nguyễn, người” chẳng hạn. Hoặc có người khi viết tắt lại bỏ dấu vào khoảng không: Ng ã hay ng ø chẳng hạn.) Tuy không minh thị xác định rằng mình đang áp dụng qui luật này, nhưng một khi tác giả chỉ dựa vào tính năng của mẫu tự nguyên âm (âm nguyên, âm bán-nguyên...) để phân tích và lý luận, người đọc ắt nhận ra cái qui luật trên là chủ đạo cho lập luận của tác giả.

Trong thực tế phát âm, khi gặp một chữ (hay còn gọi là “tiếng”, hay “âm tiết” như Vũ Xuân Lương dùng) có phụ âm cuối thì thanh điệu (biểu thị bằng dấu thanh) bao trùm cả phần phụ âm này, tức là thanh điệu bao trùm toàn thể một vần. Có thể thẩm định điều này bằng cách đọc to vài chữ sau: “uống, bình, ủng, liễn, đoạn”. Vậy dấu thanh vẫn có thể đặt vào phụ âm cuối chứ. Dấu-thanh-phải-đặt-trên-nguyên-âm chẳng qua chỉ là một qui ước xưa nay chứ chưa bao giờ là qui luật tự nhiên cả. (Chính Cao Xuân Hạo cũng đã nói như vậy trong bài viết của mình.) Và rõ nhất là khi ráp vần để tập đọc, chúng ta luôn dạy học trò bỏ dấu sau cùng: “Lờ ư lư ơ lưa ngờ Lương huyền Lường”, chứ đâu có ai ráp “Lờ ư lư ơ lưa huyền lừa ngờ Lường” đâu.

Nhưng vì “dấu phải được đặt trên nguyên âm” nên xuất hiện vấn đề khi gặp chữ có hai nguyên âm trở lên thì đánh dấu ở đâu. Để giải quyết, tác giả phải vận dụng tới khái niệm “bán nguyên âm” là khái niệm khá quen thuộc đối với những người đã từng học ngoại ngữ. Do có vẻ quen thuộc nên họ dễ chấp nhận. Nhưng đây cũng là một khái niệm mơ hồ đối với họ vì mấy ai khi học ngoại ngữ lại định nghĩa được rõ ràng “bán nguyên âm” là gì. Rồi lại xuất hiện thuật ngữ “bán phụ âm”. Quả thực nghe cũng có vẻ quen thuộc vì đã có bán nguyên âm thì phải có bán phụ âm chứ. Và một khi gặp đám hỏa mù thuật ngữ như vậy, những “kẻ ngoại đạo” đối với lãnh vực ngữ âm đành có cảm giác bị khuất phục.

Các nhận định về ngữ âm chỉ dựa trên mặt chữ.

Tính năng của hai mẫu tự đồng âm “i” và “y” khi đi sau nguyên âm được tác giả của qui tắc giải thích: “Với chữ I, cũng tương tự, nó vừa dùng để viết nguyên âm i (im ỉm, in ít...), vừa dùng để viết bán phụ âm i đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như: tai tái, cày cấy, táy máy...”

Rõ ràng vì tác giả không muốn đặt dấu trên mẫu tự “i” hay “y” ở cuối nên phải đặt cho chúng cái chức năng làm “bán phụ âm” bất chấp những mẫu tự này vang lên rõ thế nào khi được phát âm. Nếu tác giả chịu khó ngồi phát âm các chữ trong ví dụ của chính mình thì chắc tác giả cũng thấy âm |i| của mẫu tự “y” trong chữ “táy máy” ngân vang rất rõ ràng sau một âm [a] cụt ngủn. Nếu tác giả gọi chữ “a” trong trường hợp này là “bán nguyên âm” thì may ra còn chấp nhận được. Nhưng gọi “y” là “bán phụ âm” thì đúng là tác giả chưa hề nghe ai nói hay đọc hai chữ “táy máy”.

Trường hợp “tai tái” thì mặc dù âm |i| phát ra không rõ ràng như âm [a] đi trước nó nhưng |i| này cũng không đến nỗi cụt mà gọi nó là bán âm này kia. Thực ra cặp “ai” là một nguyên âm ghép (còn gọi là “nhị trùng âm”). Một âm nguyên được phát ra rõ ràng mà lại gọi là “bán phụ âm” thì rõ ràng tác giả chỉ nhìn mặt chữ mà xác định tính năng của từng mẫu tự mà thôi.

Tương tự là sự lầm lẫn về chữ “o” hay “u” ở cuối chữ. Tác giả nói: “Khi dùng O và U để viết w đóng vai trò là âm cuối trong các trường hợp như đào hào, báo cáo, táo, đau, rau câu... thì gọi là bán phụ âm.” Câu của tác giả hơi tối nghĩa, xin mạn phép “dịch” lại như sau: “Khi mẫu tự “o” hoặc “u” được dùng để viết âm [w] ở cuối âm tiết như trong các trường hợp “đào hào, báo cáo, đau, rau câu...” thì được gọi là các bán phụ âm.”

Điều đáng khen là tác giả đã nhận ra rằng tuy “o” và “u” được viết hai kiểu khác nhau nhưng lại được phát âm giống nhau là [w] tuy điều này chưa đúng hẳn. Nhưng vẫn không thể bảo rằng tác giả đã nghe kỹ những tiếng trong ví dụ của mình: Vì chúng chỉ khá giống nhau thôi. Âm cuối của “đào” quả thực nửa [o] nửa |u| nên có thể tạm chấp nhận là “bán nguyên âm” -- vì ở cuối nên tác giả gọi là “bán phụ âm”? -- nhưng mẫu tự “u” của “đau” thì vang rõ ràng âm |u|, chỉ có âm [a] phía trước là cụt ngủn giống trường hợp a cụt của “táy máy” ở trên. Gọi “u” này là bán phụ âm thì cũng sai như trường hợp “y” cuối của “táy máy”.

Nói thêm cho rõ

Nếu để ý ai cũng thấy ngay “ă” chẳng qua chỉ là [a] ngắn, “â” chẳng qua chỉ là [ơ] ngắn. Trong ký âm ngôn ngữ, không có một ký hiệu riêng và cụ thể để diễn tả âm ngắn,5 thế nên những người tặng dân tộc ta chữ quốc ngữ đã phải dùng tới dấu trăng cho chữ ă để chỉ âm ngắn của [a]; và đặt dấu mũ trên đầu “a” thành “â” làm âm ngắn của [ơ], không lẽ đặt dấu trăng lên đầu “ơ” để tạo thành một “cục dấu” như vầy: “ôê”.

Nếu để ý tiếp thì cũng thấy ngay rằng “i”“y” đều mang âm nguyên |i|; và rằng “y” làm nguyên âm trước nó ngắn lại, còn “i” thì không. Thế nên “táy máy” chẳng qua chỉ là “tắi mắi” mà thôi. Đã gọi “ă” là nguyên âm thì phải gọi “ăi” là nguyên âm đôi, và âm |i| cuối là nguyên âm, không có bán phụ âm, bán nguyên âm gì ở đây hết.

Trường hợp của “uy” cũng thế. Vì “u” bị “y” làm ngắn lại nên đọc giống bán nguyên âm [w]. Nếu dùng dấu trăng để làm ngắn một âm, có thể viết “tuy” thành “tuêi”. Và “y” cuối vẫn vẫn ngân vang rõ ràng do đó nó phải là âm nguyên |i|.

“U” đi sau cũng làm “a” ngắn lại. Nếu không vậy, “đau” sẽ được phát âm rất giống “đao”. Vậy “đau” được phát âm là “đău”, và “u” ở đây vẫn là nguyên âm vì vang rất rõ ràng.

Riêng “tây” thì đúng ra chỉ cần viết “tâi” là được, vẫn đủ phân biệt với “tơi” mà không cần đến “y”. Thế nhưng “thói quen là chủ nhân ông của ngôn ngữ” -- lời giáo sư Lê Ngọc Trụ trong “Việt Nam Chính Tả Tự Vị” in năm 1957 --, không cần phải sửa “tây” thành “tơy” hoặc thành “tâi” làm gì để rồi lại phải rắc rối với những cuốn sách in trước “cải cách hiện đại” này. Và cũng không cần tới khái niệm “bán phụ âm” ở đây. “Y” trong trường hợp này vẫn là âm nguyên |i|.

Nói đến “cải cách hiện đại”, cần rút kinh nghiệm người Trung Hoa: dân chúng đã không tỉnh táo khi Mao cho sửa lại chữ viết của họ, bảo là để giản tiện hơn khi viết.6 Thoạt đầu thì “đại thành công” vì con nít học kiểu chữ mới rất nhanh, tưởng rằng xóa mù chữ cả nước đến nơi. Nhưng cho đến khoảng những năm '90 thì có chuyện cười ra nước mắt:

Số là có một giáo sư Hán học người Việt nọ được đi du lịch Trung Quốc. Vì là du lịch rẻ tiền nên ông được đưa đi thăm thú ở làng quê Trung Hoa nhiều hơn là ở thành thị. Thế là ông giáo sư này gặp may. Sau gần nửa thế kỷ dùng chữ mới, những người đọc được chữ cũ càng ngày càng ít đi, ở thôn quê lại càng thậm tệ vì các nông dân vốn đã mù chữ từ trước, chỉ còn đám trẻ được đi học nhưng lại học chữ mới. Cha hỏi con rồi con hỏi cha mỗi khi họ giở các cuốn gia phả hoặc giấy tờ kinh sách cũ của các đình chùa miếu mạo ra xem mà chả hiểu gì mấy.

Thấy ông giáo sư người Việt ung dung đứng trước cổng một ngôi chùa, thưởng thức ngâm nga các câu đối, các bài thơ khắc trên tường trên cột đã rêu phong mốc thếch, họ như bắt được vàng nghĩ ngay đến chuyện nhờ ông ta giải thích hộ những chữ quái gở trong gia phả hay ngay trong nhà họ. Thế là tranh nhau, những người Trung Hoa ấy mời ông Việt Nam về nhà, về chùa, đãi đằng đủ thứ, dọn chỗ cho ở, cung cấp người hầu hạ, để ông ngoại quốc này được tự nhiên và thân thiện đọc giùm họ chữ của họ và ghi lại bằng thứ chữ “cải cách” để họ giữ gìn. Chả hiểu ông giáo sư nọ ở lại ngôi làng đó bao lâu và giúp được bao nhiêu người có gia phả ở thôn đó. Chỉ biết là một khi văn hóa bị “lãnh đạo” thì hậu quả của nó không xảy ra ngay đâu, nhưng đã xảy ra rồi thì tai hại khôn lường. Còn những kẻ lãnh đạo Trung Hoa hiện nay thì không tội gì vạch áo cho người xem lưng, thế giới sẽ chẳng bao giờ biết văn hóa và văn minh xứ này đã đi lạc đến đâu.

Sai lầm khi gọi “o, u” trong “oa, oe, uy” là bán nguyên âm

Ai có biết về hệ thống phiên âm quốc tế đều thấy đúng là “hoa” được phát âm là [hwa]. Và một học sinh lớp 6 cũng nhận ra ngay trong trường hợp này “o” = [w]. Vũ Xuân Lương cũng nhận ra điều này và mau mắn đem áp dụng thành qui tắc. Nhưng tất cả mọi người Việt Nam (trừ hai ông tổ ngữ âm Vũ Xuân Lương và Hoàng Phê) đều biết “oa” không hề được phát âm là [wa] mà vẫn cứ phải là [Ca]:7 âm [C] được phát rất cứng trong chữ này.

Cũng không ai nói “ủy ban” là [wỉ ban]. Nếu không thì người Nam Bộ đã viết thành “quỉ ban” rồi. Thế nên một người Việt Nam dù giỏi tiếng Anh đến đâu đi nữa thì cũng không bao giờ tưởng tượng được “Uyn-xơn” lại là tên một vị tổng thống Mỹ (Wilson), “phố Uôn” lại là Wall-Street. Khi đọc báo thấy những chữ “thủ đô Oa-sinh-tơn” thì ai cũng cười tủm; và khi xướng ngôn viên đài truyền hình VTV1 đọc rất rõ “Oa-xinh-tơn” (âm [C] của cô rất cứng và âm |s| thì trong vắt đến độ phải viết là “x”) thì nhiều người đã phải bụm miệng chửi thề. Còn dân mê bóng đá thì phải tập làm quen với chữ “Uôn cắp” nhan nhản trên mặt báo và ra rả trên ti vi mỗi 4 năm một lần, rồi dĩ nhiên sẽ rất nhiều người (như Vũ Xuân Lương) sẽ suy ngược ra rằng “U” và “O” chính là “W”!!!

Theo Vũ Xuân Lương, không được đánh dấu thanh trên chữ “o” trong “oa” vì nó không phải là nguyên âm. Bây giờ đã rõ nó là nguyên âm thì dấu huyền trong chữ “òa” sẽ được đặt ở đâu?

Vì cố gắng đưa ra qui tắc đặt dấu thanh dựa trên các nguyên tắc ngữ âm và muốn các qui tắc của mình mang tính nhất quán để giải thich mọi trường hợp nên Vũ Xuân Lương đã có những lúng túng và nhận định sai lạc trên. Thực ra chữ Việt là một hệ thống ký hiệu phiên âm. Các chữ, dấu âm và dấu giọng cũng làm nhiệm vụ giống với các ký hiệu trong ký âm pháp âm nhạc: hình dáng thế nào, đặt ở đâu, để ghi hiệu quả gì là hoàn toàn do qui ước cả. Mà đã là qui ước thì điều quan trọng nhất là sự phân biệt không gây lẫn lộn và kế tiếp là cần phải đơn giản và/hoặc mang tính trực quan để dễ sử dụng, ngoài ra đôi khi phải chấp nhận một vài ngoại lệ hoặc vô lý. Lấy thí dụ, xét về mặt nhạc lý, khoảng cách cao độ từ Rê lên Mi là một cung, viết trên dòng kẻ nhạc thì nốt Mi nằm trên nốt Rê một nấc. Nhưng Fa cao hơn Mi chỉ có nửa cung thôi mà tại sao lại viết nốt Fa nằm trên nốt Mi cũng một nấc chứ không phải nửa nấc?

Hóa ra nếu áp dụng nhạc lý vào ký âm pháp thì đôi khi không đúng. Tương tự, áp dụng cứng ngắc nguyên tắc ngữ âm vào chữ viết thì cũng có khi không được. Ngữ âm học là một môn khoa học liên quan tới hình thức phát âm nhưng chính tả lại thuộc lãnh vực xã hội và chỉ là các qui ước, phần nhiều dựa trên thói quen của người sử dụng. Nhưng vì chính tả lại ảnh hưởng ngược đến cách phát âm của người dùng nó nên các qui ước đưa ra phải chặt chẽ và hợp lý trong chừng mực nào đó để mọi người có thể chấp nhận.

Vì thế cho đến nay mặc dầu đa số người Hà Nội nói “Em giất xung xưởng được chân chọng mời bác vào nhà xơi chẻn giệu” cũng không thể cứ thế mà viết ra để rồi hợp thức hóa luôn cái giọng nhà quê đó làm giọng chuẩn của “thủ đô ngàn năm văn vật”.

Những nhược điểm trong nhận định của VXL lồ lộ ra đấy mà Hoàng Phê không thấy thì hai chữ “giáo sư” ở phần tước hiệu của ông nên được để vào trong ngoặc kép là vì vậy.

Điều lạ lùng là kết quả việc suy luận của tác giả Vũ Xuân Lương lại là bốn qui tắc giống y hệt với chính tả truyền thống. Nhưng may mắn này lại không xảy ra với qui tắc còn lại cho trường hợp “oa, oe, uy”. Và để tạm kết thúc, thiết tưởng các qui tắc chính tả truyền thống về cách đặt dấu giọng nên được ghi lại nhằm chứng minh tính đơn giản và rõ ràng của cha ông ta.

Ưu tiên 1: dấu âm (dấu trăng: ă, dấu mũ: â, ê, ô, và râu: ơ, ư) và dấu giọng luôn đi chung: thuở, trời, đất, nổi, nhiều, thửa, thấy, thuốc, gửi, oằn, tuổi, tội, tuyết; Nếu có hai mẫu tự mang dấu âm (ươ) thì dấu giọng đi với mẫu tự sau (ơ): người, lượt, cưỡi, tưởng...

Ưu tiên 2: vần có phụ âm cuối thì dấu đi với nguyên âm cuối: oán, loét, cát...

Ưu tiên 3: vần là nguyên âm ghép đôi hay ghép ba thì mang dấu giọng ở nguyên âm áp chót: ngoèo, hỏi, hóa, của, khuỷu, hoài, ngoáy, cái, áo, kéo, đỉa, xỉu, xòe, chúa, núi, tủy...

Chú ý: đương nhiên phụ-âm-ghép “qu”“gi” không mang dấu (vì chúng là... phụ âm), dấu đặt bình thường theo các ưu tiên trên:

quả, què, quì, quý, quẹo, quái, quào, quở, quới, quyệt...

giả, gié, gió, giặt giũ.

Nhưng khi “g” đi trước “i” nguyên âm hoặc trước nguyên-âm-ghép với “i” (khi này “g” có cùng cách phát âm với “gi”) thì theo các ưu tiên trên:

gì, gỉ sét, giết (không đọc là dết), giặt gịa khác với giạ lúa, không cần sửa thành “giặt dịa”, cũng như không cần sửa “giấu giếm” thành “giấu diếm”.8

Qui tắc đặt dấu giọng của tiền nhân không hề lấy yếu tố thẩm mỹ làm nguyên tắc chủ đạo (như những người làm tin học vẫn tưởng và áp đặt cái tên “kiểu thẩm mỹ” cho nó) mà chỉ cốt làm sao cho thật đơn giản và dễ nhớ. Quả thật nó rất thống nhất nên không cần phải vận dụng trí óc nhiều mỗi khi đánh máy, không phải phân vân xem dấu nên đặt ở đâu. Thế nhưng nay thì phải phân vân rồi, không những phân vân, còn phải tranh luận xem nó phải được đặt ở đâu nữa.

Qui tắc đặt dấu giọng của tiền nhân không hề lấy yếu tố thẩm mỹ làm nguyên tắc chủ đạo (như những người làm tin học vẫn tưởng và áp đặt cái tên “kiểu thẩm mỹ” cho nó) mà chỉ cốt làm sao cho thật đơn giản và dễ nhớ. Quả thật nó rất thống nhất nên không cần phải động não nhiều mỗi khi đánh máy, không phải phân vân xem dấu nên đặt ở đâu. Thế nhưng nay thì phải phân vân rồi, không những phân vân, còn phải tranh luận xem nó phải được đặt ở đâu nữa.

Các vấn đề “cải cách” về dấu, về hình dáng của chữ,9 của những người làm văn hóa ở Việt Nam ngày càng chứng tỏ họ chỉ là những kẻ duy ý chí mà lại cứ hay đưa ra các lý luận có vẻ khoa học, có vẻ “lô-gích” (hợp lý) để biện giải cho sự phá hoại của mình. Họ thay đổi không chỉ vì họ muốn thay đổi, nguyên nhân sâu xa của cái ý muốn thay đổi mọi thứ của họ chẳng qua chỉ là sự kiêu ngạo, muốn được xã hội vinh danh là những người có những cải tạo lớn lao cho văn hóa nước nhà.

Hồng Đức
30/10/07


1 http://vietlex.com/lib/compuLinguistics/quytacbodau.htm
2 Tìm thấy trên trang web Mạng Giáo Dục của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Việt Nam (http://diendan.edu.net.vn/forums/thread/276086.aspx) nhưng khởi thủy là đăng trên trang web của Talawas: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7657&rb=06
3 Bài “Bàn về chuyện "đánh dấu thanh" trong tiếng Việt” cũng tại Talawas: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=94&rb=07
4 Địa chỉ: Số 2 Ngõ Hàng Bún, Hà Nội.
5 Nhà xuất bản Webster đã có cách phiên-âm âm-ngắn bằng một ký tự nhỏ hơn, và nằm cao hơn các ký tự thường khác. Ví dụ chữ “but” được phiên là [bEt], đọc khác với [bEs] của “bus”. Nhưng một ký tự nhỏ xíu như thế thì không phù hợp để dùng trong chữ viết.
6 Đặt tên kiểu ký tự mới này là “giản thể” đối lại với kiểu cũ gọi là “phồn thể”.
7 Ký hiệu C ngược dùng để phiên âm o.
8 Nhưng để ghi chữ có âm là [zết] trong [túi zết], cần phụ âm đầu là “gi” và viết “giết” thì lại đọc là [ziết] mất, đành phải ghi là “dết”, hỏng mất phụ âm đầu. Đây là một nhược điểm thường có trong bất kỳ bộ môn xã hội nào. (revised on Nov 6th ’07)
9 Cuộc cải cách về hình dạng chữ viết tay đã từng là một “thành công, thành công, đại thành... gà bới” ở Việt Nam, ai đã từng làm nghề giáo trong nước vào thập niên 80 đều có thể làm chứng điều này. Chỉ tội nghiệp, đa số thanh niên độ tuổi 30 bây giờ không dám viết thư tay gửi người yêu.



 

***

 





Cách bỏ dấu, hay đánh dấu thanh của dấu giọng trong tiếng Việt

Bỏ dấu theo cách truyền thống, thì dấu giọng được bỏ trên mẫu tự nguyên âm áp chót nếu vần kết thúc bằng hai mẫu tự nguyên âm trở lên, kể cả “y” với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy.”
Đánh dấu theo truyền thống viết:
.......................................
ha, hòa, hóa, ha, hòe, hy, ty, ly, thùy, thúy, thy, thúi, thi,

.......................................
Sau 1975, Tiếng Việt bị Việt cộng đem ra làm "cải cách tiếng Việt" sửa đổi như sau:
Quy tắc 4. Với những chữ “kết thúc bằng oa, oe, uy, dấu thanh đặt vào chữ nguyên âm chót.
Ví dụ: Cải cách tiếng Việt của Việt cộng sau 1975 viết:
ho, hoè, hu, loà xoà, loé, suý, thu

Sau một thời gian,
Cuộc cải cách tiếng Việt của mấy trự Việt cộng là một “thành công, thành công, đại thành... gà bới”

Nay người ta có khuynh hướng trở lại bỏ dấu theo cách truyền thống là:
.......................................
ha, hòa, hóa, ha, hòe, hy, ty, ly, thùy, thúy, thy, thúi, thi, khóa (niên) khy, thóa (mạ) lòa xòa, lòe, xòe, lóe, súy, tùy, hy, lũy, y, úy.
.......................................



..........................................................


Xem cách bỏ dấu trước 1975 các chữ trên những bức hình tem thư

Mừng Tuổi
Việt Nam Cộng Hòa
hòa --- hòa,
bỏ dấu trên mẫu tự nguyên âm áp chót


Đốt pháo
Việt Nam Cộng Hòa
hòa --- hòa,
bỏ trên mẫu tự nguyên âm áp chót


Múa lân
Việt Nam Cộng Hòa
hòa --- hòa,
bỏ dấu trên mẫu tự nguyên âm áp chót


Cờ hiệu
Thủy Quân Lục Chiến
thủy --- thy,
bỏ dấu trên mẫu tự nguyên âm áp chót

 

*************************************

 

Đọc thêm:

Nỗi Buồn Tiếng Việt Thời Cộng Sản
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/noi-buon-tieng-viet-thoi-cs12082015vi.html

 

Chữ Nghĩa Việt Cộng
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/chu-nghia-viet-cong.html

 

Tiếng Việt và Tiếng Vẹm
https://caybut2.blogspot.com/2016/11/tieng-viet-va-tieng-vem-tieng-viet-va.html

 

Từ và Chữ
https://vuonlenmai.blogspot.com/2021/01/tu-va-chu-tran-c.html

 

◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙ — ◙

 



►► Bỏ Dấu Tiếng Việt -- Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2021/01/bo-dau-tieng-viet-truoc-va-sau-1975.html


►► Âm và Chữ --- Trong Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/am-va-chu-trong-tieng-viet-truoc-va-sau.html




►► Tên Mẫu Tự - Tiếng Việt (Trước và Sau 1975)
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/04/tieng-viet-ten-mau-tu-xin-ke-hau-qui-vi.html
>

►► Đánh Vần Tiếng Việt - Trước và sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2019/06/tieng-viet-vo-long-anh-van-aug-8-09.html


►► I và Y / i Ngắn và y Dài - Trước và Sau 1975
https://vuonlenmai.blogspot.com/2020/06/tieng-viet-i-va-y-hong-uc-ngay-sau-ngay.html